Vì một nền tự do mới - Chương 2: Sở hữu và trao đổi
Tiên đề không xâm lược
Tín điều của chủ nghĩa tự do cá nhân được xây dựng trên một tiên đề cốt lõi: không một cá nhân hay một nhóm người nào được phép gây hấn với thân thể hay tài sản của người khác. Đây được gọi là “tiên đề không xâm lược”. “Xâm lược” được định nghĩa là việc khởi xướng sử dụng, hoặc đe dọa sử dụng, bạo lực đối với thân thể hay tài sản của bất kỳ ai khác. Vì vậy, “gây hấn” đồng nghĩa với “xâm lược”.
Nếu không ai được phép xâm lược người khác; nói cách khác, nếu mọi người đều có quyền tuyệt đối được “tự do” khỏi mọi hành vi xâm lược, thì điều đó đồng nghĩa với việc người theo chủ nghĩa tự do cá nhân kiên định ủng hộ những gì thường được gọi là “các quyền tự do dân sự”: tự do ngôn luận, xuất bản, hội họp, và tham gia vào những “hành vi không gây hại cho ai” như khiêu dâm, lệch lạc tình dục, hay mại dâm (mà người theo chủ nghĩa tự do cá nhân không hề coi là “tội ác”, bởi họ định nghĩa “tội ác” là hành vi xâm phạm bằng bạo lực đối với thân thể hoặc tài sản của người khác). Hơn nữa, người theo chủ nghĩa tự do cá nhân coi chế độ nghĩa vụ quân sự như một hình thức nô lệ trên quy mô lớn. Và bởi vì chiến tranh—đặc biệt là chiến tranh hiện đại—kéo theo sự tàn sát hàng loạt dân thường, nên họ coi những cuộc xung đột như vậy là giết người hàng loạt và do đó hoàn toàn bất hợp pháp.
Trên thang đo tư tưởng đương đại, tất cả những quan điểm này hiện nay đều được coi là “tả khuynh”. Mặt khác, vì người theo chủ nghĩa tự do cá nhân cũng phản đối việc xâm phạm quyền sở hữu tư nhân, điều đó cũng có nghĩa là họ kiên quyết chống lại sự can thiệp của chính phủ vào quyền sở hữu hay nền kinh tế thị trường tự do thông qua các biện pháp kiểm soát, quy định, trợ cấp hoặc cấm đoán. Bởi nếu mỗi cá nhân đều có quyền đối với tài sản của mình mà không bị cướp bóc mang tính xâm lược, thì họ cũng có quyền cho đi tài sản của mình (di chúc và thừa kế) và trao đổi để lấy tài sản của người khác (hợp đồng tự do và nền kinh tế thị trường tự do) mà không bị can thiệp. Người theo chủ nghĩa tự do cá nhân ủng hộ quyền sở hữu tư nhân và trao đổi tự do không giới hạn; do đó, ủng hộ hệ thống “chủ nghĩa tư bản tự do kinh doanh”.
Theo cách gọi hiện nay, lập trường của người theo chủ nghĩa tự do cá nhân về tài sản và kinh tế thường bị dán nhãn là “cực hữu”. Nhưng người theo chủ nghĩa tự do cá nhân không hề thấy mâu thuẫn khi bị coi là “tả khuynh” trong một số vấn đề và “hữu khuynh” trong những vấn đề khác. Trái lại, họ coi lập trường của mình gần như là quan điểm duy nhất thực sự nhất quán, nhất quán trong việc bênh vực tự do của mỗi cá nhân. Bởi làm sao một người cánh tả có thể phản đối bạo lực của chiến tranh và nghĩa vụ quân sự, nhưng cùng lúc lại ủng hộ bạo lực dưới hình thức thuế khóa và các biện pháp kiểm soát của chính phủ? Và làm sao một người cánh hữu có thể rêu rao về sự tận tâm đối với quyền sở hữu tư nhân và doanh nghiệp tự do, nhưng lại đồng thời ủng hộ chiến tranh, nghĩa vụ quân sự, và cấm đoán những hoạt động, thực hành phi xâm lược mà họ cho là vô đạo đức? Và làm sao người hữu khuynh có thể ca ngợi thị trường tự do trong khi chẳng thấy vấn đề gì với những khoản trợ cấp khổng lồ, những méo mó và sự kém hiệu quả vô ích trong toàn bộ tổ hợp công nghiệp–quân sự?
Trong khi phản đối mọi hành vi xâm lược của cá nhân hay tập thể nhằm vào quyền con người và quyền sở hữu, người theo chủ nghĩa tự do cá nhân nhận thấy rằng, xuyên suốt chiều dài lịch sử cho đến tận ngày nay, luôn có một kẻ xâm lược trung tâm, thống trị và áp đảo tất cả những quyền ấy: đó là Nhà nước. Trái ngược với mọi nhà tư tưởng khác – dù thuộc cánh tả, cánh hữu hay trung dung – người theo chủ nghĩa tự do cá nhân từ chối trao cho Nhà nước sự chính danh về mặt đạo đức để thực hiện những hành vi mà hầu như ai cũng công nhận là vô đạo đức, bất hợp pháp và tội ác nếu do một cá nhân hay một nhóm người nào khác gây ra. Tóm lại, người theo chủ nghĩa tự do cá nhân kiên quyết áp dụng luật đạo đức phổ quát cho tất cả mọi người, không dành bất kỳ ngoại lệ đặc biệt nào cho bất kỳ cá nhân hay tập thể nào. Thế nhưng, khi nhìn thẳng vào bản chất trần trụi của Nhà nước, ta thấy rằng nó được cho phép – thậm chí được khuyến khích – thực hiện tất cả những hành vi mà ngay cả những người không theo chủ nghĩa tự do cá nhân cũng phải thừa nhận là tội ác đáng lên án. Nhà nước thường xuyên gây ra những cuộc thảm sát, mà họ gọi là “chiến tranh” hoặc đôi khi là “đàn áp phản loạn”; Nhà nước cưỡng bức nô dịch trong quân đội, mà họ gọi là “nghĩa vụ quân sự”; và Nhà nước tồn tại nhờ hành vi cướp bóc, mà họ gọi là “thuế khóa”. Người theo chủ nghĩa tự do cá nhân khẳng định rằng, việc những hành vi ấy có được đa số dân chúng ủng hộ hay không hoàn toàn không làm thay đổi bản chất của chúng: bất kể quần chúng có tán thành hay không, thì Chiến tranh vẫn là Giết người Hàng loạt, Nghĩa vụ quân sự vẫn là Nô lệ, và Thuế khóa vẫn là Cướp bóc. Tóm lại, người theo chủ nghĩa tự do cá nhân chẳng khác nào đứa trẻ trong câu chuyện ngụ ngôn, kiên quyết chỉ ra rằng hoàng đế hoàn toàn không mặc quần áo.
Qua nhiều thời đại, hoàng đế đã được tầng lớp trí thức của quốc gia dệt cho những “tấm áo choàng” giả tạo. Trong các thế kỷ trước, họ từng nói với công chúng rằng Nhà nước hay nhà cầm quyền là Thiên tử, hoặc ít nhất cũng được khoác lên quyền lực thiêng liêng, và vì thế, những gì con mắt ngây thơ cho là chuyên chế, giết người hàng loạt hay cướp bóc trên quy mô lớn thì kỳ thực chỉ là Thượng đế đang vận hành theo cách nhân từ và huyền nhiệm trong cơ thể chính trị. Trong những thập kỷ gần đây, khi tấm áo thần quyền trở nên sờn cũ, thì “giới trí thức triều đình” lại thêu dệt những luận điệu tinh vi hơn: họ nói với công chúng rằng những gì chính phủ làm đều là vì “lợi ích chung”, “phúc lợi công cộng”; rằng quá trình đánh thuế – chi tiêu vận hành nhờ cơ chế huyền bí gọi là “hiệu ứng số nhân[1]”, giúp giữ cho nền kinh tế ổn định; và rằng, trong mọi trường hợp, công dân hành động tự nguyện trong thị trường hay trong xã hội sẽ không bao giờ có thể thực hiện được những “dịch vụ” mà chính phủ đang đảm nhận. Tất cả những điều đó, người theo chủ nghĩa tự do cá nhân bác bỏ: họ coi đó chỉ là những ngụy biện nhằm giành lấy sự ủng hộ của quần chúng cho quyền lực của Nhà nước, và khẳng định rằng bất kỳ dịch vụ nào mà chính phủ thực hiện, đều có thể được cung ứng vừa hiệu quả hơn, vừa hợp đạo đức hơn, bởi những sáng kiến tư nhân hay hợp tác tự nguyện.
Do đó, người theo chủ nghĩa tự do cá nhân cho rằng một trong những nhiệm vụ giáo dục hàng đầu của mình là truyền bá việc phi thần bí hóa và phi thánh hóa Nhà nước đến những thần dân khốn khổ. Nhiệm vụ của họ là thường xuyên chứng minh và lặp đi lặp lại rằng không chỉ hoàng đế mà ngay cả Nhà nước “dân chủ” cũng hoàn toàn trần trụi, rằng tất cả các chính phủ đều tồn tại nhờ sự cai trị bóc lột đối với công chúng; và sự cai trị đó là trái ngược với nhu cầu khách quan. Họ nỗ lực chỉ ra rằng chính sự tồn tại của thuế và Nhà nước nhất thiết tạo ra sự phân chia giai cấp giữa những kẻ thống trị bóc lột và những người bị trị bị bóc lột. Họ tìm cách chỉ ra rằng nhiệm vụ của những trí thức triều đình, những người luôn ủng hộ Nhà nước luôn là thêu dệt nên sự huyền bí để thuyết phục công chúng chấp nhận sự cai trị của Nhà nước, và rằng những trí thức này, đổi lại, được hưởng một phần quyền lực và của cải mà những kẻ thống trị nặn bóp được từ những thần dân bị lừa dối của họ.
