Chính thể đại diện - Chương 7: Dân chủ thực sự và dân chủ giả hiệu; Sự đại diện cho tất-cả và sự đại diện cho số-đông

Chính thể đại diện - Chương 7: Dân chủ thực sự và dân chủ giả hiệu; Sự đại diện cho tất-cả và sự đại diện cho số-đông

Chúng ta đã thấy rằng những nguy cơ vốn có của một nền dân chủ mang tính đại diện gồm hai loại: nguy cơ về trình độ trí tuệ thấp trong hội đồng đại biểu và trong công luận kiểm soát hội đồng; và nguy cơ về sự lập pháp giai cấp dựa vào bộ phận đa số số học bao gồm toàn bộ những người cùng một giai cấp. Tiếp theo đây chúng ta sẽ xem xét khả năng tổ chức nền dân chủ có thể đạt được mức độ nào để tránh được hai tệ trạng to lớn ấy, hay ít nhất cũng làm giảm bớt chúng ở mức độ tối đa khả dĩ đạt được bởi sự khéo léo của con người, mà vẫn giữ cho những lợi ích đặc trưng của chính thể dân chủ không bị xâm hại về thực chất.

Kiểu cách thông thường nhằm thực hiện điều này làm tìm cách giới hạn tính chất dân chủ của sự đại diện thông qua việc hạn chế quyền bầu cử nhiều hay ít. Nhưng, trước đó cần có một sự xem xét mà nếu được chú ý đầy đủ sẽ làm thay đổi lớn đến tình hình vốn đã khiến cho một sự hạn chế như thế tỏ ra là cần thiết theo quan niệm thông thường. Trong một quốc gia mà một giai cấp duy nhất chiếm đa số số học thì một nền dân chủ hoàn toàn bình đẳng không thể loại bỏ hẳn được một số điều xấu xa nào đó; thế nhưng những điều xấu xa ấy sẽ càng trầm trọng hơn khi các nền dân chủ hiện hữu không phải là dân chủ bình đẳng mà lại là bất bình đẳng một cách có hệ thống, nhằm thiên vị cho giai cấp thống trị. Hai ý tưởng rất khác nhau thường bị lầm lẫn dưới cái tên dân chủ. Ý tưởng thuần khiết của dân chủ theo định nghĩa của nó là chính quyền của toàn thể nhân dân do toàn thể nhân dân đều được đại diện bình đẳng. Nhưng, nền dân chủ như thông thường vẫn được hiểu và cho đến nay vẫn được thực hành là chính quyền của toàn thể nhân dân do chỉ riêng một đa số dân chúng được độc quyền đại diện. Dân chủ [theo cách hiểu] trước là đồng nghĩa với sự bình đẳng của tất cả mọi công dân; dân chủ [theo cách hiểu] sau, bị lầm lẫn một cách lạ lùng với nó, là chính quyền của sự đặc quyền, thiên vị cho đa số số học, cái đa số một mình nắm giữ trên thực tế mọi tiếng nói trong Nhà nước. Đó là hậu quả tất yếu của cái cung cách bầu cử hiện nay đang làm, tước đi hoàn toàn quyền bầu cử của những nhóm thiểu số.

Sự lầm lẫn ý tưởng ở đây rất là lớn, nhưng nó có thể được làm sáng tỏ thật dễ dàng bằng cách đưa ra một tiêu chí nhẹ nhàng nhất đủ để đặt mọi thứ vào chỗ của chúng đối với bất cứ đầu óc nào có trí tuệ trung bình. Sự tình có thể như vậy, tuy nhiên do sức mạnh của thói quen mà một ý tưởng đơn giản nhất nhưng không quen thuộc, lại thường được người ta tiếp thu rất khó khăn, giống như là tiếp thu một ý tưởng phức tạp hơn nhiều. Thiểu số phải phục tùng đa số, số ít phải phục tùng số nhiều, ấy là một ý tưởng quen thuộc; vì thế người ta nghĩ rằng không cần thiết phải sử dụng đầu óc suy nghĩ xa hơn nữa và không hiểu được rằng có sự chiết trung hay trung đạo nào đó nằm giữa việc cho phép thiểu số có quyền lực ngang bằng với đa số và việc tiêu diệt hoàn toàn cái thiểu số. Trong một hội đồng đại biểu thực sự được cân nhắc chín chắn, thiểu số tất nhiên phải bị thống trị; và trong một nền dân chủ bình đẳng (vì lẽ những ý kiến của các thành viên sẽ quyết định ý kiến của hội đồng đại biểu) nhóm đa số dân chúng thông qua các đại biểu của mình sẽ thắng phiếu và chiếm ưu thế trước nhóm thiểu số. Nhưng liệu có suy ra từ đó rằng nhóm thiểu số phải không được có đại biểu nào hết hay không? Phải chăng vì nhóm đa số phải thắng thế nhóm thiểu số nên nhóm đa số phải có toàn bộ số phiếu bầu, còn nhóm thiểu số thì không có phiếu bầu nào? Liệu có tất yếu là nhóm thiểu số phải không được lắng nghe hay không? Không có gì khác hơn là thói quen và sự liên tưởng đến những ý nghĩ cũ xưa mới có thể làm cho một con người có lý tính chịu thỏa hiệp với một sự bất công không cần thiết. Trong một nền dân chủ thực sự bình đẳng mỗi tầng lớp hay bất cứ tầng lớp nào cũng phải được có đại biểu không phải là không theo tỷ lệ, mà phải theo tỷ lệ. Một đa số cử tri sẽ luôn có một đa số đại biểu; nhưng một thiểu số cử tri cũng phải luôn luôn có một thiểu số đại biểu. Một người so với một người, họ phải có đại diện đầy đủ như nhóm đa số. Nếu họ không được như thế thì sẽ không có chính thể bình đẳng mà là chính thể bất bình đẳng và đặc quyền: một bộ phận của dân chúng cai trị những bộ phận kia, có một bộ phận mà phần chia ảnh hưởng bình đẳng và công bằng của họ bị chiếm đoạt mất; điều đó là trái ngược với mọi chính thể công bằng, nhưng trên hết cả là trái ngược với nguyên tắc dân chủ rao giảng sự bình đẳng như chính cội rễ và nền tảng của mình.

