Chính thể đại diện - Chương 13: Về hệ thống lưỡng viện

Chính thể đại diện - Chương 13: Về hệ thống lưỡng viện

Trong tất cả các chủ đề liên quan đến chính thể đại diện không có chủ đề nào lại được thảo luận nhiều hơn, nhất là ở lục địa [Âu châu], bằng vấn đề gọi là Lưỡng Viện. Nó đã chiếm được sự chú ý của các nhà tư tưởng hơn nhiều vấn đề khác có tầm quan trọng gấp mười lần hơn nó, và đã được coi như một loại đá thử vàng để phân biệt những người thuộc phe dân chủ giới hạn với những người thuộc phe dân chủ không kiểm soát. Riêng về phần mình, tôi coi việc áp dụng một viện thứ hai để kiểm soát nền dân chủ là ít có giá trị; và tôi thiên về ý nghĩ rằng, nếu mọi vấn đề khác của hiến pháp được giải quyết đúng đắn, thì việc Nghị viện gồm hai hay chỉ một Viện chỉ có tầm quan trọng thứ yếu.

Nếu có hai Viện, chúng có thể có thành phần tương tự, hoặc không tương tự nhau. Nếu chúng có thành phần tương tự với nhau thì chúng chịu cùng những ảnh hưởng như nhau, và có đa số như thế nào trong một Viện thì chắc cũng cỡ như thế trong Viện kia. Quả thực là sự cần thiết để nhận được sự đồng ý của cả hai viện để thông qua một biện pháp nào đó có thể nhiều lúc là vật cản thực chất cho sự cải cách, vì lẽ khi giả thiết cả hai Viện phải đều mang tính đại diện và có cùng số đại biểu thì số lượng chỉ hơn một phần tư của toàn thể đại biểu một chút là có thể ngăn cản việc thông qua một Dự luật; trong khi đó, nếu giả sử chỉ có một Viện thì một Dự luật được đảm bảo thông qua, nếu có một đa số đơn giản. Thế nhưng trường hợp được giả thiết có tính khả dĩ theo lý thuyết nhiều hơn là có thể xảy ra trên thực tế. Hiếm khi xảy ra chuyện hai Viện có thành phần tương tự mà một Viện hầu như nhất trí, còn Viện kia lại gần như chia rẽ ngang nhau: nếu một đa số tại một Viện bác bỏ một biện pháp thì thường là có một thiểu số đông người không tán thành nó tại Viện kia; vậy nên, mọi sự cải tiến khả dĩ bị cản trở như thế, hẳn trong hầu hết mọi trường hợp đều không có nhiều hơn một đa số đơn giản trong toàn thể hai viện, và hệ quả tồi tệ nhất có thể nảy sinh ra hẳn sẽ là một sự trì hoãn việc thông qua biện pháp trong một thời gian, hoặc phải lại trưng cầu ý kiến của cử tri để quyết định xem đa số yếu ớt tại Nghị viện có thực sự tương ứng với một đa số ở trong nước hay không. Sự bất tiện của việc trì hoãn và lợi thế của việc trưng cầu ý dân trong trường hợp này có thể xem như cân bằng nhau.