Xin lấy ví dụ, thiết chế thuế, mà những người theo chủ nghĩa nhà nước cho rằng theo một nghĩa nào đó thực sự là “tự nguyện”. Nếu những người nào thực sự tin vào bản chất “tự nguyện” của thuế đều được mời từ chối đóng thuế và xem điều gì sẽ xảy ra với mình. Nếu phân tích thuế, chúng ta thấy rằng, trong số tất cả các cá nhân và tổ chức trong xã hội, chỉ có chính phủ mới có được nguồn thu thông qua bạo lực cưỡng chế. Mọi người khác trong xã hội đều có thu nhập thông qua quà tặng tự nguyện (nhà nghỉ, hội từ thiện, câu lạc bộ cờ vua) hoặc thông qua việc bán hàng hóa hoặc dịch vụ do người tiêu dùng tự nguyện mua. Nếu bất kỳ người nào khác ngoài chính phủ tiến hành “đánh thuế”, thì rõ ràng là sẽ bị coi là hành vi cưỡng bức và cướp bóc trá hình. Tuy nhiên, vẻ ngoài huyền bí của “chủ quyền” đã che giấu quá trình này đến mức chỉ những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân mới sẵn sàng gọi thuế theo đúng bản chất của nó: trộm cắp được hợp pháp hóa và có tổ chức trên quy mô lớn.
Quyền sở hữu
Nếu tiên đề cốt lõi của tín điều tự do cá nhân là không xâm phạm đến con người và tài sản của bất kỳ ai, thì tiên đề này được hình thành như thế nào? Nền tảng hay sự hỗ trợ của nó là gì? Ở đây, những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân, trong quá khứ và hiện nay, khác nhau đáng kể. Đại khái, có ba loại nền tảng chính cho tiên đề tự do, tương ứng với ba loại triết học đạo đức: chủ nghĩa cảm xúc, chủ nghĩa công lợi, và quan điểm về quyền tự nhiên. Những người theo chủ nghĩa cảm xúc khẳng định rằng họ lấy tự do hoặc không xâm lược làm tiền đề của mình hoàn toàn dựa trên những cơ sở chủ quan, mang tính cảm xúc. Mặc dù cảm xúc mãnh liệt của chính họ dường như là một cơ sở hợp lý cho triết lý chính trị của riêng họ, nhưng điều này khó có thể thuyết phục được bất kỳ ai khác. Bằng cách cuối cùng đưa mình ra khỏi lãnh địa của diễn ngôn lý trí, những người theo chủ nghĩa cảm xúc, do đó, chắc chắn là không thể thu được thành công.
Từ những nghiên cứu về hệ quả của tự do so với các hệ thống thay thế, những người theo phái công lợi khẳng định rằng tự do chắc chắn sẽ dẫn đến những mục tiêu được nhiều người chấp nhận hơn: hòa hợp, hòa bình, thịnh vượng, v.v. Giờ đây, không ai phủ nhận rằng cần nghiên cứu các hệ quả tương đối khi đánh giá ưu điểm hay nhược điểm của những tín điều khác nhau. Nhưng có vô vàn vấn đề nếu chúng ta chỉ giới hạn trong đạo đức công lợi. Trước hết, học thuyết công lợi giả định rằng chúng ta có thể cân nhắc các lựa chọn và quyết định chính sách dựa trên hậu quả tốt hay xấu của chúng. Nhưng nếu việc áp dụng phán đoán giá trị vào hệ quả của X là hợp lý, thì tại sao việc áp dụng phán đoán ấy vào chính X lại không hợp lý? Chẳng lẽ bản thân một hành vi nào đó, ngay trong bản chất của nó, lại không thể được coi là thiện hay ác sao?
Một vấn đề khác của những người theo phái công lợi là họ hiếm khi chấp nhận một nguyên tắc như là thước đo tuyệt đối và nhất quán để áp dụng vào vô vàn tình huống cụ thể của thế giới thực. Trong trường hợp tốt nhất, họ chỉ xem nguyên tắc như một định hướng mơ hồ hay một khát vọng, như một khuynh hướng mà họ có thể tùy lúc viện dẫn, nhưng cũng có thể sẵn sàng gạt bỏ. Đây chính là khiếm khuyết lớn của những người Cấp tiến Anh thế kỷ XIX. Họ đã tiếp nhận quan điểm tự do kinh doanh của những người theo phái tự do thế kỷ XVIII, nhưng lại thay thế cái nền tảng được gọi là “huyền bí” của quyền tự nhiên bằng một chủ nghĩa công lợi được gán cho là “khoa học”. Kết quả là, những ủng hộ tự do kinh doanh thế kỷ XIX đã biến tự do kinh doanh thành một khuynh hướng mơ hồ thay vì một thước đo không tì vết, và từ đó ngày càng thỏa hiệp, làm tổn hại nghiêm trọng – thậm chí chí tử – đến tín điều của chủ nghĩa tự do cá nhân. Nói rằng một người theo phái công lợi không thể “đáng tin” trong việc duy trì nguyên tắc tự do cá nhân trong mọi ứng dụng cụ thể có thể nghe hơi khắc nghiệt, nhưng thực ra là công bằng. Một ví dụ điển hình trong thời hiện đại là Giáo sư Milton Friedman, nhà kinh tế học thị trường tự do. Cũng như các bậc tiền bối trong kinh tế học cổ điển, Friedman xem tự do – đối lập với sự can thiệp của Nhà nước – như một khuynh hướng chung. Nhưng trong thực tế, ông chấp nhận vô số ngoại lệ có hại, gần như làm triệt tiêu nguyên tắc này, đặc biệt trong các lĩnh vực: cảnh sát và quân sự, giáo dục, thuế khóa, phúc lợi, “ảnh hưởng ngoại biên”, luật chống độc quyền, cũng như tiền tệ và ngân hàng.
Xin xem xét ví dụ sau đây: giả sử có một xã hội hết sức tin rằng tất cả những người tóc đỏ đều là tay sai của Quỷ dữ và do đó phải bị hành quyết bất cứ khi nào bị phát hiện. Giả định thêm rằng trong mỗi thế hệ chỉ tồn tại một số rất ít người tóc đỏ – quá ít nên không có ý nghĩa về mặt thống kê. Người theo chủ nghĩa cá nhân-công lợi có thể lý luận rằng: “Dù việc giết hại lẻ tẻ những người tóc đỏ là đáng tiếc, nhưng số vụ hành quyết là quá ít; đại đa số công chúng – vốn không phải tóc đỏ – lại có được sự thỏa mãn tinh thần to lớn từ việc hành quyết công khai những người này. Chi phí xã hội là không đáng kể, trong khi lợi ích xã hội, lợi ích tinh thần cho phần còn lại của cộng đồng là rất lớn; do đó, xã hội hành quyết người tóc đỏ là đúng đắn và hợp lý.” Trái lại, người theo chủ nghĩa tự do cá nhân–quyền tự nhiên, vốn hết sức quan tâm đến tính chính nghĩa của hành động, sẽ kinh hoàng và kiên quyết phản đối những vụ hành quyết ấy, coi đó là hành vi giết người phi lý và xâm hại thô bạo đối với những con người hoàn toàn vô hại. Việc chấm dứt những vụ giết người – đồng nghĩa với việc tước đi khoái cảm tinh thần của phần lớn xã hội – sẽ không ảnh hưởng dù chỉ một chút tới quan điểm của người tự do cá nhân “tuyệt đối”. Gắn bó với công lý và nhất quán trong tư duy, người theo chủ nghĩa tự do cá nhân–quyền tự nhiên vui vẻ thừa nhận mình là kẻ “giáo điều”, hay nói cách khác, là người dấn thân không hề nao núng vào chính học thuyết mà mình theo đuổi.
Xin xem xét nền tảng quyền tự nhiên của tín điều tự do cá nhân — một nền tảng mà, dưới hình thức này hay hình thức khác, đã được hầu hết những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân, cả trong quá khứ lẫn hiện tại, chấp nhận. “Quyền tự nhiên” là hòn đá tảng của một triết lý chính trị, mà đến lượt nó, lại gắn chặt vào một cấu trúc lớn hơn gọi là “luật tự nhiên”. Lý thuyết luật tự nhiên dựa trên nhận thức rằng chúng ta đang sống trong một thế giới không chỉ có một, mà là vô số thực thể, và mỗi thực thể đều có những đặc tính riêng biệt, một “bản chất” riêng, có thể được lý trí, giác quan và các năng lực tinh thần của con người khám phá. Đồng có bản chất riêng và hành xử theo một cách nhất định, cũng như sắt, muối, v.v. Tương tự, loài người có một bản chất xác định, cũng như thế giới xung quanh và các phương thức tương tác giữa chúng. Nói một cách ngắn gọn, hoạt động của mỗi thực thể vô cơ hay hữu cơ đều do bản chất riêng của nó quyết định, cùng với bản chất của những thực thể khác mà nó tiếp xúc. Cụ thể, trong khi hành vi của cây cỏ và ít nhất là các loài động vật bậc thấp được quyết định bởi bản chất sinh học hoặc “bản năng” của chúng, thì bản chất của con người lại khác: để hành động, mỗi cá nhân buộc phải lựa chọn mục đích của riêng mình và sử dụng phương tiện của chính mình để đạt được mục đích. Vì không có những bản năng tự động, con người phải học hỏi về chính mình và thế giới, phải dùng trí tuệ để chọn lựa giá trị, nhận biết nhân quả, và hành động có mục đích để duy trì sự sống và thăng tiến đời mình. Vì con người chỉ có thể suy nghĩ, cảm nhận, đánh giá và hành động như những cá nhân, nên việc mỗi người được tự do học hỏi, lựa chọn, phát triển khả năng, và hành động dựa trên tri thức cùng giá trị của chính mình là điều vô cùng thiết yếu cho sự tồn tại và thịnh vượng. Đây là con đường tất yếu của bản chất con người. Bởi vậy, bất kỳ sự can thiệp nào nhằm bóp nghẹt quá trình ấy bằng bạo lực đều đi ngược lại những gì mà bản chất con người cần để sống và hưng thịnh. Can thiệp bạo lực vào việc học hỏi và chọn lựa của một người, do đó, là hoàn toàn “phi nhân tính”; nó vi phạm luật tự nhiên gắn liền với nhu cầu sống của con người.
