Chính thể đại diện - Chương 12: Liệu có nên đòi hỏi các thành viên nghị viện phải cam kết hay không?
Một thành viên lập pháp có bị buộc phải theo chỉ dẫn của các cử tri bỏ phiếu cho anh ta hay không? Anh ta phải là người phát ngôn cho các suy nghĩ của họ hay là của chính anh ta? Là vị sứ giả của họ tại quốc hội hay là thuộc hạ chuyên nghiệp của họ được trao quyền không chỉ hành động vì họ mà còn phán xét thay họ xem chuyện gì là nên làm? Hai lý thuyết ấy về bổn phận của nhà lập pháp trong chính thể đại diện mỗi cái đều có những người ủng hộ và mỗi cái đều trở thành cơ sở được thừa nhận của một số chính thể đại diện. Trong Liên minh các Tỉnh lỵ Hà Lan, các thành viên của Tổng bộ các Bang chỉ là các đại biểu được ủy nhiệm; và học thuyết được triển khai kiên quyết ở đây là, khi xuất hiện bất cứ vấn đề gì quan trọng chưa được dự liệu trong các chỉ dẫn cho các đại biểu, thì họ phải xin chỉ thị từ các cử tri của mình, giống như vị sứ giả phải xin chỉ thị của chính phủ đã ủy nhiệm mình. Tại nước ta [nước Anh], cũng như nhiều nước khác có hiến pháp đại diện, thì luật pháp và tập quán trao cho thành viên Nghị viện quyền biểu quyết theo ý kiến mà anh ta cho là phải, dù nó có khác thế nào đi nữa với ý kiến của các cử tri: nhưng vẫn có quan điểm theo kiểu ngược lại phảng phất đâu đó, gây tác động đáng kể lên nhiều tâm trí, kể cả các thành viên Nghị viện và nhiều khi khiến cho họ – không phụ thuộc vào mong muốn được lòng dân hay lo lắng đến chuyện tái đắc cử của mình – cảm thấy có trách nhiệm lương tâm là phải nói lên những ý kiến của cử tri về những vấn đề mà cử tri của họ có một ý kiến xác định thay vì nói lên ý kiến của chính mình. Độc lập với luật pháp nhận định và với các truyền thống lịch sử của một dân tộc thì câu hỏi đặt ra là: giữa hai quan điểm ấy về bổn phận của người đại diện quan điểm nào là quan điểm đúng?
Không giống như các vấn đề cho đến nay ta đã xem xét, đây không phải là vấn đề pháp chế lập hiến mà đúng hơn là đạo đức lập hiến, hay đạo đức học của chính thể đại diện. Nó không liên can nhiều lắm đến các thiết chế, mà đến trạng thái tinh thần cử tri nên có trong lúc giải quyết các nhiệm vụ của mình; đến ý tưởng về các bổn phận đạo đức của một cử tri. Vì lẽ nếu để cho hệ thống đại diện có thể là thế nào cũng được, nó sẽ biến cải thành một thứ ủy quyền thuần túy, nếu các cử tri lựa chọn như vậy. Trong chừng mực họ được tự do không bỏ phiếu và tự do bỏ phiếu theo ý thích, không gì ngăn cản họ làm cho lá phiếu của họ phải phụ thuộc vào điều kiện bổ sung nào đó mà họ cho là thích hợp. Bằng cách từ chối bầu cho bất cứ ai không chịu cam kết làm theo mọi ý kiến của họ, và thậm chí nếu muốn họ sẽ yêu cầu phải hỏi ý kiến họ trước khi biểu quyết bất cứ vấn đề gì quan trọng chưa được tiên liệu trước, họ có thể biến người đại diện thuần túy thành người phát ngôn của họ, hay là ép buộc anh ta hứa sẽ từ nhiệm một khi không còn muốn hành động theo quyền hạn như thế nữa. Và vì họ có quyền lực làm như vậy, nên lý thuyết về Hiến pháp cần dự kiến rằng họ sẽ muốn làm chuyện đó; và vì bản thân chính thể hiến pháp đòi hỏi phải thừa nhận rằng quyền lực chính trị sẽ bị lạm dụng để xúc tiến mục tiêu đặc thù của người giữ quyền lực ấy; không phải bởi bao giờ cũng như vậy, nhưng bởi đó là xu thế tự nhiên của sự vật, nên đề phòng chống lại xu thế ấy là công dụng đặc biệt của các hiến pháp tự do. Cho nên dù việc các cử tri muốn biến người đại diện của họ thành một người ủy nhiệm có là sai trái hay điên rồ đến đâu đi nữa, thì sự suy diễn ấy về đặc quyền bầu cử cũng là tự nhiên và không phải là chuyện không có khả năng xảy ra, nên cần có những phòng ngừa như thế chuyện đó là chắc chắn xảy ra. Chúng ta có thể hy vọng các cử tri sẽ không hành động theo quan điểm như thế về việc sử dụng quyền bầu cử; thế nhưng chính thể đại diện cần đặt trong khuôn khổ sao cho nếu họ có muốn thế đi chăng nữa, thì họ cũng không thể đạt được điều không nên có trong bất kỳ cơ quan đại diện nào: đó là một sự lập pháp có lợi cho lợi ích riêng của một giai cấp (class legislation).