Tôi không xem trọng luận cứ thường được viện dẫn để phải có lưỡng Viện – ấy là nhằm ngăn ngừa việc suy xét hấp tấp và ép buộc một sự cân nhắc lần thứ hai; vì như thế ắt hẳn là hội đồng lập pháp mang tính đại diện đã được tạo nên một cách rất tồi tệ, nơi đó các hình thức công tác được thiết lập không đòi hỏi nhiều hơn hai lần cân nhắc. Theo nhận định của tôi, sự xem xét tán thành hệ thống lưỡng viện đáng được xem trọng ít nhiều, ấy là quan tâm đến tác động xấu nảy sinh ra trong trí óc của mọi kẻ nắm giữ quyền hành, dù đó là một cá nhân hay một hội đồng, bởi cái ý thức là chỉ cần phải tham vấn với chính họ mà thôi. Điều quan trọng là: trong những vụ việc lớn sẽ không có đám người nào có khả năng áp đặt ý chí riêng (sic volo) của họ mà không cần hỏi bất cứ một ai xem có đồng ý hay không. Một đa số trong một hội đồng lập pháp đơn viện, khi giả định họ có một tính cách ổn định – khi bao gồm cùng một loại người thường xuyên cùng nhau hành động và luôn luôn đảm bảo thắng lợi trong Viện của riêng họ – sẽ dễ dàng trở thành chuyên chế và dương dương tự đắc, nếu được miễn khỏi sự cần thiết phải xem xét liệu một quyền uy hiến định khác có tán thành các hành vi của họ hay không. Cũng lý do này, cái lý do đã khiến cho người La Mã phải có hai quan chấp chính tối cao (consul), làm cho người ta muốn phải có hai Viện: tức là không một Viện nào có thể phơi bày ra ảnh hưởng đồi bại của độc quyền, ngay cả trong khoảng một năm thôi. Một trong những điều cần thiết nhất không thể thay thế được của phẩm hạnh thực tiễn trong chính trị, đặc biệt là trong việc điều hành các thiết chế tự do, ấy là sự hòa giải: một sự sẵn sàng thỏa hiệp, một thiện ý nhường nhịn điều gì đó cho các đối thủ, và tạo triển vọng cho những biện pháp tốt sao cho khả dĩ có thật ít sự công kích đối với những người có quan điểm đối nghịch lại; và, như thường nói, tập quán tốt đẹp của việc có đi có lại giữa hai Viện là một trường học liên tục không ngừng, ngay cả hiện nay cũng còn cho thấy là hữu ích, và tính hữu ích của nó có lẽ sẽ còn được cảm nhận thấy nhiều hơn trong một hiến pháp nhiều dân chủ hơn nữa của ngành Lập pháp.

Thế nhưng hai Viện không nhất thiết phải có thành phần giống như nhau; chúng có thể được tạo ra với dụng ý như một sự kiềm chế của Viện này đối với Viện kia. Một Viện được giả định là mang tính dân chủ, Viện kia cố nhiên được thành lập với quan điểm như là một sự kiềm chế nào đó đối với sự quá đà của dân chủ. Thế nhưng tính hiệu quả của nó về phương diện này hoàn toàn phụ thuộc vào sự ủng hộ của xã hội có thể tìm thấy từ bên ngoài Nghị viện. Một hội đồng lập pháp không đặt trên cơ sở của một sức mạnh lớn lao nào đó ở trong nước thì sẽ không có hiệu lực bằng cái hội đồng lập pháp đặt trên cơ sở ấy. Một Viện mang tính quý tộc chỉ có sức mạnh trong tình trạng quý tộc của xã hội, Thượng nghị viện (the House of Lords) đã có thời là quyền lực mạnh nhất trong Hiến pháp của chúng ta [nước Anh], và Hạ nghị viện chỉ là cơ quan kiểm tra: nhưng đấy là khi mà các vị Công khanh (Barons) hầu như là quyền lực duy nhất ở bên ngoài cánh cửa [Nghị viện]. Tôi không thể tin là trong một tình trạng thực sự dân chủ của xã hội mà Thượng nghị viện lại có một giá trị thực tiễn nào đó như một bộ máy kiềm chế nền dân chủ. Khi sức mạnh của một phía là yếu ớt trong so sánh với sức mạnh của phía kia, thì phương cách đem lại hiệu quả không phải là lôi cả hai ra trận tuyến và tập trung sức mạnh của họ đấu với nhau trên chiến trường công khai. Một chiến thuật như thể chắc chắn dẫn đến sự thất bại hoàn toàn cho phía yếu sức hơn. Chỉ có thể hành động có lợi, không phải bằng cách đứng tách rời một bên và bắt mỗi người tự tuyên bố đi theo hay chống lại, mà giữ một lập trường ở trong đám đông chứ không đối lập với đám đông, và nêu ra những yếu tố có khả năng nhiều nhất để đám đông liên kết với mình về bất cứ một điểm nào đấy; hoàn toàn không xuất hiện như một phe đối địch kích động một sự tập hợp chung chống lại phe khác, mà làm việc như một phần tử trong khối đông người hỗn tạp, truyền chất men của mình vào, và bằng cách bổ sung thêm ảnh hưởng, nhiều khi làm cho bộ phận yếu hơn có thể trở thành mạnh hơn. Quyền lực kiềm chế và điều tiết thực sự trong một nền dân chủ là phải hành động ở bên trong và thông qua Nghị viện dân chủ.