Những người theo chủ nghĩa cá nhân từ lâu đã bị kẻ thù cáo buộc là “nguyên tử hóa” (atomistic) — tức cho rằng mỗi cá nhân sống trong một khoảng chân không tách biệt, suy nghĩ và chọn lựa mà không liên hệ gì đến những người khác trong xã hội. Nhưng đây chỉ là một “bù nhìn” độc đoán; thực tế, hầu như chẳng có ai theo chủ nghĩa cá nhân từng quan niệm như vậy. Ngược lại, rõ ràng là con người luôn học hỏi lẫn nhau, hợp tác và tương tác với nhau; và điều đó cũng thiết yếu cho sự tồn tại. Nhưng vấn đề cốt lõi là: mỗi cá nhân mới là người đưa ra quyết định cuối cùng — lựa chọn ảnh hưởng nào để tiếp nhận, ảnh hưởng nào để khước từ, hoặc ảnh hưởng nào cần đón nhận trước, ảnh hưởng nào sau. Người theo chủ nghĩa tự do cá nhân hoan nghênh tiến trình trao đổi và hợp tác tự nguyện giữa những cá nhân hành động tự do; nhưng điều họ kịch liệt phản đối chính là việc dùng bạo lực để phá vỡ sự hợp tác tự nguyện ấy, buộc ai đó phải lựa chọn và hành động trái ngược với điều mà chính tâm trí họ mách bảo.
Phương pháp khả thi nhất để khai triển tuyên ngôn về quyền tự nhiên trong lập trường tự do cá nhân là chia nó thành nhiều phần, và bắt đầu với tiên đề cơ bản về “quyền sở hữu chính mình”. Quyền sở hữu chính mình khẳng định quyền tuyệt đối của mỗi người, chỉ bởi vì họ là con người, được “sở hữu” thân thể của mình; nghĩa là, được quyền kiểm soát thân thể ấy mà không bị cưỡng bức hay can thiệp từ bên ngoài. Vì mỗi cá nhân phải suy nghĩ, học hỏi, định giá và lựa chọn mục đích cùng phương tiện của mình để tồn tại và phát triển, nên quyền sở hữu chính mình trao cho con người khả năng thực hiện những hoạt động thiết yếu ấy mà không bị cản trở bởi sự cưỡng ép.
Xin cùng xem xét hậu quả của việc phủ nhận quyền mỗi người được sở hữu chính bản thân mình. Khi đó, chỉ còn hai khả năng: (1) một giai cấp nhất định, gọi là A, có quyền sở hữu một giai cấp khác, gọi là B; hoặc (2) mọi người đều có quyền sở hữu phần chia ngang bằng của mình nơi tất cả những người khác. Lựa chọn thứ nhất ngụ ý rằng trong khi giai cấp A xứng đáng được hưởng các quyền làm người, thì giai cấp B trên thực tế bị xem là kém nhân tính, không xứng đáng có những quyền ấy. Nhưng bởi lẽ họ vẫn là con người, nên lựa chọn thứ nhất tự mâu thuẫn khi phủ nhận các quyền tự nhiên vốn có của một nhóm người. Hơn thế nữa, như chúng ta sẽ thấy, việc cho phép giai cấp A sở hữu giai cấp B đồng nghĩa với việc giai cấp A được quyền bóc lột, và do đó, sống ký sinh trên tổn thất của giai cấp B. Nhưng chính sự ký sinh này lại vi phạm đòi hỏi kinh tế cơ bản của sự sống: đó là sản xuất và trao đổi.
Lựa chọn thứ hai, cái mà ta có thể gọi là “chủ nghĩa cộng đồng tham dự” hay “chủ nghĩa cộng sản”, cho rằng mỗi người đều có quyền sở hữu phần chia ngang bằng nơi mọi người khác. Nếu có hai tỷ người trên thế giới, thì mỗi người sẽ có quyền sở hữu một phần hai tỷ nơi mỗi người khác. Trước hết, có thể thấy lý tưởng này dựa trên một nghịch lý: tuyên bố rằng mỗi người đều có quyền sở hữu một phần của mọi người khác, nhưng lại không có quyền sở hữu chính mình. Sau đó, xin hình dung tính khả thi của một thế giới như vậy: một thế giới mà không ai có thể hành động tự do nếu không có sự chấp thuận trước, hoặc thậm chí là mệnh lệnh, từ toàn thể xã hội. Rõ ràng là trong thế giới “cộng sản” kiểu đó, không ai có thể làm gì, và loài người sẽ nhanh chóng diệt vong. Nhưng nếu một thế giới hoàn toàn không có quyền sở hữu chính mình và lại bị 100% sở hữu bởi người khác đồng nghĩa với sự diệt vong của nhân loại, thì bất kỳ bước đi nào hướng về phía đó cũng đều đi ngược lại luật tự nhiên về những gì là tốt đẹp nhất cho con người và cho đời sống của họ trên trái đất này.
Tuy nhiên, rốt cuộc, thế giới cộng sản mang tính tham dự không thể được đưa vào thực tiễn. Bởi lẽ, về mặt thực tế vật lý, con người không thể liên tục theo dõi lẫn nhau để thực thi phần quyền sở hữu ngang bằng của mình đối với mỗi người khác. Như vậy, trên thực tế, khái niệm về quyền sở hữu phổ quát và bình đẳng đối với tha nhân là không tưởng và bất khả thi. Kết quả tất yếu là việc giám sát, kiểm soát và chiếm hữu con người sẽ rơi vào tay một nhóm người chuyên biệt, và họ trở thành giai cấp thống trị. Do đó, trên thực tế, bất kỳ nỗ lực nào nhằm kiến lập chế độ cộng sản cũng sẽ tự động biến thành chế độ cai trị giai cấp, và như thế, chúng ta lại quay về phương án đầu tiên.
Vì vậy, người theo chủ nghĩa tự do cá nhân bác bỏ những phương án này và lấy quyền phổ quát về sở hữu chính mình – quyền mà mỗi con người đều có, đơn giản vì họ là con người – làm tiên đề căn bản. Nhiệm vụ khó khăn hơn là xác lập một học thuyết về quyền sở hữu đối với những đối tượng không phải con người, tức là vạn vật trên trái đất này. Khá dễ để nhận ra khi nào ai đó xâm phạm quyền sở hữu của người khác: nếu A tấn công B, thì rõ ràng A đã vi phạm quyền sở hữu của B đối với chính thân thể mình. Nhưng với các đối tượng không phải là người, thì vấn đề trở nên phức tạp hơn. Thí dụ, nếu ta thấy X giành chiếc đồng hồ đang trong tay Y, ta không thể tự động kết luận rằng X đã xâm phạm quyền sở hữu của Y; bởi rất có thể X mới chính là chủ sở hữu ban đầu, “chủ thực sự” của chiếc đồng hồ, và như thế ông ta có thể được coi là đang chiếm lại tài sản hợp pháp của chính mình. Để phân định, chúng ta cần một học thuyết về công lý trong sở hữu – một học thuyết có thể chỉ ra rằng X, hay Y, hoặc thậm chí một người khác, mới là chủ sở hữu hợp pháp thực sự.
Một số người theo chủ nghĩa tự do cá nhân tìm cách giải quyết vấn đề bằng cách khẳng định rằng bất cứ ai được chính phủ hiện hành trao quyền sở hữu đối với một tài sản nào đó thì đều phải được coi là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản ấy. Đến đây, chúng ta vẫn chưa đi sâu vào bản chất của chính phủ, nhưng sự bất thường hẳn đã lộ rõ: thật lạ lùng khi một nhóm vốn luôn ngờ vực hầu như mọi chức năng của chính phủ lại đột nhiên phó mặc cho chính phủ định nghĩa và áp dụng khái niệm quý giá về tài sản – nền tảng và cơ sở của toàn bộ trật tự xã hội. Đặc biệt, những người theo phái công lợi ủng hộ tự do kinh doanh tin rằng cách khả thi nhất để khởi lập một thế giới tự do cá nhân mới là xác nhận tất cả các quyền sở hữu tài sản hiện có; nghĩa là, công nhận các quyền sở hữu và tài sản do chính phủ hiện hành –vốn bị kết án là kẻ xâm lược thường trực – đã ban hành.
Xin minh họa bằng một giả định. Giả sử sự vận động và áp lực từ những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân đã gia tăng đến mức chính phủ và các cơ quan của nó sẵn sàng thoái lui. Nhưng họ lại bày ra một mưu kế xảo quyệt: ngay trước khi chính quyền bang New York rút lui, họ thông qua một đạo luật trao toàn bộ lãnh thổ bang này thành tài sản riêng của gia tộc Rockefeller. Cơ quan lập pháp Massachusetts cũng làm điều tương tự cho gia tộc Kennedy. Và các bang khác cũng nối gót theo. Sau đó, chính phủ có thể tuyên bố thoái lui, bãi bỏ thuế khóa và luật lệ cưỡng chế, nhưng những người tự do cá nhân chiến thắng lại đứng trước một tình thế tiến thoái lưỡng nan: liệu họ có công nhận những quyền sở hữu vừa được ban tặng ấy là tài sản tư nhân hợp pháp hay không? Những người theo phái công lợi – vốn không có một lý thuyết về công lý trong quyền sở hữu – nếu nhất quán với lập trường thừa nhận mọi quyền sở hữu được chính phủ quyết định, thì buộc phải chấp nhận trật tự xã hội mới, trong đó năm mươi “lãnh chúa” mới sẽ thu thuế dưới hình thức “tiền thuê” áp đặt một cách đơn phương. Vấn đề là: chỉ những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân gắn bó với quyền tự nhiên – tức những người có một lý thuyết về công lý trong quyền sở hữu độc lập với quyết định của chính phủ – mới có thể chế giễu những tuyên bố của những kẻ thống trị mới về quyền sở hữu tư nhân trên lãnh thổ quốc gia, và bác bỏ chúng như là vô hiệu. Như những người theo phái tự do vĩ đại thế kỷ XIX, Ngài Acton, đã thấy rõ: luật tự nhiên là nền tảng chắc chắn duy nhất cho việc phê phán liên tục đối với luật lệ và sắc lệnh của chính phủ[2]. Vậy, lập trường của những người ủng hộ quyền tự nhiên về quyền sở hữu tài sản cụ thể là gì – đó chính là câu hỏi mà chúng ta sẽ xét đến ngay sau đây.
Chúng ta đã thiết lập quyền sở hữu chính mình của mỗi cá nhân, tức là quyền sở hữu đối với thân thể và bản thân mình. Nhưng con người không phải là những bóng ma trôi nổi; họ cũng không phải là những thực thể tự tồn tại. Họ chỉ có thể sống còn và phát triển bằng cách gắn bó với đất đai xung quanh. Họ phải, chẳng hạn, đứng trên những mảnh đất; và để tồn tại cũng như duy trì đời sống, họ phải biến đổi những nguồn tài nguyên mà thiên nhiên ban tặng thành “hàng hóa tiêu dùng” – tức những vật thể được làm cho thích hợp hơn với nhu cầu sử dụng và tiêu thụ của họ. Thức ăn phải được nuôi trồng và ăn uống; khoáng sản phải được khai thác, rồi chuyển hóa thành tư bản, và sau đó thành những hàng hóa tiêu dùng hữu ích, v.v. Nói cách khác, con người không chỉ sở hữu bản thân mình, mà còn sở hữu các đối tượng vật chất để kiểm soát và sử dụng. Vậy thì quyền sở hữu những đối tượng này nên được phân bổ ra sao?