Sự bất công và sự vi phạm nguyên tắc không kém phần trắng trợn khi người bị hại là nhóm thiểu số, vì rằng không có quyền bầu cử bình đẳng ở nơi mà mỗi cá nhân đơn lẻ chỉ thuần túy được kể không hơn với bất cứ cá nhân đơn lẻ nào khác trong cộng đồng. Tuy nhiên không phải chỉ có một nhóm thiểu số là chịu thiệt hại. Nền dân chủ được tạo nên như thế thậm chí không đạt được ngay cả mục đích bề ngoài của nó là trao quyền lực chính quyền trong mọi trường hợp cho nhóm đa số số học. Nó làm một thứ gì đó hoàn toàn khác: nó trao quyền lực cho một nhóm đa số của đa số, là những người rất có thể, và thường thì như vậy, chỉ là một nhóm thiểu số của toàn thể. Mọi nguyên tắc đều được thử thách một cách hiệu quả nhất bởi những trường hợp cực đoan. Vậy hãy giả thiết rằng trong một đất nước có quyền bầu cử phổ thông và bình đẳng và tại mỗi khu vực bầu cử diễn ra một cuộc tranh cử và ở đâu cũng chỉ có một đa số nhỏ giữ vai trò quyết định. Nghị viện được tập hợp lại như thế đại diện cho hơn một nửa số dân chúng một chút. Nghị viện ấy tiến hành việc lập pháp và quyết định những biện pháp quan trọng cũng bởi một đa số rất thấp của bản thân nó. Có gì đảm bảo rằng những biện pháp ấy phù hợp với nguyện vọng của đa số dân chúng? Gần một nửa cử tri bị thua phiếu không có được chút ảnh hưởng nào trong việc quyết định và có thể tất cả những người ấy, hay chắc chắn là đa số họ, là thù địch với những biện pháp, vì họ đã bỏ phiếu chống lại những người thực thi các biện pháp ấy. Về số cử tri còn lại, có gần một nửa cử tri đã bầu ra các đại biểu mà theo giả thuyết của ta là những người đã bỏ phiếu chống lại các biện pháp. Vậy thì hoàn toàn có thể, và tuyệt nhiên không phải là điều không thể có, là cái ý kiến đã thắng thế chỉ làm vừa lòng một thiểu số trong quốc gia, dù rằng thiểu số ấy tạo nên một đa số của bộ phận quốc gia mà các thiết chế của đất nước đã dựng họ lên thành giai cấp thống trị. Nếu dân chủ có nghĩa là quyền thống trị được bảo đảm của đa số thì không có cách nào khác hơn để bảo đảm cho điều này ngoài việc cho phép mỗi cá nhân được có tiếng nói bình đẳng trong bản tổng kết. Bất cứ nhóm thiểu số nào bị gạt ra ngoài, dù cho chủ định hay do sự vận hành của cơ chế, sẽ đem lại quyền lực không phải cho đa số mà cho một thiểu số khác nào đó.