Trong mỗi tổ chức nhà nước cần phải có một trung tâm đề kháng chống lại quyền lực chiếm ưu thế trong Hiến pháp – và trong một hiến pháp dân chủ thì cần phải có một hạt nhân đề kháng chống lại dân chủ – tôi cũng đã phát biểu điều đó; và tôi xem điều này như một châm ngôn cơ bản của [lý luận về] chính thể. Nếu bất kỳ dân tộc nào có một sự đại diện dân chủ, mà trong tiến trình lịch sử của mình lại có ý nguyện khoan dung nhiều hơn đối với một trung tâm đề kháng như thế dưới hình thức một Viện thứ hai, hay là Thượng nghị viện, hơn là dưới bất cứ một dạng thức nào khác, thì dân tộc ấy có lý do chắc chắn để có trung tâm đề kháng ấy dưới dạng thức đó. Nhưng tôi thấy có vẻ như bản thân nó không phải là một dạng thức tốt nhất, cũng hoàn toàn không phải là dạng thức hiệu quả nhất cho mục tiêu của nó. Nếu có hai Viện, một Viện được xem như đại diện cho dân chúng, Viện kia đại diện chỉ cho một giai tầng, hoặc hoàn toàn không mang tính đại điện nào hết, tôi không thể nào cho rằng ở nơi mà nền dân chủ nắm quyền lực lại có được khả năng thực tế nào đấy trong Viện thứ hai để kháng cự lại những sai lệch nghiêm trọng của Viện thứ nhất. Có lẽ người ta cứ để cho viện thứ hai tồn tại theo tập quán và lòng tôn trọng quá khứ, nhưng không phải như là một sự kiềm chế và điều tiết hữu hiệu. Nếu nó thực hiện một ý chí độc lập thì hẳn cũng sẽ bị đòi hỏi phải làm như vậy trong cùng một tinh thần chung như Viện kia; phải cùng dân chủ một cách bình đẳng với Viện kia và tự bằng lòng với việc hiệu chỉnh những sai sót tình cờ của cái nhánh mang tính đại chúng nhiều hơn trong nền lập pháp, hoặc là đua tranh với nó trong những biện pháp mang tính đại chúng.

Tính khả thi của bất cứ sự kiềm chế thực sự nào đối với uy thế đang lên của phe đa số từ nay về sau phụ thuộc vào sự phân bổ sức mạnh trong cái nhánh đại chúng nhất của hội đồng cầm quyền, và tôi đã chỉ ra cái kiểu cách mà trong đó, theo xét đoán tốt nhất của tôi, sẽ có thể thiết lập được tốt đẹp nhất một sự cân bằng lực lượng. Tôi cũng đã vạch ra rằng, ngay cả khi phe đa số số học được phép thực thi ưu thế đầy đủ bằng phương tiện chiếm đa số tại Nghị viện, mà nếu các nhóm thiểu số cũng vẫn được phép hưởng quyền bình đẳng thích đáng dành cho họ dựa trên các nguyên tắc dân chủ nghiêm ngặt là được đại diện tỷ lệ theo số lượng của họ, thì điều khoản này sẽ đảm bảo sự hiện diện vĩnh viễn tại Nghị viện với cùng tư cách nhân dân như các thành viên Nghị viện khác, bao gồm thật nhiều những trí tuệ hàng đầu của đất nước, đến nỗi nếu không bằng cách nào đẩy gạt ra một bên, hay trao cho đặc quyền cá nhân gì đó, thì cái phần đại diện cho quốc gia ấy sẽ có được một trọng lượng riêng lớn hơn rất nhiều so với tỷ lệ sức mạnh về số lượng của họ, và sẽ cung cấp được một cách hiệu quả nhất cái trung tâm đề kháng cần phải có. Vậy nên, một Viện thứ hai là không cần thiết cho mục đích ấy, và hẳn cũng không đóng góp được gì cho mục đích như thế, mà thậm chí trong một vài kiểu cách có thể hình dung được, nó còn cản trở việc đạt được mục đích đó. Tuy nhiên, nếu vì những lý do khác nữa đã được đề cập đến, mà quyết định phải có một Viện như vậy, thì điều mong muốn là nó phải bao gồm các phần tử, trong khi không bị quy kết là có quyền lợi giai cấp đi ngược lại với nhóm đa số, nhưng có khuynh hướng đối lập mình với quyền lợi giai cấp của nhóm đa số, và cất lên tiếng nói có uy tín chống lại những sai sót và nhược điểm của nhóm đa số ấy. Rõ ràng là không có những điều kiện này trong một hội đồng được tạo nên theo cung cách như Thượng nghị viện của chúng ta. Bao lâu địa vị cao sang theo tập quán và sự giàu có cá nhân không còn được nền dân chủ quá kính nể, thì một Thượng nghị viện sẽ trở thành vô nghĩa.