Xin lấy ví dụ đầu tiên: một nhà điêu khắc đang tạo tác một tác phẩm nghệ thuật từ đất sét và những vật liệu khác; và xin tạm gác lại, trong chốc lát, câu hỏi về quyền sở hữu ban đầu đối với đất sét và dụng cụ của ông. Vấn đề đặt ra là: ai sở hữu tác phẩm nghệ thuật khi nó hình thành từ bàn tay của nhà điêu khắc? Thật vậy, đó là “sáng tạo” của ông ta – không phải theo nghĩa ông tạo ra vật chất, mà theo nghĩa ông đã biến đổi vật chất mà thiên nhiên ban tặng – đất sét – thành một hình tướng khác, được định hình bởi tư tưởng và được nhào nặn bằng chính đôi tay cùng sức lực của mình. Chắc chắn, thật hiếm có ai, trong tình huống này, lại phủ nhận rằng nhà điêu khắc không có quyền sở hữu đối với sản phẩm do chính ông tạo ra. Rõ ràng, nếu mỗi người đều có quyền sở hữu đối với thân thể của mình, và nếu anh ta phải lao tác với các vật chất của thế giới để sinh tồn, thì nhà điêu khắc hẳn có quyền sở hữu đối với sản phẩm mà ông tạo ra – một sự mở rộng đích thực của chính con người ông. Ông đã đặt dấu ấn cá nhân mình lên nguyên liệu thô, bằng cách “hòa nhập lao động” của mình với đất sét – theo cách nói của nhà lý luận vĩ đại về quyền sở hữu, John Locke. Và sản phẩm, được biến đổi bằng chính năng lượng của ông, đã trở thành hiện thân vật chất cho tư tưởng và tầm nhìn của nhà điêu khắc. John Locke nói như sau:
…Mỗi người đều có quyền sở hữu đối với chính bản thân mình. Quyền này, ngoài chính người đó, thì không ai khác có thể có. Có thể nói, sức lao động của thân thể và công việc của đôi tay mỗi người đích thực thuộc về họ. Vậy thì, bất cứ vật gì mà con người lấy ra khỏi trạng thái chung mà tự nhiên đã ban tặng và để lại, khi người ấy hòa nhập sức lao động của mình vào đó và kết nối nó với một phần thuộc về mình, thì vật ấy trở thành tài sản của chính người đó. Do nó đã được tách khỏi trạng thái chung mà tự nhiên đặt để, nên nhờ lao động, nó mang theo một dấu ấn gắn liền, vốn loại trừ quyền sở hữu của những người khác. Bởi sức lao động ấy là tài sản không thể chối cãi của người lao động, cho nên không ai ngoài người ấy có thể có quyền đối với những gì nó đã được hòa nhập vào[3].
Cũng như trong trường hợp quyền sở hữu thân thể con người, một lần nữa, chúng ta đứng trước ba lựa chọn hợp lý: (1) người biến đổi, hay “người sáng tạo,” có quyền sở hữu đối với sản phẩm mà mình đã tạo ra; (2) một người khác, hoặc một nhóm người khác, có quyền đối với tác phẩm ấy, nghĩa là có quyền chiếm đoạt nó bằng vũ lực mà không cần sự đồng ý của nhà điêu khắc; hoặc (3) mọi cá nhân trên thế giới đều có phần sở hữu ngang nhau trong tác phẩm điêu khắc ấy – tức là giải pháp “cộng đồng.” Một lần nữa, nói một cách thẳng thắn, hầu như chẳng ai phủ nhận sự bất công khủng khiếp khi tịch thu tài sản của nhà điêu khắc – dù bởi một hay nhiều kẻ khác, hoặc nhân danh toàn thể thế giới. Họ có quyền gì để làm thế? Họ có quyền gì để chiếm đoạt sản phẩm của trí tuệ và sức lực của người sáng tạo? Trong trường hợp rõ ràng này, quyền của người sáng tạo được sở hữu những gì anh ta đã hòa nhập bản thân và lao động của mình vào đó chắc chắn sẽ được thừa nhận. (Một lần nữa, cũng như trong trường hợp sở hữu cộng đồng đối với con người, giải pháp cộng đồng, trên thực tế, sẽ chỉ quy giản thành một chế độ quả đầu, nơi một số ít người chiếm đoạt tác phẩm của người sáng tạo nhân danh quyền sở hữu “công cộng.”)
Tuy nhiên, điểm chính là trường hợp của nhà điêu khắc về chất không khác biệt so với tất cả các trường hợp “sản xuất” khác. Người hay những người đã khai thác đất sét từ lòng đất và bán nó cho nhà điêu khắc có thể không “sáng tạo” như ông ta, nhưng họ cũng là “người sản xuất”; họ cũng đã hòa nhập ý tưởng và bí quyết công nghệ của mình với đất đai do thiên nhiên ban tặng để tạo ra sản phẩm hữu ích. Họ cũng là “người sản xuất”, và họ cũng đã hòa nhập lao động của mình với vật liệu tự nhiên để biến những vật liệu đó thành các vật phẩm và dịch vụ hữu ích hơn. Những người này cũng có quyền sở hữu đối với sản phẩm của mình. Vậy thì quá trình ấy bắt đầu từ đâu? Một lần nữa, xin quay lại với John Lo>Người sống nhờ những quả sồi mà anh ta nhặt được dưới gốc sồi, hoặc những quả táo anh ta hái được từ những cây táo trong rừng, chắc chắn đã chiếm hữu chúng cho riêng mình. Không ai có thể phủ nhận rằng những thức ăn ấy là của anh ta. Vậy tôi hỏi, khi nào những thứ này bắt đầu là của anh ta? Khi anh ta tiêu hóa? hay khi anh ta ăn? hay khi anh ta nấu? hay khi anh ta mang về nhà? hay khi anh ta nhặt lên? Và rõ ràng, nếu việc thu hái ban đầu không làm cho chúng trở thành của anh ta, thì chẳng có điều gì khác có thể làm được. Lao động đã tạo ra sự khác biệt giữa chúng và tài sản chung. Lao động đã thêm vào chúng một điều gì đó nhiều hơn những gì Thiên nhiên – người mẹ chung của tất cả – đã làm, và vì thế chúng trở thành quyền sở hữu riêng của anh ta. Và liệu có ai nói rằng anh ta không có quyền đối với những quả sồi hay quả táo mà anh ta đã chiếm hữu bằng cách đó, chỉ vì anh ta không được toàn thể nhân loại đồng ý cho phép anh ta biến chúng thành của riêng mình? Liệu có phải là cướp bóc khi tự nhận cho mình những gì vốn thuộc về chung của mọi người? Nếu một sự đồng thuận như thế là cần thiết, thì con người đã chết đói, mặc dù Thiên Chúa đã ban cho họ dư dật của cải… Vì vậy, cỏ mà ngựa của tôi đã gặm, bãi cỏ mà người hầu của tôi đã cắt, và quặng mà tôi đã đào ở nơi tôi có quyền chung với những người khác, đều trở thành tài sản của tôi mà không cần sự chuyển nhượng hay đồng ý của bất cứ người nào. Chính lao động của tôi, đưa những thứ này ra khỏi trạng thái chung mà chúng vốn ở đó, đã củng cố quyền sở hữu của tôi đối với chúng.
Bằng cách đòi hỏi phải có sự đồng thuận rõ ràng của tất cả mọi người dân trước khi một người nào đó có thể chiếm hữu cho riêng mình bất kỳ phần nào của cải chung, thì con cái hay gia nhân cũng sẽ không thể cắt phần thịt mà người cha hay chủ đã chuẩn bị cho cả nhà, trừ phi đã phân định phần riêng cho từng người. Mặc dù nước chảy trong đài phun là của chung, nhưng hẳn không ai nghi ngờ rằng nước trong chiếc bình chỉ thuộc về người đã múc nó. Lao động của người đó đã lấy nó ra khỏi tay Tự nhiên, nơi nó vốn thuộc về mọi người, và nhờ đó đã biến nó thành của riêng mình.
Vì vậy, luật của lý trí xác lập rằng con nai là tài sản của người thổ dân đã giết nó; đó là của cải thuộc về người đã bỏ công sức săn được nó, mặc dù trước đó nó vốn là quyền chung của tất cả mọi người. Và ngay cả giữa những cộng đồng được xem là phần “văn minh” của nhân loại... thì quy luật tự nhiên nguyên thủy về khởi điểm của sở hữu, đối với những gì trước kia vốn thuộc về chung, vẫn còn hiệu lực. Nhờ vậy, bất kỳ con cá nào mà ai đó bắt được trong đại dương — cái kho chung vĩ đại và vẫn còn tồn tại của nhân loại — hay bất kỳ long diên hương nào mà ai đó nhặt được, thì nhờ vào công sức đã đưa chúng ra khỏi trạng thái chung mà tự nhiên để lại, chúng trở thành tài sản của người đã bỏ công nhọc sức để có được[4].