Khi nói rằng vấn đề chỉ là một trong những vấn đề của đạo đức chính trị, điều đó không hề giảm bớt tầm quan trọng của nó. Những vấn đề đạo đức hiến pháp có tầm quan trọng thực tiễn không kém hơn những vấn đề liên quan đến bản thân hiến pháp. Bản thân sự tồn tại của một số chính thể và mọi thứ làm cho những chính thể khác được bền lâu, đều dựa vào sự tuân thủ trong thực tế các học thuyết về đạo đức hiến pháp; các quan điểm lệ cổ trong trí óc của hàng loạt những nhà cầm quyền đã thành danh là những người chỉnh sửa thói quen mà nếu không làm thế thì không tạo ra được những quyền lực của họ. Trong các chính thể không có sự cân bằng [quyền lực] – quân chủ thuần túy, quý tộc thuần túy, dân chủ thuần túy – những châm ngôn ấy là rào cản duy nhất kiềm chế chính quyền không vượt quá giới hạn tột cùng theo chiều hướng của xu thế đặc trưng cho nó. Trong các chính thể cân bằng [quyền lực] không hoàn hảo, nơi có nỗ lực nào đó được tạo ra để thiết lập những giới hạn hiến pháp đối với những bốc đồng của quyền lực mạnh nhất, nhưng cũng là nơi quyền lực đó vẫn đủ mạnh để vượt qua những giới hạn ấy mà ít nhất cũng nhất thời không bị trừng phạt, thì chỉ có nhờ các học thuyết về đạo đức hiến pháp được dư luận thừa nhận và duy trì mà còn giữ được một chút tôn trọng nào đó đối với những kiểm tra và hạn định của hiến pháp. Trong các chính thể cân bằng [quyền lực] hoàn thiện, nơi mà quyền lực tối cao được phân chia và mỗi bên giữ phần chia được bảo hộ chống lại sự tiếm quyền của những bên khác theo một cung cách duy nhất khả dĩ – được trang bị phòng thủ với vũ khí cũng mạnh như vũ khí các bên khác sử dụng để tấn công – chính thể chỉ có thể vận hành bằng sự nhẫn nhịn của tất cả các bên thực thi cái quyền lực tột cùng ấy, trừ phi bị khiêu khích bởi hành xử cũng cực đoan từ phía khác nào đó cùng chia sẻ quyền lực: và trong trường hợp đó chúng ta có thể nói chính xác rằng chỉ nhờ vào sự tôn trọng đối với các châm ngôn của đạo đức hiến pháp mà hiến pháp có thể duy trì được sự tồn tại của mình. Vấn đề cam kết không phải là một trong những vấn đề liên quan sinh tử đến sự tồn tại của các chính thể đại diện; thế nhưng nó rất cần thiết cho tác động lợi ích của các chính thể ấy. Luật pháp không thể áp đặt các nguyên tắc để theo đó các cử tri sẽ định hướng bầu chọn của mình; thế nhưng có sự khác biệt thực tiễn rất lớn trong việc họ cho rằng nên định hướng bầu chọn theo những nguyên tắc nào. Và toàn bộ vấn đề lớn lao ấy bị vướng mắc trong câu hỏi liệu các cử tri có nên đặt điều kiện là người đại diện sẽ phải trung thành với những ý kiến nào đó do các cử tri đề ra cho anh ta hay không.