Trong tất cả các nguyên tắc, mà một hội đồng mang tính bảo thủ một cách khôn ngoan, được dự kiến sẽ tiết chế và điều chỉnh uy thế dân chủ đang lên, khả dĩ có thể tạo dựng lên được, thì hình như nguyên tắc được minh họa trong [trường hợp] Thượng viện (Senate) La Mã là tốt hơn cả, bản thân nó là một hội đồng đầy thận trọng và khôn ngoan một cách nhất quán nhất từ xưa tới nay trong điều hành công việc chung. Những khiếm khuyết của một hội đồng lập pháp dân chủ đại diện cho toàn thể công chúng cũng là những khiếm khuyết của bản thân công chúng thiếu được huấn luyện và kém hiểu biết. Sự hiệu chỉnh thích đáng là liên kết nó với một hội đồng mà sự huấn luyện chuyên môn và tri thức là những đặc trưng phải có. Nếu một Viện đại diện cho sự cảm nhận của nhân dân, thì Viện kia phải đại diện cho tài năng cá nhân được thử thách và đảm bảo bởi sự phục vụ công ích thực sự, và được củng cố bởi trải nghiệm thực tế. Nếu một Viện là Viện Nhân dân, thì Viện kia phải là Viện của các Chính khách; một hội đồng bao gồm tất cả các nhân vật nổi tiếng đang sống, những người đã trải qua các chức vụ hay công việc quan trọng. Một Viện như thế hẳn sẽ thích hợp cho nhiều mục tiêu hơn là chỉ thuần túy làm một hội đoàn tiết chế giữ hòa khí. Nó sẽ không chỉ dành riêng cho việc kiềm chế mà còn là một lực lượng thúc ép. Cái quyền lực kiềm chế dân chúng trong tay của Viện này hẳn sẽ rơi vào tay những người có trình độ nhiều nhất, và là những người nói chung sẵn sàng dẫn dắt dân chúng tiến lên theo bất cứ con đường nào thật đúng đắn. Cái hội đồng, sẽ được tin cậy trao cho nhiệm vụ sửa chữa sai lầm của dân chúng, hẳn là không đại diện cho một giai cấp bị cho là đối lập lại với quyền lợi của dân chúng, nhưng có thể bao gồm những thủ lĩnh tự nhiên của chính dân chúng trên con đường tiến bộ. Không có kiểu cách kết hợp thành phần nào có thể giải quyết được mục đích này một cách tốt hơn để đem lại trọng lượng và hiệu quả cho chức năng của những người tiết chế giữ ôn hòa. Không thể nào bôi nhọ một hội đoàn luôn tiên phong trong xúc tiến các cải tiến như là một hội đoàn thuần túy gây cản trở, dù nó có thể ngăn cản được nhiều tổn hại đến đâu đi nữa.