Nếu mỗi người đều sở hữu chính bản thân mình, và do đó sở hữu sức lao động của mình; và nếu mở rộng ra, người ấy cũng sở hữu bất kỳ tài sản nào mà mình đã “tạo ra” hoặc thu lượm từ “trạng thái tự nhiên” vốn chưa có người sử dụng hay chiếm hữu trước đó, thì câu hỏi lớn cuối cùng sẽ là: quyền sở hữu hay kiểm soát chính Trái đất là gì? Tóm lại, nếu người hái lượm có quyền sở hữu những quả sồi hay quả dâu rừng mà anh ta hái được, hay người nông dân có quyền sở hữu vụ lúa mì hay những trái đào của mình, thì ai có quyền sở hữu mảnh đất nơi những thứ ấy lớn lên và đơm hoa kết trái? Chính tại đây, Henry George[5] và những môn đồ của ông – những người trước đó vẫn đi cùng đường với những người theo phái tự do cá nhân – đã rẽ hướng và phủ nhận quyền sở hữu cá nhân đối với mảnh đất, tức là nền tảng nơi diễn ra các hoạt động ấy. Những người theo George lập luận rằng: tuy mỗi người nên sở hữu những sản phẩm do mình làm ra hay sáng tạo ra, nhưng vì chính Thiên nhiên hay Thượng Đế đã tạo nên đất đai, nên không cá nhân nào có quyền sở hữu đất đai. Thế nhưng, nếu đất đai được dùng như một nguồn tài nguyên một cách hiệu quả, thì nó nhất thiết phải thuộc quyền sở hữu hoặc sự kiểm soát của một người hay một nhóm người nào đó. Và như vậy, chúng ta lại đứng trước ba lựa chọn: (1) đất thuộc về người sử dụng đầu tiên – người đầu tiên đưa nó vào sản xuất; (2) đất thuộc về một nhóm người khác; hoặc (3) đất thuộc về toàn nhân loại, mỗi người được chia một phần trong từng mảnh đất. George chọn phương án cuối, nhưng giải pháp ấy khó lòng giải quyết được vấn đề đạo đức mà chính ông nêu ra: nếu đất đai vốn thuộc về Thiên nhiên hay Thượng Đế, thì tại sao lại đạo đức hơn khi cho rằng mỗi mảnh đất trên thế giới phải thuộc về toàn nhân loại, thay vì cho phép quyền sở hữu cá nhân? Trên thực tế, hiển nhiên không thể có chuyện mỗi người trên thế giới thực sự thực hiện quyền sở hữu hiệu quả đối với “phần một trên bốn tỷ” (nếu dân số thế giới, giả sử, là bốn tỷ) của mọi tấc đất trên địa cầu. Cuối cùng, tất yếu là sẽ chỉ có một nhóm đầu sỏ nhỏ bé nắm quyền kiểm soát và sở hữu, chứ không phải toàn thể nhân loại.
Nhưng, ngoài những khó khăn như thế trong lập luận của George, thì biện minh dựa trên quyền tự nhiên cho quyền sở hữu đất đai cũng tương tự như sự biện minh cho quyền sở hữu ban đầu đối với mọi loại tài sản khác. Vì, như chúng ta đã thấy, không có người sản xuất nào thực sự “tạo ra” vật chất; họ chỉ lấy vật chất do thiên nhiên ban tặng và biến đổi nó bằng sức lao động, theo ý tưởng và tầm nhìn của mình. Và đó chính xác cũng là điều mà người tiên phong – “người định cư” – thực hiện, khi biến mảnh đất trước đó chưa được ai sử dụng thành sở hữu tư nhân của mình. Cũng như người luyện thép từ quặng sắt bằng tri thức và sức lực của mình, hay người khai thác quặng sắt từ lòng đất, thì người định cư khai hoang, rào chắn, canh tác hoặc dựng xây trên mảnh đất ấy cũng như thế. Người định cư, nhờ sức lao động và dấu ấn cá nhân của mình, đã biến đổi đặc tính vốn có của mảnh đất do thiên nhiên ban tặng. Anh ta cũng là chủ sở hữu hợp pháp như nhà điêu khắc hay một nhà sản xuất; và anh ta cũng là một “người sản xuất” như bất kỳ ai khác.
Hơn nữa, nếu đất đai nguyên thủy là quà tặng từ Thiên nhiên hay Thiên Chúa, thì tài năng, sức khỏe và sắc đẹp của con người cũng vậy. Và, tất cả những phẩm chất này được trao cho từng cá nhân cụ thể chứ không phải cho cái gọi là “xã hội”, thì đất đai và tài nguyên thiên nhiên cũng thế. Tất cả những nguồn lực ấy được trao cho các cá nhân, chứ không phải cho “xã hội” – một khái niệm trừu tượng vốn không hề tồn tại. Không có thực thể nào mang tên “xã hội”; chỉ có những cá nhân đang tương tác với nhau. Vậy thì, nói rằng “xã hội” nên sở hữu đất đai hoặc bất kỳ tài sản chung nào khác, nghĩa là một nhóm đầu sỏ - trên thực tế là các quan chức chính phủ - nên sở hữu tài sản đó, và bằng cách đó, tước đoạt người sáng tạo hoặc người chủ trang trại đã tạo ra sản phẩm này.
Hơn nữa, không ai có thể sản xuất bất cứ thứ gì nếu không có đất đai, ngay cả một chỗ để đứng cũng cần đất đai. Chỉ dùng sức lao động của mình thì không ai có thể sản xuất hay tạo ra bất cứ thứ gì; họ phải có đất đai và các nguyên liệu thô tự nhiên khác.
Con người bước vào thế giới này chỉ với chính bản thân mình và với thế giới chung quanh—là đất đai và tài nguyên thiên nhiên mà thiên nhiên đã trao tặng. Con người tiếp nhận những nguồn lực ấy và biến đổi chúng, bằng sức lao động, trí tuệ và năng lượng của mình, thành những sản phẩm hữu ích hơn cho đời sống. Vì vậy, nếu một cá nhân không thể sở hữu đất đai, thì cũng không thể, theo đúng nghĩa đầy đủ, sở hữu bất kỳ thành quả lao động nào của mình. Người nông dân không thể sở hữu vụ lúa mì nếu anh ta không thể sở hữu mảnh đất nơi lúa mì mọc lên. Một khi sức lao động của anh ta đã hòa quyện với đất, thì không thể bị tước bỏ cái này mà không đồng thời bị tước bỏ cả cái kia.
Hơn nữa, nếu người sản xuất không có quyền hưởng thành quả lao động của mình, thì ai mới có quyền ấy? Thật khó hình dung tại sao một đứa trẻ sơ sinh ở Pakistan lại có thể, về mặt đạo đức, đòi quyền sở hữu một phần đất ở Iowa mà một người nào đó vừa biến thành cánh đồng lúa mì—và ngược lại, một đứa trẻ ở Iowa lại đòi quyền sở hữu một trang trại ở Pakistan. Đất đai trong trạng thái nguyên sơ vốn chưa từng có người sử dụng và không thuộc quyền sở hữu của bất kỳ ai. Những người theo thuyết của George và các nhà cộng đồng chủ nghĩa có thể tuyên bố rằng toàn thể nhân loại thực sự “sở hữu” nó, nhưng nếu chưa từng có ai sử dụng, thì theo nghĩa thực tế, nó không hề được sở hữu hay kiểm soát bởi bất kỳ cá nhân nào. Người tiên phong, người định cư—người đầu tiên khai phá và biến đổi mảnh đất—chính là người đã đem một thứ đơn sơ, vốn vô giá trị, vào sản xuất và vào công dụng xã hội. Thật khó thấy được sự chính đáng đạo đức trong việc tước bỏ quyền sở hữu ấy để trao cho những người chưa từng đến gần trong vòng ngàn dặm quanh mảnh đất đó, thậm chí có thể còn chẳng hề biết đến sự tồn tại của nó.
Vấn đề đạo đức và quyền tự nhiên ở đây càng trở nên rõ ràng hơn nếu ta xét đến trường hợp động vật. Động vật cũng là một dạng “đất kinh tế”, vì chúng là nguồn tài nguyên ban sơ do thiên nhiên ban tặng. Thế nhưng, liệu có ai phủ nhận quyền sở hữu trọn vẹn của người đã tìm thấy và thuần hóa một con ngựa—chẳng khác nào quyền sở hữu của người hái lượm đối với những quả sồi hay quả dâu rừng mà anh ta nhặt được? Cũng vậy, với đất đai: một người định cư khai phá mảnh đất “hoang dã”, chưa từng được thuần hóa, rồi “thuần hóa” nó bằng cách đưa vào sử dụng. Khi sức lao động của anh ta gắn liền với mảnh đất, điều đó trao cho anh ta một quyền sở hữu minh bạch, cũng như trường hợp đối với động vật. Như John Locke đã khẳng định: “Bao nhiêu đất mà một người cày xới, trồng trọt, cải tạo, canh tác và có thể sử dụng sản phẩm từ đó, thì bấy nhiêu là tài sản của anh ta. Bằng sức lao động, người ấy đã, theo một nghĩa nào đó, rào ngăn nó khỏi tài sản chung.”[6]
Lý thuyết về quyền sở hữu của chủ nghĩa tự do cá nhân đã được hai nhà kinh tế học Pháp thế kỷ XIX, những người ủng hộ mạnh mẽ tự do kinh doanh, tóm lược một cách hùng hồn như sau:
Nếu con người có quyền đối với vạn vật, ấy là bởi vì họ đồng thời vừa năng động, vừa thông minh, vừa tự do. Bằng hoạt động, họ vươn tới và lan tỏa ra thiên nhiên bên ngoài; bằng trí tuệ, họ chế ngự nó và khiến nó phục vụ cho mình; và bằng tự do, họ thiết lập giữa mình và thiên nhiên một mối quan hệ nhân – quả, khiến nó trở thành của riêng mình…
Ở một quốc gia văn minh, có nơi nào một cục đất, một chiếc lá nào lại không mang dấu ấn của con người? Trong thành thị, chung quanh ta là những công trình của con người; ta bước đi trên vỉa hè bằng phẳng hay con đường được đầm nén; chính con người đã biến mảnh đất vốn lầy lội thành khô ráo, đã mang đá sỏi từ những triền đồi xa xôi về để lát đường. Chúng ta sống trong những ngôi nhà; chính con người đã khai thác đá từ mỏ đá, đã đẽo gọt nó, con người đã xẻ gỗ; chính tư tưởng của con người đã sắp xếp vật liệu một cách hợp lý và dựng nên những tòa nhà từ đá và gỗ. Còn ở nông thôn, dấu ấn của con người vẫn hiện diện khắp nơi; con người đã cày xới trên đất, và qua bao thế hệ, lao động đã làm cho nó trở nên tơi xốp và màu mỡ; chính bàn tay con người đã đắp đập ngăn sông và tạo ra sự trù phú ở nơi mà dòng nước xưa kia chỉ gieo rắc hoang tàn... Ở khắp mọi nơi, ta thấy thấp thoáng một bàn tay mạnh mẽ đang nhào nặn vật chất, và một ý chí thông minh đang điều chỉnh nó… để thỏa mãn những nhu cầu của con người. Thiên nhiên đã nhận ra chủ nhân của mình, và con người cảm thấy mình ở trong nhà khi đứng giữa thiên nhiên. Con người đã chiếm hữu thiên nhiên cho mục đích của mình; thiên nhiên đã trở thành của riêng của con người; thiên nhiên là tài sản của con người. Và tài sản đó là chính đáng; nó là quyền thiêng liêng đối với con người cũng như quyền tự do phát huy các năng lực của mình. Nó thuộc về con người, vì nó hoàn toàn phát xuất từ chính con người, và không gì khác ngoài sự tỏa sinh từ bản thể của con người. Trước khi có con người, hầu như chẳng có gì ngoài vật chất; từ khi có con người, và nhờ con người, mới có của cải để có thể trao đổi – nghĩa là những vật phẩm mang giá trị nhờ một ngành công nghiệp nào đó, một quá trình chế tác, xử lý, khai thác, hay đơn giản chỉ nhờ vận chuyển. Từ một bức tranh của nghệ sĩ bậc thầy – có lẽ là sản phẩm vật chất mà trong đó, vật chất đóng vai trò nhỏ nhất – cho đến gàu nước mà người gánh múc từ sông mang về cho người dùng, của cải, bất kể là gì, chỉ có giá trị nhờ những phẩm chất mà con người truyền vào nó; và những phẩm chất ấy là một phần của hoạt động, trí tuệ, và sức lực của con người. Người sản xuất đã để lại một phần bản thân mình trong sự vật, nhờ thế nó mới trở thành có giá trị, và có thể được coi là sự kéo dài năng lực của con người tác động lên ngoại giới. Là một thực thể tự do, con người thuộc về chính mình; là nguyên nhân – tức là sức sản xuất – chính là anh ta; là kết quả – tức là của cải được tạo thành – cũng vẫn là anh ta. Ai dám tranh giành quyền sở hữu của anh ta, quyền đã được khắc ghi rõ ràng bằng dấu ấn cá nhân của anh ta?...