Trong vấn đề này, không một độc giả nào của luận văn này có thể hoài nghi về hệ luận sẽ được rút ra từ những nguyên lý chung mà luận văn này thuyết giảng. Ngay từ đầu chúng tôi đã khẳng định và luôn giữ vững không thay đổi về tầm quan trọng ngang nhau của hai điều kiện rất cần thiết cho chính thể: trách nhiệm phục vụ lợi ích của cử tri; và gắn liền với nó là điều kiện quan trọng hơn, ấy là thu được lợi ích từ trí tuệ cao cấp, được luyện rèn trong những suy tư dài lâu và trong chuyên môn thực tiễn cho nhiệm vụ riêng biệt, phục vụ cho chức năng của chính thể. Nếu mục đích thứ hai này là đáng để đạt cho được thì cái giá cần thiết phải trả cho nó cũng đáng phải làm. Sức mạnh cao cấp của đầu óc và sự nghiên cứu sâu sắc sẽ chẳng có ích lợi gì, nếu như nhiều khi nó không dẫn dắt một người đi đến những kết luận khác biệt với những kết luận được hình thành bởi sức mạnh của đầu óc tầm thường không qua nghiên cứu; và nếu điều đó là thứ mà các vị đại diện có được – về bất cứ phương diện trí tuệ nào – cao hơn mức trung bình của các cử tri, thì phải tính đến chuyện là người đại diện nhiều khi có ý kiến khác với đa số các cử tri bầu cho anh ta, và khi như vậy thì giữa hai ý kiến, ý kiến của người đại diện rất thường là ý kiến đúng đắn hơn. Do vậy, các cử tri sẽ hành động không khôn ngoan, nếu cố đòi người đại diện phải tuyệt đối uốn theo ý kiến của mình như một điều kiện để giữ được chiếc ghế đại diện.
Trong chừng mực ấy nguyên tắc này là hiển nhiên; song có những khó khăn thực tế trong việc áp dụng nó: và chúng tôi sẽ bắt đầu bằng việc nêu hết những khó khăn ấy ra. Điều quan trọng là các cử tri phải lựa chọn một vị đại diện có kiến thức cao hơn bản thân họ, nhưng cũng không kém cần thiết là người minh trí nhiều hơn ấy phải có trách nhiệm với họ; nói cách khác, các cử tri là các quan tòa phán xét cung cách mà người đại diện thực hiện sự tín nhiệm, song họ làm sao phán xét được, nếu không dựa theo chuẩn mực là các ý kiến của chính họ? Thậm chí làm sao họ trước hết không chọn người đại diện theo cùng cái chuẩn mực ấy? Tất nhiên chẳng ích lợi gì khi việc lựa chọn chỉ căn cứ vào sự tài giỏi phô trương ra bên ngoài. Những thử thách mà một người bình thường dựa vào để có thể phán đoán về tài năng đơn thuần là rất không hoàn hảo; theo tự nhiên họ hầu như hoàn toàn chỉ xem xét những kỹ xảo diễn đạt và quan tâm rất ít, hoặc chẳng quan tâm gì, đến giá trị của cái điều được diễn đạt ra. Cái sau không thể suy ra từ cái trước; và nếu như các cử tri để cho các ý kiến riêng của họ bị gác sang một bên thì cái tiêu chuẩn về khả năng cầm quyền tốt đối với họ còn lại sẽ là cái gì? Mà nếu giả như họ có thể biết chắc chắn, thậm chí không hề sai, về người có tài năng nhất, thì họ cũng chẳng cho phép anh ta hoàn toàn phán xét thay cho họ mà không tham khảo ý kiến riêng của họ. ứng viên tài năng nhất có thể là thuộc đảng Bảo thủ và các cử tri thuộc đảng Tự do; hoặc ứng viên là thuộc đảng Tự do còn cử tri có thể thuộc đảng Bảo thủ. Những vấn đề chính trị có tính thời sự có thể là những vấn đề về Giáo hội, và anh ta có thể là một Giáo sĩ cao cấp hay người theo chủ nghĩa Duy lý, trong khi đó họ có thể là những người theo biệt giáo(*) hay những người Truyền giáo; và ngược lại. Những tài năng của anh ta, trong những trường hợp ấy, chỉ có thể làm anh ta đi xa hơn nữa và hành động hiệu quả nhiều hơn trong sự việc mà họ có thể thành tâm tin tưởng rằng đó là một cách giải quyết sai trái; và họ có thể bị ràng buộc theo niềm tin chân thành của mình mà nghĩ rằng, điều quan trọng hơn là người đại diện cho họ trong những điểm ấy phải kiên trì đi theo những gì họ cho là tiếng gọi của nghĩa vụ, hơn là chuyện họ phải được đại diện bởi một người có tài năng trên mức trung bình. Họ cũng có thể sẽ phải xem xét không chỉ riêng việc họ được đại diện một cách tài giỏi nhất, mà còn cả việc lập trường đạo đức riêng và quan điểm tinh thần của họ được đại diện như thế nào nữa.