Giả sử như cái chỗ cho một Thượng viện Senate như vậy ở nước Anh vẫn còn bỏ trống (chắc hẳn tôi không cần phải nói đây chỉ thuần túy là một giả thuyết), thì nó có thể bao gồm một số phần tử như sau đây. Tất cả những người là, hay đã từng là, thành viên của ủy ban Lập pháp được mô tả trong chương viết trước, là tôi xem đó là thành phần không thể thiếu được trong một chính quyền nhân dân được thiết lập tốt đẹp. Tất cả những ai đã làm Thủ trưởng ngành Tư pháp, hay đứng đầu bất cứ tòa án cấp cao nào theo luật pháp hay theo lẽ công bằng. Tất cả những ai đã có năm năm giữ chức vụ ở tư pháp cấp dưới. Tất cả những ai đã duy trì chức vụ hai năm trong Nội các: nhưng những người này cũng phải có đủ tư cách ở Hạ nghị viện, và nếu là thành viên được bầu ra, thì tước hiệu, hay nhiệm vụ Nghị sĩ của họ phải bị tạm đình hoãn. Điều kiện thời gian là cần thiết để ngăn chặn những người được phong chức Bộ trưởng chỉ nhằm mục đích có một ghế trong Thượng viện Senate; và thời hạn hai năm được kiến nghị, là để cho cùng một thời hạn cho họ đủ điều kiện nhận lương hơn, cũng là thời hạn có thể cho họ có quyền làm thượng nghị sĩ. Tất cả những ai đã giữ chức Tổng tư lệnh; và tất cả những ai từng chỉ huy quân đội hay hạm đội, đã được Nghị viện ghi công là thành tích trong quân đội hay hải quân. Tất cả những ai đã có mười năm giữ chức vụ ngoại giao hạng nhất. Tất cả những ai đã từng làm Toàn quyền ở Ấn Độ hay châu Mỹ thuộc Anh, và tất cả những ai đã mười năm giữ công việc Thủ hiến ở bất cứ Thuộc địa nào. Ngành dân sự thường trực cũng phải được đại diện: phải phong làm thượng nghị sĩ cho tất cả những ai đã có mười năm giữ chức vụ quan trọng như Thứ trưởng bộ Tài chính, Thứ trưởng thường trực bộ Ngoại giao, hay bất cứ chức vụ cao và trọng yếu tương đương nào. Nếu bên cạnh những người đủ điều kiện như thế do có trải nghiệm thực tế trong công việc quản trị hành chính công, thì sự đại diện cho giai tầng trí thức cũng phải đưa vào – một việc tự thân nó là đáng mong ước – cũng đáng xét xem liệu một số học hàm giáo sư đại học nhất định, trong những thể chế mang tính chất quốc gia nhất định, sau một nhiệm kỳ vài năm giữ nhiệm vụ, sẽ có thể được ban cho một ghế ở Thượng viện Senate. Sự nổi tiếng thuần túy về khoa học hay văn chương là rất khó xác định và có thể tranh cãi: chúng hàm ý một khả năng chọn lọc, trong khi những tiêu chuẩn khác tự thân chúng đã nói lên sự việc; nếu các tác phẩm đem lại tiếng tăm không liên quan tới chính trị thì chúng không thể là bằng chứng cho phẩm chất đặc thù được đòi hỏi, trong khi ấy nếu chúng mang tính chính trị thì lại có thể khiến cho các chính phủ kế tiếp nhau làm tràn ngập Nghị viện với các tay chân của đảng.

Quá khứ lịch sử của nước Anh đưa ra một điều hầu như chắc chắn, ấy là bất cứ viện thứ hai nào khả dĩ tồn tại được thì hẳn phải dựa trên cơ sở của Thượng nghị viện, ngoại trừ trường hợp không thể có được là lật đổ Hiến pháp hiện tồn bằng bạo lực. Không có vấn đề dự tính giải thể trên thực tế hội đồng lập pháp ấy để thay thế nó bằng một Thượng viện Senate như tôi phác họa hay bằng một Thượng viện khác nào đó; nhưng có lẽ việc tập hợp các giai cấp hay các hạng người mà tôi đã đề cập tới, đặng đưa vào một hội đồng đang hiện hữu, theo tính cách giống như Thượng nghị sĩ suốt đời, thì chắc cũng không phải cùng là một thứ khó khăn không thể vượt qua được như thế. Trong tương lai, và có lẽ dựa trên kiến nghị này, một bước cần thiết có thể sẽ là thượng nghị sĩ theo thừa kế phải có mặt tại Nghị viện thông qua những đại diện, thay vì bởi đích thân người nối dõi: một sự thực hành đã được thiết lập trong trường hợp của các Thượng nghị sĩ Scotland và Ireland, và việc nhân lên chế độ như thế có lẽ trước sau rồi cũng sẽ được nêu ra. Một sự phỏng theo dễ dàng với kế hoạch của ông Hare hẳn sẽ ngăn chặn các Thượng nghị sĩ-đại diện chỉ đại diện riêng cho cái đảng có đa số trong các Thượng nghị sĩ. Thí dụ như nếu mười thượng nghị sĩ được phép có một đại điện, bất cứ mười thượng nghị sĩ nào cũng được quyền chọn ra một đại diện và các Thượng nghị sĩ có thể tự do theo ý muốn để lập thành nhóm cho mục đích này. Việc bầu chọn có thể được tiến hành như thế này: Tất cả các Thượng nghị sĩ là ứng viên đại diện theo thủ tục buộc phải tuyên bố mình là ứng viên và ghi tên mình vào danh sách. Một ngày và một địa điểm phải được chỉ định để các thượng nghị sĩ muốn bỏ phiếu phải có mặt, hoặc đích thân, hoặc ủy nhiệm người thay mặt theo cách thức thông thường của nghị viện. Phiếu phải được bỏ, mỗi Thượng nghị sĩ chỉ bỏ phiếu cho một đại diện. Mọi ứng viên có được mười phiếu bầu phải được tuyên bố là đắc cử. Nếu bất kỳ ai có nhiều hơn mười phiếu thì phải được cho phép rút lại số phiếu dư, hoặc là mười phiếu trong số đó được lựa ra bằng cách rút thăm. Mười người bỏ phiếu ấy họp thành đoàn cử tri của anh ta, và những người bỏ phiếu còn lại được tự do bỏ lá phiếu của mình một lần nữa cho một ai đó khác. Quá trình này phải được lặp lại cho tới khi (trong khả năng có thể) mỗi đối tượng nghị sĩ có mặt, hoặc đích thân hoặc thông qua người ủy nhiệm, đều được đại diện. Khi còn dư lại số phiếu ít hơn mười, nếu là năm thì hãy còn có thể cho phép thỏa thuận cử đại diện; nếu ít hơn năm thì những lá phiếu ấy phải bị bỏ đi, hoặc chúng được phép tính thêm cho ai đó đã đắc cử. Với ngoại lệ không đáng kể ấy, mỗi Thượng nghị sĩ-đại diện sẽ đại diện cho mười thành viên Thượng viện, những người không chỉ đã bỏ phiếu cho anh ta mà còn lựa chọn anh ta trong tất cả những người được đưa ra cho họ chọn, và anh ta là người họ mong muốn làm đại diện cho họ nhiều nhất. Như một sự bù đắp lại cho những Thượng nghị sĩ không được chọn làm đại diện theo thủ tục, họ phải được có đủ tư cách tại Hạ nghị viện; một sự công bằng mà hiện nay bị từ chối đối với các Thượng nghị sĩ Scotland và Ireland trong bộ phận của họ tại Vương quốc Anh, trong khi ấy sự đại diện tại Thượng nghị viện bị từ chối với cả hai, ngoại trừ đối với đảng có đa số cao nhất.