Vậy thì, chúng ta phải trở lại với con người – chính là chủ thể sáng tạo ra mọi của cải… Chính nhờ lao động mà con người in dấu ấn cá tính của mình lên vật chất. Lao động đã cày xới đất đai, biến vùng hoang vu thành cánh đồng; lao động đã biến khu rừng chưa ai khai phá thành khu rừng được chăm sóc có quy củ. Lao động – hay đúng hơn, cả một chuỗi công việc được thực hiện nối tiếp bởi bao thế hệ thợ thủ công – đã gieo trồng hạt gai dầu thành cây, từ cây làm ra sợi, từ sợi dệt thành vải, từ vải may thành quần áo; đã biến cục quặng pirit vô định hình trong mỏ thành món đồ đồng thanh nhã, điểm tô cho một quảng trường công cộng, và truyền đạt đến toàn dân tư tưởng của người nghệ sĩ…
Quyền sở hữu, được biểu lộ qua lao động, tham dự vào chính các quyền của con người – mà nó là sự phát sinh từ đó; cũng như con người, nó là bất khả xâm phạm, miễn là không vượt quá giới hạn đến mức va chạm với một quyền khác. Giống như con người, nó mang tính cá nhân, bởi vì nó khởi nguồn từ sự độc lập của mỗi cá nhân; và bởi vì, khi nhiều người đã cùng nhau góp sức trong quá trình sáng tạo, thì người sở hữu cuối cùng đã thủ đắc bằng cách trao đổi giá trị – thành quả lao động của riêng mình – để đổi lấy công sức của tất cả những người đi trước: đó chính là trường hợp thường gặp nơi các sản phẩm chế tạo. Và khi tài sản được chuyển giao, qua bán hoặc qua thừa kế, từ tay người này sang tay người khác, thì bản chất của nó vẫn không thay đổi: nó vẫn là thành quả của con người tự do được biểu lộ qua lao động, và người sở hữu mới vẫn có đầy đủ quyền như chính người sản xuất đầu tiên, người đã thủ đắc nó một cách chính đáng[7].
Xã hội và cá nhân
Chúng ta đã bàn nhiều về các quyền cá nhân; nhưng có thể có người hỏi: vậy còn “quyền của xã hội” thì sao? Chẳng phải chúng cao hơn và thay thế quyền cá nhân ư? Tuy nhiên, người theo chủ nghĩa tự do cá nhân vốn cũng là người theo chủ nghĩa cá nhân; người đó tin rằng một trong những sai lầm căn bản của lý thuyết xã hội là coi “xã hội” như thể đó là một thực thể thực sự tồn tại. Đôi khi, “xã hội” được coi như một nhân vật siêu việt hoặc gần như thần thánh, với những “quyền” riêng vượt lên trên cá nhân; lúc khác, nó lại bị coi như một cái ác đang tồn tại, có thể bị đổ lỗi cho mọi tệ nạn của thế giới. Người theo chủ nghĩa cá nhân khẳng định rằng chỉ có cá nhân mới thật sự tồn tại: cá nhân suy nghĩ, cảm nhận, lựa chọn và hành động. “Xã hội” không phải một thực thể sống, mà chỉ là một nhãn gọi chung cho một tập hợp các cá nhân đang tương tác với nhau. Do đó, việc coi xã hội như một thực thể biết chọn lựa và hành động chỉ làm mờ đi những thế lực thực sự đang vận hành. Nếu trong một cộng đồng nhỏ, mười người liên kết lại để cướp bóc và chiếm đoạt của ba người khác, thì đây rõ ràng chỉ là trường hợp một nhóm cá nhân cùng nhau hành động chống lại một nhóm cá nhân khác. Trong tình huống này, nếu mười người kia tự xưng là “xã hội” và nhân danh “lợi ích xã hội” để biện minh, thì lý lẽ ấy sẽ bị tòa án chế nhạo; ngay cả chính mười tên cướp cũng hẳn sẽ thấy hổ thẹn, khó mà dám dùng lối biện luận như vậy. Nhưng khi quy mô được phóng to, thì kiểu ngụy biện ấy lại trở thành phổ biến, và thành công trong việc đánh lừa công chúng.
Sự ngộ nhận trong việc sử dụng những danh từ tập thể như “quốc gia” – tương tự như “xã hội” ở khía cạnh – đã từng được nhà sử học Parker T. Moon chỉ ra một cách sắc sảo:
Khi sử dụng từ “Pháp”, người ta nghĩ đến nước Pháp như một đơn vị, một thực thể. Khi… chúng ta nói “Pháp đã gửi quân đi xâm lược Tunis” – chúng ta không chỉ gán cho đất nước này một đơn vị mà còn cả một cá tính. Chính những từ này che giấu sự thật và biến quan hệ quốc tế thành một vở kịch hào nhoáng, trong đó các quốc gia được cá nhân hóa thành những diễn viên, và chúng ta dễ dàng quên mất những con người bằng xương bằng thịt mới là những diễn viên thực sự… nếu chúng ta không có từ như … “Pháp”… thì chúng ta nên mô tả chính xác hơn về cuộc chinh phục Tunis theo cách nào đó, kiều như thế này: “Một vài người trong số ba mươi tám triệu người đã đưa ba mươi nghìn người khác đi chinh phục Tunis.” Cách diễn đạt sự thật này ngay lập tức gợi ra câu hỏi, hay đúng hơn là một loạt câu hỏi. “Vài người” đó là ai? Tại sao họ lại đưa ba mươi nghìn người đến Tunis? Và tại sao những người kia lại tuân lệnh? Việc xây dựng đế chế không phải do “các quốc gia” thực hiện, mà là do con người. Vấn đề trước mắt chúng ta là tìm ra những người, một vài người tích cực, những người có quyền lợi ở mỗi quốc gia, những người trực tiếp quan tâm đến chủ nghĩa đế quốc và sau đó phân tích lý do tại sao đa số phải trả giá và tiến hành cuộc chiến tranh do sự bành trướng của chủ nghĩa đế quốc gây ra[8].
Quan điểm của chủ nghĩa cá nhân về “xã hội” được tóm lại trong câu: “Xã hội” là tất cả mọi người, trừ chính bạn. Nói một cách thẳng thừng, cách phân tích này có thể dùng để xét đến những trường hợp mà “xã hội” không chỉ được coi là một siêu anh hùng với siêu quyền lực, mà còn là một siêu tội đồ gánh trên vai đủ mọi tội lỗi. Hãy xét quan điểm điển hình cho rằng: không phải cá nhân tội phạm, mà là “xã hội” phải chịu trách nhiệm về tội ác. Ví dụ, trong trường hợp Smith cướp hoặc giết Jones. Quan điểm “cổ điển” cho rằng Smith phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Những người theo phái tự do hiện đại lại phản bác rằng chính “xã hội” mới là kẻ có lỗi. Nghe thì có vẻ vừa tinh tế vừa nhân đạo — nhưng khi áp dụng quan điểm cá nhân chủ nghĩa, ta sẽ thấy rằng điều họ thực sự nói là: tất cả mọi người, kể cả nạn nhân Jones, ngoại trừ Smith, đều phải chịu trách nhiệm về tội ác này. Nói trắng ra, hầu như ai cũng sẽ nhận ra sự phi lý của quan điểm ấy. Nhưng việc dựng lên thực thể hư cấu mang tên “xã hội” lại che mờ quá trình nhận thức này. Như nhà xã hội học Arnold W. Green đã nhận xét: “Nếu xã hội phải chịu trách nhiệm về tội phạm, còn tội phạm thì không, thì rốt cuộc chỉ những thành viên trong xã hội không phạm tội mới có thể bị quy trách nhiệm về tội phạm. Sự vô lý hiển nhiên ấy chỉ có thể được lách qua bằng cách dựng nên một hình ảnh ‘xã hội’ như quỷ dữ, như cái ác tách biệt khỏi con người và những việc họ làm.”[9]
Nhà văn theo chủ nghĩa tự do cá nhân vĩ đại người Mỹ, Frank Chodorov, đã nhấn mạnh quan điểm này về xã hội khi ông viết: “Xã hội là Con người.”