Ảnh hưởng của kiểu cách suy nghĩ được một số đông chia sẻ cần phải được cảm nhận thấy trong cơ quan lập pháp; và bản hiến pháp kiến nghị phải được tạo nên đúng theo dự liệu rằng những kiểu cách suy nghĩ khác xung đột nhau cũng sẽ được đại diện như vậy, việc đảm bảo cho kiểu cách riêng của họ có một sự đại diện thích đáng có thể sẽ là vấn đề quan trọng nhất mà các cử tri phải chú trọng tới trong những dịp đặc biệt. Trong một số trường hợp cũng có thể cần phải có người đại diện bị trói tay để giữ cho anh ta trung thành với lợi ích của họ, hơn là trung thành với lợi ích chung dựa theo cảm nhận của anh ta. Điều này có thể không cần thiết đối với một hệ thống chính trị làm cho họ vững tin vào sự lựa chọn trung thực và khách quan không xác định trước của các ứng viên; thế nhưng trong hệ thống hiện hữu mà do chi phí của bầu cử và tình hình chung của xã hội, nên các cử tri hầu như luôn bị bắt buộc phải bầu chọn người đại diện cho họ trong số những người có hoàn cảnh sinh hoạt khác biệt rất nhiều so với họ và có lợi ích giai cấp thật khác biệt, vậy có ai dám quả quyết họ nên phó thác bản thân mình tùy theo ý của anh ta? Liệu chúng ta có thể trách móc một cử tri thuộc các giai tầng nghèo khó chỉ có sự lựa chọn trong số hai hay ba kẻ giàu có, vì cớ anh ta đòi hỏi cái người được anh ta bỏ phiếu phải cam kết theo những biện pháp mà anh ta cho là một bằng chứng của sự giải phóng khỏi lợi ích giai cấp của người giàu? Hơn thế nữa, chuyện này luôn luôn xảy ra với một số thành viên của hội đoàn cử tri, bị bắt buộc phải chấp nhận người đại điện được chọn lựa bởi một đa số của chính ngay phía họ. Tuy dẫu một ứng viên do bản thân họ chọn ra có thể không có cơ may [đắc cử], nhưng những lá phiếu của họ có thể cần thiết cho thành công của một ứng viên được chọn ra cho họ; và họ chỉ còn có cách sử dụng ảnh hưởng chia sẻ của họ lên hành vi sau này của anh ta, cho nên có thể họ sẽ làm cho sự ủng hộ của họ đối với anh ta phụ thuộc vào cam kết của bản thân anh ta theo những điều kiện nhất định.
Những xem xét ấy và những xem xét phản bác lại đan xen thật mật thiết với nhau; rất quan trọng là các cử tri phải chọn những người minh triết hơn bản thân họ làm đại diện cho họ, và họ phải tán thành được cai trị theo sự minh triết cao hơn ấy, trong khi không thể nào để cho sự uốn theo những ý kiến của chính họ khi họ có ý kiến riêng, được ảnh hưởng nhiều đến sự phán xét của họ đối với người có sự minh triết, cũng như phán xét cái người được coi là có sự minh triết kia có xác minh bằng hành vi của anh ta được đến đâu cho sự tin cậy đó; có vẻ như hoàn toàn không thực tế nếu đặt ra cho cử tri một quy tắc rõ ràng nào về bổn phận: và về phương diện của sự cần thiết cốt yếu phải tôn trọng tính ưu việt trí tuệ, thì kết quả sẽ phụ thuộc ít hơn vào quy định hay học thuyết có uy tín nào về đạo đức chính trị, so với phụ thuộc vào sắc thái tinh thần chung của tập thể cử tri. Các cá nhân và các dân tộc, những người nhạy bén trong cảm nhận đối với giá trị của sự minh triết cao cấp, có vẻ như thừa nhận sự minh triết ấy ở nơi mà nó hiện hữu, theo những dấu hiệu khác hơn là suy nghĩ chính xác như họ vẫn làm, và thậm chí bất chấp những khác biệt ý kiến rất đáng kể: và một khi họ thừa nhận nó thì họ cũng sẽ rất khát khao bảo vệ nó với bất cứ giá nào có thể chấp nhận được, sẽ dễ để cho ý kiến riêng của họ giống như đạo luật dựa theo những người mà họ xem như người minh triết hơn họ. Mặt khác, có một đặc điểm của trí óc [con người] là không tôn trọng bất cứ ai, cho rằng chẳng có ý kiến của người nào tốt hơn ý kiến của riêng mình, hoặc gần tốt bằng ý kiến của hàng trăm, hàng ngàn người giống như ý kiến của mình, ở nơi nào cử tri có chiều hướng như thế thì họ sẽ chẳng bầu cho ai không phải là, hay ít nhất cũng không tự nhận mình là, hình ảnh của những cảm xúc thuộc riêng họ trong hành vi của anh ta, và họ tiếp tục giữ anh ta không lâu hơn thời gian mà anh ta còn phản ánh những cảm xúc ấy trong hành vi của mình, và tất cả những kẻ giáp ranh có địa vị chính trị sẽ gắng sức uốn éo bản thân họ theo mẫu của quần chúng