Kiểu cách tạo dựng một Thượng viện Senate đã được chủ trương ở đây có vẻ như không những tốt nhất ở bản thân nó mà còn là cái đã có tiền lệ lịch sử và đã thành công chói lọi, nên có thể rất đáng được ủng hộ. Tuy nhiên, nó không phải là một kế hoạch dễ dàng duy nhất để có thể được kiến nghị. Một kiểu cách khả dĩ khác nữa để thành lập Viện thứ hai là nó sẽ được Viện thứ nhất bầu ra; sự hạn chế buộc phải chịu đựng là họ không thể chọn chỉ định các thành viên của riêng họ. Một hội đồng lập pháp như thế, có nguồn gốc giống như Thượng viện Senate của Mỹ là sự chọn lựa của nhân dân, chỉ bị bãi bỏ có một lần, hẳn không bị xem là xung đột với các thiết chế dân chủ và rất có thể giành được ảnh hưởng đại chúng. Cung cách bổ nhiệm của nó đặc biệt khó lòng gây ra sự đố kỵ hay va chạm thù địch nào với Viện của nhân dân. Hơn thế nữa, nó hầu như chắc chắn sẽ có được cấu trúc thành phần tốt [nhờ điều khoản tạo ra sự đại diện cho nhóm thiểu số), và bao gồm được nhiều người trong tầng lớp các vị có tài năng cao, những người hoặc do tình cờ hay do thiếu những phẩm chất phô trương mà đã không muốn mưu cầu, hay không thể thu được sự bỏ phiếu của các cử tri nhân dân. Hiến pháp tốt nhất cho một Viện thứ hai là hiến pháp bao gồm được số lượng đông nhất những phần tử đứng ngoài lợi ích giai cấp và những thành kiến của khối đa số, nhưng bản thân họ không kình địch chống lại với cảm nhận dân chủ. Tuy nhiên, tôi xin nhắc lại rằng sự trông cậy chủ yếu để kiềm chế uy thế đang lên của khối đa số không thể dựa vào Viện thứ hai bất kể loại hình gì. Đặc trưng của một chính thể đại diện được ấn định bởi hiến pháp của Viện nhân dân. Mọi vấn đề khác liên quan đến hình thức của chính thể đều không mấy quan trọng so với điều này.

Nguyên tác: Representative government, John Stuart Mill.

Bản dịch: NXB Tri Thức, Nguyễn Văn Trọng và Bùi Văn Nam Sơn dịch, giới thiệu và chú thích.

Dịch giả:
Nguyễn Văn Trọng