Xã hội chỉ là một khái niệm tập thể, và không hơn thế; nó chỉ là một cách nói thuận tiện để chỉ một nhóm người. Cũng vậy, gia đình, đám đông, băng nhóm hay bất kỳ tên gọi nào khác mà ta đặt cho một tập hợp người cũng đều chỉ thế mà thôi. Xã hội… không phải là một “cá nhân” nào đó được cộng thêm. Nếu tổng điều tra dân số ghi nhận một trăm triệu người, thì chỉ có bấy nhiêu, không nhiều hơn một người nào, bởi xã hội không thể “có thêm” thành viên nào ngoài việc con người sinh ra. Khái niệm Xã hội như một “con người siêu hình” liền trở nên vô nghĩa khi ta quan sát thấy: xã hội biến mất ngay khi những thành phần tạo nên nó tan rã; như trong trường hợp một “thị trấn ma” hay một nền văn minh mà chúng ta chỉ còn biết đến qua những hiện vật họ để lại. Khi từng cá nhân biến mất, thì toàn thể cũng tan biến. Toàn thể không có sự tồn tại tách biệt. Việc sử dụng danh từ tập thể với động từ số ít dễ đưa chúng ta vào cái bẫy của trí tưởng tượng: ta có khuynh hướng nhân cách hóa tập thể và nghĩ rằng nó có thân thể và tâm lý riêng[10].
Tự do trao đổi và tự do hợp đồng
Cốt lõi của tín điều tự do cá nhân là khẳng định quyền tuyệt đối đối với tài sản tư hữu của mỗi người: thứ nhất, quyền sở hữu chính thân thể mình; thứ hai, quyền sở hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên chưa từng được sử dụng, mà anh ta là người đầu tiên chuyển hóa bằng lao động của mình. Hai tiên đề này — quyền sở hữu chính mình và quyền “khai khẩn đất hoang” — đặt nền móng cho toàn bộ nguyên tắc của hệ thống tự do cá nhân. Toàn bộ học thuyết của chủ nghĩa tự do cá nhân về sau chỉ là sự triển khai và ứng dụng những hệ quả tất yếu từ học thuyết trung tâm này. Chẳng hạn, X sở hữu thân thể, sức lao động của chính mình, cùng với trang trại mà anh ta khai hoang và gieo trồng lúa mì. Y sở hữu số cá anh ta đánh bắt được; Z sở hữu số bắp cải anh ta trồng cùng với khu đất trồng bắp cải. Nhưng nếu một người đã thực sự sở hữu một thứ gì đó, thì tất yếu anh ta cũng có quyền trao tặng hoặc trao đổi quyền sở hữu ấy cho người khác; và từ đó, người kia cũng sẽ có quyền sở hữu tuyệt đối đối với tài sản được chuyển giao. Chính từ hệ quả này của quyền sở hữu tư nhân, ta có cơ sở biện minh căn bản cho tự do hợp đồng và cho nền kinh tế thị trường tự do. Do đó, nếu X trồng lúa mì, anh ta có thể — và rất có thể sẽ — đồng ý đổi một phần lúa mì lấy một phần cá của Y, hoặc một phần bắp cải của Z. Khi cả hai bên, X và Y (hoặc Y và Z, hoặc X và Z), tự nguyện thỏa thuận trao đổi quyền sở hữu, thì tài sản đó trở thành tài sản hợp pháp tuyệt đối của bên kia. Nếu X đổi lúa mì lấy cá của Y, thì con cá đó trở thành tài sản của X để anh ta tùy nghi sử dụng; tương tự như thế, số lúa mì kia cũng trở thành tài sản của Y.
Hơn nữa, một người có thể trao đổi không chỉ những vật hữu hình mà anh ta sở hữu, mà còn cả sức lao động của chính mình — mà tất nhiên, anh ta cũng là chủ sở hữu. Do đó, Z có thể bán sức lao động của mình dưới dạng dịch vụ dạy học cho con cái của người nông dân X để đổi lấy một phần sản phẩm của ông ta.
Nền kinh tế thị trường tự do, cùng với chuyên môn hóa và phân công lao động mà nó hàm chứa, từ lâu đã là hình thức kinh tế năng suất nhất mà loài người từng biết; chính nó đã góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa và xây dựng nên nền kinh tế hiện đại — nền tảng của toàn bộ nền văn minh. Đây là một kết quả mang tính công lợi hết sức may mắn của thị trường tự do, nhưng đối với người theo chủ nghĩa tự do cá nhân, đó không phải là lý do chính để ủng hộ hệ thống này. Lý do chính là đạo đức, và nó bắt rễ trong sự biện hộ cho quyền tự nhiên đối với tài sản tư hữu mà chúng ta đã trình bày ở trên. Ngay cả khi một xã hội chuyên chế, với sự xâm phạm có hệ thống đối với các quyền, có thể được chứng minh là năng suất hơn cái mà Adam Smith gọi là “hệ thống tự do tự nhiên,” thì người theo chủ nghĩa tự do cá nhân vẫn sẽ ủng hộ hệ thống này. May mắn thay, cũng như trong nhiều lĩnh vực khác, yếu tố công lợi và yếu tố đạo đức, quyền tự nhiên và sự thịnh vượng chung, thường đi đôi với nhau.
Nền kinh tế thị trường phát triển, dù bề ngoài có vẻ phức tạp, thực chất chỉ là một mạng lưới rộng lớn của những trao đổi tự nguyện và thỏa thuận giữa hai bên, chẳng hạn như chúng ta đã thấy giữa người nông dân trồng lúa mì và người trồng bắp cải, hoặc giữa người nông dân và người thầy giáo. Chẳng hạn, khi tôi mua một tờ báo với giá mười xu, một cuộc trao đổi cùng có lợi giữa hai bên diễn ra: tôi chuyển quyền sở hữu mười xu của mình cho người bán báo, còn anh ta chuyển quyền sở hữu tờ báo cho tôi. Chúng tôi làm điều đó bởi vì, trong điều kiện phân công lao động, tôi tính toán rằng tờ báo có giá trị với tôi hơn mười xu, trong khi người bán báo lại thích mười xu hơn là giữ tờ báo. Hoặc, khi tôi giảng dạy tại một trường đại học, tôi ước tính rằng mình thích nhận lương hơn là không bỏ công sức giảng dạy, trong khi ban giám hiệu nhà trường lại cho rằng họ thích có được dịch vụ giảng dạy của tôi hơn là không phải trả tiền. Nếu người bán báo nhất quyết đòi 50 xu cho một tờ báo, tôi có thể sẽ thấy rằng nó không đáng giá; tương tự, nếu tôi khăng khăng đòi tăng gấp ba lần mức lương hiện tại, trường đại học có thể quyết định không thuê tôi nữa.
Nhiều người sẵn sàng thừa nhận tính công bằng và hợp lý của quyền sở hữu tài sản cũng như nền kinh tế thị trường tự do; sẵn sàng thừa nhận rằng người nông dân có quyền bán lúa mì của mình với bất cứ giá nào mà người tiêu dùng sẵn sàng trả, hay người công nhân có quyền nhận bất cứ khoản thù lao nào mà người khác sẵn sàng chi cho dịch vụ của anh ta. Nhưng họ lại vướng mắc ở một điểm: quyền thừa kế. Nếu Willie Stargell là một cầu thủ bóng chày giỏi gấp mười lần Joe Jack, họ sẵn sàng thừa nhận tính công bằng khi Stargell kiếm được thu nhập gấp mười lần. Nhưng họ sẽ hỏi: điều gì biện minh cho việc một người chỉ có “công trạng” duy nhất là được sinh ra làm con của Rockefeller lại thừa hưởng một khối tài sản khổng lồ, trong khi một người sinh ra là con của Rothbard thì không? Câu trả lời của những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân là: không tập trung vào người nhận — đứa trẻ nhà Rockefeller hay đứa trẻ nhà Rothbard — mà tập trung vào người cho, tức là người để lại di sản. Bởi nếu Smith, Jones hay Stargell có quyền đối với sức lao động, tài sản của mình, và có quyền trao đổi quyền sở hữu tài sản ấy lấy tài sản tương ứng của người khác, thì họ cũng có quyền trao tặng tài sản của mình cho bất kỳ người nào họ muốn. Và dĩ nhiên, phần lớn những sự tặng cho như thế là từ cha mẹ cho con cái — nói ngắn gọn, chính là quyền thừa kế. Nếu Willie Stargell sở hữu sức lao động của mình và số tiền anh ta kiếm được từ đó, thì hiển nhiên anh ta cũng có quyền trao lại số tiền ấy cho đứa con bé bỏng của mình.
Trong nền kinh tế thị trường tự do phát triển, người nông dân đổi lúa mì lấy tiền; lúa mì được người xay xát mua, người này chế biến và biến lúa mì thành bột mì; người xay xát bán bột cho thợ làm bánh; thợ làm bánh bán bánh mì cho người bán sỉ, người bán sỉ lại bán cho người bán lẻ, cuối cùng người bán lẻ bán cho người tiêu dùng. Và ở mỗi bước, người sản xuất có thể thuê sức lao động của công nhân để đổi lấy tiền. Cách thức “tiền” tham gia vào phương trình là một quá trình phức tạp; nhưng cần thấy rõ rằng, về mặt khái niệm, việc sử dụng tiền tương đương với bất kỳ hàng hóa hữu ích nào được trao đổi lấy lúa mì, bột mì, v.v. Thay vì tiền, hàng hóa trao đổi có thể là vải, sắt, hoặc bất cứ thứ gì khác. Ở mỗi bước, những trao đổi quyền sở hữu tài sản cùng có lợi được người ta thỏa thuận và thực hiện.
Giờ đây, chúng ta có thể thấy cách người theo chủ nghĩa tự do cá nhân định nghĩa khái niệm “tự do” (freedom) hay “quyền tự do” (liberty). Tự do là tình trạng trong đó quyền sở hữu của một người đối với chính thân thể và tài sản vật chất hợp pháp của mình không bị xâm phạm, không bị tấn công. Kẻ ăn cắp tài sản của người khác là đang xâm phạm và hạn chế quyền tự do của nạn nhân, cũng như kẻ đánh người khác vào đầu. Tự do và quyền sở hữu không bị xâm phạm luôn đi đôi với nhau. Ngược lại, đối với người theo chủ nghĩa tự do cá nhân, “tội phạm” là hành vi xâm phạm quyền sở hữu của một người—quyền sở hữu thân thể hay tài sản vật chất thì cũng thế. Tội phạm chính là sự xâm phạm, thông qua bạo lực, đối với tài sản của một người và do đó đối với tự do của người ấy. “Nô lệ”—trái ngược với tự do—là tình trạng trong đó nô lệ có rất ít hoặc không có quyền tự sở hữu; thân thể và thành quả lao động của họ bị chủ nhân tước đoạt một cách có hệ thống bằng bạo lực.