bình dân giống như Plato nói trong [tác phẩm] Gorgias, và sẽ cố làm cho bản thân thật giống như vậy đến mức có thể. Không thể phủ nhận rằng một nền dân chủ triệt để có xu hướng rất mạnh mẽ nhào nặn những cảm xúc của cử tri theo khuôn mẫu ấy. Nền dân chủ không mấy thuận lợi cho tinh thần tôn kính. Cái việc nó phá hủy sự tôn kính chỉ theo địa vị xã hội phải được coi là một trong những điều tốt chứ không phải điều xấu trong bộ phận những ảnh hưởng của nó; dẫu cho khi làm như vậy là nó đóng cửa trường học dạy tôn kính (như thuần túy các mối quan hệ nhân bản) vốn tồn tại trong xã hội. Thế nhưng cũng chính nền dân chủ, trong chính ngay bản chất của nó, xem trọng việc tất cả mọi người đều có quyền được bình đẳng, hơn là việc biện minh rằng một người này có quyền được ưu đãi hơn một người khác, cho nên sự kính trọng trước tính ưu việt cá nhân dường như sẽ không được xem trọng đúng mức. Chính vì điều này cũng như vì nhiều lý do khác nữa mà tôi đặt một tầm quan trọng cao đến thế vào việc các thiết chế của đất nước phải in dấu ý kiến của những người thuộc tầng lớp có giáo dục cao hơn, như là những người được quyền có trọng lượng lớn hơn những người kém giáo dục: và tôi vẫn còn phải tranh đấu cho sự phân chia nhiều lá phiếu hơn cho tính ưu việt được xác nhận của học thức, dẫu điều đó chỉ đem lại một sắc thái đúng đắn cho cảm nhận của công chúng, chứ không hứa hẹn mang lại những kết quả chính trị trực tiếp nào.
Một khi trong hội đoàn cử tri có một ý thức đầy đủ về sự khác biệt to lớn lạ thường trong giá trị giữa một người này và một người khác thì các cử tri sẽ không thiếu những dấu hiệu biểu hiện dễ nhận ra những người đáng giá nhiều nhất cho những mục tiêu của họ. Lẽ tự nhiên những cống hiến cho công ích thực sự sẽ là tiêu chí trước nhất: đã thực hiện những chức vị có tầm cỡ và đã làm được những việc quan trọng trong các chức vị này, sự minh triết được biện minh bởi kết quả của những công việc ấy; đã là tác giả của những giải pháp xuất hiện do hiệu quả của việc hoạch định một cách khôn ngoan; đã có những tiên đoán thường được minh chứng bởi sự kiện xảy ra sau đó, ít khi hoặc không bao giờ sai; đã có sự tư vấn mà khi được nghe theo đã có những hậu quả tốt và khi không theo thì có hậu quả xấu. Chắc chắn là trong những dấu hiệu biểu hiện của sự minh triết có nhiều phần không rõ ràng; nhưng chúng ta đang tìm kiếm những dấu hiệu sao cho có thể áp dụng được bởi những người có sự sáng suốt ở mức bình thường. Họ sẽ làm tốt việc này không dựa nhiều lắm vào một tiêu chí nào trừ phi phối hợp với những tiêu chí còn lại trong việc đánh giá sự thành công hay giá trị của bất cứ nỗ lực thực tiễn nào, mà nhấn mạnh vào ý kiến chung của những người bất vụ lợi có sự thành thạo trong vấn đề xem xét. Những thử thách mà tôi đã nói tới chỉ áp dụng được cho những người từng trải; trong số những người này phải kể đến những người tuy ít trải nghiệm thực tế nhưng lại từng trải trong suy ngẫm; những người trong các diễn văn hay ấn phẩm của mình đã thảo luận về những công việc chung theo một cung cách chứng tỏ rằng những người ấy đã dành một sự nghiên cứu nghiêm túc cho những vấn đề đó. Những người như thế theo tính cách của những nhà tư tưởng chính trị thuần túy có thể đã biểu lộ phần lớn những tư cách cũng là xứng đáng với sự tin cậy giống như những người đã chứng tỏ bản lĩnh chính khách trong chức vị. Khi cần phải chọn những người hoàn toàn chưa từng trải thì những tiêu chuẩn tốt nhất là có danh tiếng về tài năng trong những người đích thân biết rõ anh ta và đặt lòng tin vào anh ta, cũng như sự tiến cử của những người tôn kính anh ta. Dựa trên những thử thách giống như vậy, những cử tri đánh giá cao khả năng trí tuệ và thiết tha tìm kiếm nó, nói chung sẽ thành công trong việc có được những người vượt trên mức bình thường và thường có được những người mà họ có thể tin cậy giao phó những việc công cộng theo xét đoán tự do của những người ấy; những người như thế coi cái việc đòi hỏi họ phải từ bỏ sự xét đoán tự do của mình theo mệnh lệnh của những kẻ có tri thức thấp kém hơn, như là một sự sỉ nhục.
Nếu những người như thế được tìm kiếm một cách trung thực mà không thấy có, khi ấy thì quả thực các cử tri đành phải có những biện pháp phòng ngừa khác; vì hẳn là họ không thể trì hoãn ý kiến riêng của mình được, trừ phi để nhằm mục đích khiến họ có thể được phục vụ bởi một người có tri thức cao hơn bản thân họ. Thực ra họ vẫn có thể làm tốt công việc ngay cả trong trường hợp ấy, cần nhớ rằng vị đại diện một khi được bầu chọn rồi thì nếu anh ta hiến mình cho nhiệm vụ, anh ta sẽ có nhiều cơ hội sửa chữa một phán xét sai lầm ban đầu, hơn là quỵ lụy nhiều người trong hầu hết những cử tri bầu cho anh ta; một sự xem xét mà nói chung hẳn sẽ ngăn chặn họ (trừ phi bị bắt buộc vì cần thiết phải chọn một ai đó mà họ không hoàn toàn tin cậy vào tính vô tư của anh ta) đòi hỏi một sự cam kết rằng anh ta sẽ không thay đổi ý kiến của mình, hoặc là nếu thay đổi thì phải từ nhiệm. Thế nhưng, khi một người không danh tiếng, không được chứng nhận bằng những ngôn từ rõ ràng bởi người có uy tín cao nào đó, được bầu ra lần đầu tiên, thì người ta không thể trông đợi cử tri lại không coi việc uốn nắn cảm xúc riêng của anh ta là điều cần thiết trước nhất. Sẽ là đủ nếu anh ta không xem một sự đổi thay sau đó của những ý kiến riêng của mình – một sự thay đổi ý kiến được thừa nhận một cách trung thực với những căn cứ được phát biểu không che giấu – như một lý do khiến anh ta nhất thiết sẽ bị mất đi sự tin tưởng.
Ngay như nếu giả sử người đại diện có tài năng từng trải nhất và có tính cách với danh tiếng được thừa nhận, thì những ý kiến riêng của cử tri cũng không bị bỏ ngoài tai. Sự tôn trọng trí tuệ cao hơn không đi đến chỗ tự thủ tiêu – từ bỏ mọi ý kiến cá nhân. Tuy nhiên, khi sự dị biệt không liên quan đến những nguyên tắc cơ bản của chính trị, dẫu cử tri có thể quyết định tùy ý thế nào cũng được theo cảm xúc riêng của mình, anh ta cũng nên thấy rằng, khi một người tài có dị biệt với anh ta thì ít nhất cũng có nhiều khả năng là anh ta sai, và dù cho không phải như vậy thì cũng đáng tạm gác ý kiến của anh ta lại trong những sự việc không tuyệt đối cần thiết, vì lợi thế vô giá được một người tài hành động thay cho anh ta trong những chuyện mà anh ta không đủ thẩm quyền tự xét đoán. Trong những trường hợp như thế anh ta thường hay cố gắng hòa giải cả hai nguyện vọng bằng cách dỗ dành người tài hy sinh ý kiến của mình về những điểm dị biệt: thế nhưng, đối với người tài thì phụ họa, thỏa hiệp là sự phản bội lại nhiệm vụ đặc thù của mình; là sự từ bỏ những trách nhiệm đặc biệt của trí tuệ cao, một trong những điều thiêng liêng nhất của nó là không từ bỏ chính nghĩa đang bị la ó phản đối, cũng không thoái thác phục vụ cho chính nghĩa đang rất cần tới những ý kiến ấy của anh ta. Một người có lương tâm và tài năng được biết đến thì phải kiên trì sự tự do đầy đủ trong hành động theo sự phán xét riêng mà mình cho là tốt nhất; và phải không đồng ý phục vụ cho bất kỳ điều kiện nào khác. Nhưng các cử tri có quyền được biết ý nghĩa hành động dự tính của anh ta là thế nào; anh ta dự tính sẽ hướng dẫn hành vi của mình theo những ý kiến gì về mọi việc liên can tới trách nhiệm trước công chúng của anh ta. Nếu một số trong những điều này là không thể chấp nhận được đối với họ, mà mặc dù vậy họ vẫn hài lòng thấy anh ta xứng đáng làm người đại diện cho họ; và nếu họ là những người khôn ngoan, họ sẽ bỏ qua nhiều dị biệt lớn giữa những ý kiến của anh ta và của họ để chiếu cố giá trị toàn thể của anh ta.