Vậy thì, người theo chủ nghĩa tự do cá nhân rõ ràng là người theo chủ nghĩa cá nhân nhưng không phải là người theo chủ nghĩa bình quân. “Sự bình đẳng” duy nhất mà người đó ủng hộ là quyền bình đẳng của mỗi người đối với tài sản thuộc về chính mình, đối với tài sản từ những nguồn tài nguyên chưa được sử dụng mà anh ta “khai khẩn”, và đối với tài sản của người khác mà anh ta có được thông qua trao đổi tự nguyện hoặc tặng/cho.
Quyền sở hữu và “nhân quyền”
Những người theo chủ nghĩa tự do thường thừa nhận quyền của mỗi cá nhân đối với “tự do cá nhân”: quyền tự do suy nghĩ, phát ngôn, viết lách, cũng như tham gia vào những “trao đổi” mang tính cá nhân như quan hệ tình dục giữa những “người trưởng thành tự nguyện”. Tóm lại, người theo chủ nghĩa tự do cố gắng bảo vệ quyền sở hữu của mỗi người đối với thân thể của mình, nhưng lại phủ nhận quyền “sở hữu” theo nghĩa quyền sở hữu các đối tượng vật chất. Do đó mới xuất hiện sự phân đôi điển hình ở những người theo chủ nghĩa tự do: một bên là “nhân quyền” được họ ủng hộ, và bên kia là “quyền sở hữu” bị họ bác bỏ. Tuy nhiên, theo quan điểm của người theo chủ nghĩa tự do cá nhân, hai quyền này gắn bó mật thiết và bất khả phân; chúng cùng đứng vững hoặc cùng sụp đổ.
Lấy ví dụ, người xã hội chủ nghĩa mang tư tưởng tự do có thể chủ trương chính phủ nắm quyền sở hữu toàn bộ “phương tiện sản xuất” nhưng đồng thời vẫn bảo vệ “quyền con người” về tự do ngôn luận hoặc tự do báo chí. Vậy thì, quyền “con người” này sẽ được thực thi như thế nào nếu mỗi cá nhân trong xã hội bị tước đoạt quyền sở hữu tài sản? Thử hình dung: nếu chính phủ nắm toàn bộ giấy in báo và tất cả các nhà in, thì quyền tự do báo chí sẽ được thực hiện bằng cách nào? Nếu toàn bộ giấy in báo đều do chính phủ sở hữu, thì chính phủ tất yếu có quyền và thẩm quyền phân bổ chúng. Lúc ấy, “quyền tự do báo chí” của một cá nhân sẽ trở thành trò hề nếu chính phủ quyết định không phân bổ giấy in cho họ. Và vì giấy in báo khan hiếm tất nhiên phải được phân bổ theo một cách nào đó, quyền tự do báo chí của, chẳng hạn, các nhóm thiểu số hay những người chống đối “có tư tưởng lật đổ” chắc chắn sẽ bị xem nhẹ. Điều tương tự cũng đúng với “quyền tự do ngôn luận”, nếu toàn bộ hội trường đều thuộc quyền sở hữu của chính phủ và do đó được phân bổ tùy theo ý chí của họ. Hoặc, chẳng hạn, nếu chính phủ Liên Xô vô thần quyết định không phân bổ nguồn lực khan hiếm cho việc sản xuất bánh matzoh, thì đối với người Do Thái Chính thống, “tự do tôn giáo” trở thành một trò hề. Nhưng rồi, chính phủ Liên Xô vẫn có thể biện minh rằng người Do Thái Chính thống chỉ là một thiểu số nhỏ, và thiết bị sản xuất không nên bị “lãng phí” cho việc làm bánh matzoh.
Sai lầm căn bản trong việc tách biệt “nhân quyền” và “quyền sở hữu” theo quan điểm của chủ nghĩa tự do là ở chỗ: con người bị coi như những khái niệm trừu tượng. Nếu một người có quyền sở hữu chính mình, quyền kiểm soát cuộc đời mình, thì trong thế giới thực, anh ta tất yếu cũng phải có quyền duy trì sự sống bằng cách tác động và chuyển hóa các nguồn lực; anh ta phải có khả năng sở hữu mảnh đất mình đứng và những tài nguyên mà anh ta buộc phải sử dụng. Nói ngắn gọn, để duy trì “nhân quyền” của mình—tức là quyền sở hữu đối với chính mình—anh ta cũng phải có quyền sở hữu trong thế giới vật chất, đối với những gì anh ta tạo ra. Quyền sở hữu chính là quyền con người, và là yếu tố thiết yếu đối với những quyền con người mà những người theo chủ nghĩa tự do tìm cách bảo vệ. Quyền con người về một nền báo chí tự do phụ thuộc trực tiếp vào quyền con người về sở hữu tư nhân đối với giấy in báo.
Trên thực tế, không có quyền con người nào có thể tách rời khỏi quyền sở hữu. Quyền tự do ngôn luận, thực chất, chỉ là quyền sở hữu để thuê một hội trường từ chủ sở hữu, hoặc tự mình sở hữu hội trường đó; quyền tự do báo chí là quyền sở hữu để mua giấy, rồi in tờ rơi hoặc sách và bán cho những người sẵn sàng mua. Không có “quyền tự do ngôn luận” hay tự do báo chí nào tồn tại bên ngoài những quyền sở hữu mà ta có thể liệt kê trong từng trường hợp cụ thể. Hơn nữa, việc nhận diện và xác định các quyền sở hữu liên quan sẽ giúp giải quyết bất kỳ xung đột về quyền nào có thể nảy sinh.
Ví dụ, xin xem xét trường hợp kinh điển mà những người theo chủ nghĩa tự do thường thừa nhận: “quyền tự do ngôn luận” của một người cần bị hạn chế nhân danh “lợi ích công cộng”. Đó là câu châm ngôn nổi tiếng của Thẩm phán Holmes: không ai có quyền hô “cháy” một cách gian dối trong một rạp hát đông người. Holmes và những người ủng hộ ông đã nhiều lần dùng minh họa này để chứng minh cho cái gọi là tính tất yếu khiến mọi quyền đều phải mang tính tương đối và tạm thời, chứ không thể chính xác và tuyệt đối.
Nhưng vấn đề ở đây không phải là quyền không thể bị đẩy đi quá xa mà là toàn bộ vụ việc được thảo luận dưới góc độ “tự do ngôn luận” mơ hồ chứ không phải dưới góc độ quyền sở hữu tư nhân. Giả sử chúng ta phân tích vấn đề dưới góc độ quyền sở hữu. Người gây ra bạo loạn bằng cách hét to “cháy” trong một rạp hát đông đúc, nhất thiết phải là chủ rạp (hoặc đại diện của chủ rạp) hoặc là khán giả trả tiền. Nếu là chủ rạp, thì hắn đã lừa đảo khách hàng. Hắn đã lấy tiền của họ để đổi lấy lời hứa sẽ chiếu một bộ phim hoặc vở kịch, và giờ đây, thay vào đó, hắn lại làm gián đoạn buổi diễn bằng cách hét to “cháy” và phá hỏng buổi diễn. Như vậy, hắn đã vi phạm nghĩa vụ hợp đồng của mình, và do đó đã đánh cắp tài sản - tiền bạc - của khán giả và đã xâm phạm quyền sở hữu của họ.
Mặt khác, giả sử người hét to là khán giả - chứ không phải là chủ rạp. Trong trường hợp đó, anh ta đang vi phạm quyền sở hữu của chủ sở hữu—cũng như của những khán giả khác đã trả tiền để xem. Là khách, anh ta đã được tiếp cận với sở hữu theo một số điều khoản nhất định, trong đó có nghĩa vụ không được xâm phạm sở hữu của chủ sở hữu hoặc làm gián đoạn buổi biểu diễn mà chủ sở hữu đang thực hiện. Do đó, hành vi ác ý của anh ta vi phạm quyền sở hữu của chủ sở hữu nhà hát và của tất cả những khách mời khác.
Do đó, không cần thiết phải hạn chế các quyền cá nhân trong trường hợp người la hét sai sự thật “cháy”. Quyền của cá nhân vẫn là tuyệt đối; nhưng đấy là quyền sở hữu. Người la hét sai sự thật về “cháy” trong một nhà hát đông đúc thực sự là một tên tội phạm, nhưng không phải vì cái gọi là “quyền tự do ngôn luận” của anh ta phải bị hạn chế một cách thực dụng vì “lợi ích công cộng”; anh ta là tội phạm vì rõ ràng và hiển nhiên là đã vi phạm quyền sở hữu của người khác.
[1] multiplier - hiệu ứng mô tả cách một thay đổi ban đầu trong chi tiêu của chính phủ hoặc đầu tư có thể tạo ra một sự thay đổi lớn hơn nhiều lần trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) – ND
[2] Mời đọc Gertrude Himmelfarb, Lord Acton: A Study in Conscience and Politics (Chicago: Phoenix Books, 1962), pp. 294–305. So sánh với John Wild, Plato’s Modern Enemies and the Theory of Natural Law (Chicago: University of Chicago Press, 1953), p. 176.
[3] John Locke, “An Essay Concerning the True Original Extent and End of Civil Government,” In E. Barker, ed., Social Contract (New York: Oxford University Press, 1948), pp. 17–18.
[4] Locke, Civil Government, pp. 18–49. Mặc dù Locke là một nhà lý thuyết về sở hữu xuất sắc, chúng tôi không cho rằng ông đã xây dựng và vận dụng học thuyết của mình một cách hoàn toàn nhất quán.
[5] Henry George (1839 – 1897) là một nhà kinh tế chính trị, nhà báo, và nhà cải cách xã hội người Mỹ. Ông nổi tiếng với tác phẩm Progress and Poverty (Tiến bộ và Nghèo đói, 1879) – một trong những cuốn sách kinh tế bán chạy nhất thế kỷ XIX - ND.
[6] Locke, Civil Government, p. 20
[7] Leon Wolowski and Emile Levasseur, “Property,” trong Lalor’s Cyclopedia of Political Science (Chicago: M.B. Cary, 1884), vol. III, pp. 392–93.
[8]Parker Thomas Moon, Imperialism and World Politics (New York: Macmillan, 1930), p. 58.
[9] Arnold W. Green, “The Reified Villain,” Social Research (Winter, 1968): 656.
[10] Frank Chodorov, The Rise and Fall of Society (New York: Devin Adair, 1959), pp. 29–30.
Nguyên tác: For a New Liberty, Murray N. Rothbard
Bản dịch: Phạm Nguyên Trường dịch