Tuy nhiên, có một số dị biệt không thể kỳ vọng sẽ được bỏ qua. Bất cứ ai cảm thấy có sự quan tâm nhất định đến chính thể của đất nước mình đem lại lợi ích cho một người tự do, người đó hẳn có những nhận thức đầy tin tưởng về sự nghiệp quốc gia như những điều tâm huyết; sự nghiệp ấy với sức mạnh niềm tin của anh ta vào chân lý cùng với tầm quan trọng mà anh ta gắn vào sự nghiệp ấy, sẽ ngăn cấm anh ta đem chúng làm đối tượng thỏa hiệp, hay trì hoãn việc phán xét bất cứ người nào, dù cho người đó danh chức cao đến đâu đi nữa. Những nhận thức đầy tin tưởng ấy khi chúng tồn tại trong dân chúng, hay trong một bộ phận rõ rệt của dân chúng, có quyền gây ảnh hưởng với tư cách bản thân sự tồn tại của chúng chứ không chỉ riêng bởi khả năng của chúng dựa trên chân lý. Một tập hợp dân chúng không thể được cai trị tốt đẹp trong sự chống đối lại với quan niệm chủ yếu của họ về lẽ phải, dù cho những quan niệm ấy có một số điểm sai lầm. Một sự đánh giá đúng đắn mối tương quan cần phải có giữa những người cai trị và người bị cai trị sẽ không đòi hỏi các cử tri phải đồng ý được đại diện bởi một người dự tính cai trị họ trong sự chống đối lại những nhận thức cơ bản đầy tin tưởng của họ. Nếu họ lợi dụng được tài năng của anh ta để phục vụ hữu ích trong những phương diện khác vào thời điểm mà những điểm anh ta tranh cãi kiên quyết với họ có vẻ như chưa cần bàn tới, họ vẫn làm đúng khi sa thải anh ta vào thời điểm ban đầu, lúc mà có vấn đề nổi lên dính dáng đến những điểm [dị biệt] ấy, và trong vấn đề này họ không quá tin chắc có được đa số tán thành điều mà họ cho là đúng, để khiến cho tiếng nói bất đồng của cá nhân đặc biệt ấy trở thành không mấy quan trọng. Như là (tôi nhắc tới những tên tuổi để minh họa cho ý nghĩa của tôi chứ không nhằm vào cá nhân nào) những ý kiến của ông Cobden và ông Bright phản đối việc chống lại xâm lược nước ngoài có thể được [những cử tri không đồng ý với hai ông] bỏ qua trong thời kỳ chiến tranh Crimea(*), lúc mà tình cảm dân tộc đang tràn ngập ở phía đối lập, và rất có thể vẫn đúng là sẽ dẫn đến việc các cử tri sa thải họ vào thời điểm có bất hòa [về thương mại] với Trung Hoa (dù bản thân chuyện này là vấn đề đáng ngờ vực nhiều hơn), vì rằng suốt thời gian dài người ta không biết liệu quan điểm của họ trong trường hợp này có chiếm ưu thế hay không.
Như kết quả chưng thu được từ những gì đã trình bày ở trên, chúng tôi có thể khẳng định rằng không được đòi hỏi những cam kết thực sự, trừ phi do hoàn cảnh xã hội không thuận lợi, hay do các thiết chế có sai sót, mà các cử tri thu hẹp sự lựa chọn của mình tới mức buộc phải cố định sự chọn lựa ấy với một người đoán chừng là chịu ảnh hưởng thiên vị mang tính thù địch với lợi ích của họ; rằng họ có quyền được biết đầy đủ về các ý kiến và cảm xúc chính trị của ứng cử viên; và không phải chỉ có quyền mà thường khi còn buộc phải bác bỏ người nào khác biệt với họ về một số ít những điều mục là cơ sở của niềm tin chính trị đối với họ; rằng tùy theo tỷ lệ ý kiến tán thành của họ đối với trí tuệ cao của ứng cử viên mà họ phải chịu đựng việc anh ta biểu lộ ra và hành động theo những ý kiến khác biệt với họ đối với một số sự việc nào không bao hàm trong các điều mục cơ bản của niềm tin nơi họ; rằng họ phải liên tục tìm kiếm vị đại diện có một tầm cỡ sao cho họ hoàn toàn tin cậy vâng theo các mệnh lệnh do sự xét đoán của chính người đó; rằng họ phải xem việc hết sức tiến cử những người có phẩm chất ấy vào cơ quan lập pháp là một bổn phận phải có đối với các đồng bào của mình; và rằng điều quan trọng lớn hơn nhiều đối với họ là được đại diện bởi một người như thế, hơn là bởi người tự nhận mình đồng ý với đa số các ý kiến của họ; bởi lẽ những điều lợi nhờ vào tài năng của người đại diện là chắc chắn, trong khi giả thuyết rằng người đại diện thì sai còn họ đúng, là một điều rất đáng ngờ.
Tôi đã bàn về vấn đề này dựa trên giả định rằng hệ thống bầu cử – trong mọi chuyện phụ thuộc vào thế chế hiện hành – là thích hợp với những nguyên tắc được đề ra trong những chương viết ở trên. Ngay trên giả thuyết này, tôi cảm thấy lý thuyết biến người đại diện thành kẻ được ủy nhiệm đơn thuần là sai lầm, và tác động thực tiễn của nó là có hại, dù cho mối nguy hại trong trường hợp ấy chỉ giới hạn trong một khuôn khổ nhất định. Nhưng nếu những đảm bảo an toàn mà tôi cố gắng bảo vệ cho nguyên tắc đại diện lại không được Hiến pháp thừa nhận; nếu không đảm bảo cho việc đại diện của các nhóm thiểu số, mà cũng không chấp nhận bất cứ khác biệt nào trong giá trị số lượng của phiếu bầu phù hợp với một số tiêu chuẩn về trình độ học thức của người đi bầu; trong trường hợp ấy thì chẳng có lời lẽ nào khả dĩ nói quá lên được tầm quan trọng của nguyên tắc tự do suy xét dành cho vị đại diện; vì rằng khi ấy điều này hẳn sẽ là cơ may duy nhất trong điều kiện phổ thông đầu phiếu, để cho những ý kiến nào khác với ý kiến của đa số được lắng nghe tại Nghị viện. Trong cái thứ được gọi không đúng là nền dân chủ ấy, thực ra là sự thống trị độc quyền của những giai cấp lao động, mọi giai cấp khác không được đại diện và không được lắng nghe, lối thoát duy nhất khỏi sự lập pháp giai cấp trong hình thức hẹp hòi nhất và sự ngu dốt chính trị trong hình thức nguy hiểm nhất, hẳn là nằm ở sự sắp xếp sao cho người không học thức phải chọn người có học thức làm đại diện và làm theo ý kiến của họ. Có thể mong chờ một cách hợp lý là có một sự sẵn sàng nào đó để thực hiện điều này, và mọi thứ đều phụ thuộc vào việc vun đắp lòng tự nguyện ấy đến mức cao nhất. Thế nhưng, một khi được trao quyền lực chính trị vô hạn, nếu các giai cấp lao động tự nguyện tán thành một sự giới hạn đáng kể sự bảo thủ ý kiến và sự ngoan cố của mình, họ hẳn sẽ chứng minh được mình là những người khôn ngoan hơn bất cứ giai cấp nào nắm quyền lực tuyệt đối đã từng biểu hiện bản thân, hoặc, trong trường hợp ngược lại, tôi xin mạo hiểm nói rằng, họ rồi cũng sẽ tự biểu hiện mình dưới ảnh hưởng tha hóa ấy.
Nguyên tác: Representative government, John Stuart Mill.
Bản dịch: NXB Tri Thức, Nguyễn Văn Trọng và Bùi Văn Nam Sơn dịch, giới thiệu và chú thích.