Lời phản bác duy nhất khả dĩ tìm được cho sự suy luận này là: vì lẽ các ý kiến khác nhau chiếm ưu thế trong những địa phận khác nhau, cho nên ý kiến bị thiểu số trong một số nơi nào đó lại có đa số ở những nơi khác và xét về toàn cục thì mỗi ý kiến tồn tại trong các cử tri nhận được phần chia công bằng cho tiếng nói trong sự đại diện. Điều này đại thể là đúng trong tình trạng hiện nay của cử tri, nếu không phải như vậy thì sự bất hòa của Nghị viện với cảm nhận chung của đất nước hẳn đã sớm trở nên rõ rệt. Thế nhưng điều này có thể sẽ không còn đúng nữa nếu cử tri hiện tại được mở rộng ra nhiều hơn nữa; nhưng vẫn nhỏ hơn cùng với tầm rộng lớn của toàn thể dân chúng; vì rằng khi đó thì đa số trong mỗi địa phận sẽ là những người lao động chân tay; và khi nào có bất cứ vấn đề gì chưa được giải quyết mà những tầng lớp này tranh chấp với phần còn lại của cộng đồng thì không một tầng lớp khác nào có thể có được đại diện ở bất cứ nơi nào. Ngay cả hiện nay chẳng phải là đang có bất bình lớn than phiền rằng trong mỗi Nghị viện có một bộ phận đông đảo cử tri mong muốn và khao khát được đại diện, nhưng lại chẳng có được nghị sĩ nào trong Nghị viện mà họ đã bầu lên đó sao? Chẳng phải là mỗi cử tri miền Marylebone bị bắt buộc phải chịu nhận hai người đề cử do nhà xứ chỉ định, còn mỗi cử tri miền Finsbury hay Lambeth thì chịu những người đề cử do giới chủ quán chỉ định làm đại diện cho họ đó sao? Những cử tri thuộc về những người có học vấn cao và có tinh thần cộng đồng nhiều nhất trong đất nước, những người ở các thành phố lớn, hiện nay phần đông không có đại diện được hay đại diện sai lệch. Những cử tri ở bên phía khác biệt với đảng chính trị của đa số địa phương không có đại diện. Đối với những người ở cùng một bên thì một bộ phận lớn được đại diện sai lệch; họ bị bắt buộc phải chấp nhận người có được số người ủng hộ đông đảo nhất trong đảng chính trị của họ, dù cho có ý kiến của người đó có thể khác biệt với họ về mọi quan điểm khác. Về một vài phương diện nào đó thì tình hình thậm chí còn tệ hơn cả trường hợp nhóm thiểu số hoàn toàn không được bỏ phiếu; vì rằng khi đó thì ít nhất nhóm đa số cũng có thể có được một đại biểu đại diện cho trí óc tốt nhất của họ; còn như hiện nay thì điều bắt buộc không chia rẽ đảng do e ngại thành công của những người đối lập với đảng, khiến cho mọi người phải bỏ phiếu hoặc là cho người đầu tiên tự giới thiệu mình như khoác màu sắc của họ, hoặc là cho người được các vị lãnh đạo địa phương đưa ra; và những người, nếu ta dành cho họ lời khen ngợi mà họ không mấy khi xứng đáng, cho rằng sự lựa chọn của họ là không bị những quyền lợi cá nhân của họ chi phối, thì sẽ bị bắt buộc phải vững tin vào sự tập trung toàn bộ sức lực của mình để đưa ra một ứng viên mà không một đảng nào phản đối mạnh mẽ – tức là một người không có chút đặc sắc nào, không có ý kiến nào phân biệt được ngoại trừ khẩu hiệu của đảng.

Điều này được minh họa nổi bật tại Hợp Chúng Quốc; ở đây trong cuộc bầu cử tổng thống, đảng [chính trị] mạnh nhất không bao giờ dám đưa ra bất cứ ai trong số những người mạnh mẽ nhất của mình, bởi lẽ đơn giản nhất là bất cứ người nào trong số này đều đã bị công luận chú ý, đều đã khiến cho mình bị một bộ phận này hay bộ phận khác trong đảng chê trách và vì thế không chắc chắn sẽ là con bài tập hợp được mọi lá phiếu so với một người mà công chúng chưa từng nghe đến bao giờ cho tới khi anh ta được trình ra như một ứng viên. Vậy thì con người được lựa chọn, dù là bởi một đảng mạnh nhất, có lẽ chỉ đại diện cho những nguyện vọng thực sự của một nhóm hạn hẹp chiếm số đông hơn trong đảng đó. Bất kỳ phái nào trong đảng (section), mà sự ủng hộ của họ là cần thiết cho sự thành công, đều nắm quyền phủ quyết đối với ứng viên. Phái nào kiên trì một cách ngoan cố hơn các phái đều có thể ép buộc tất cả những phái khác chấp nhận người do họ chỉ định; và cái tính ngoan cố siêu hạng ấy, bất hạnh thay, dường như lại thường có ở những người kiên trì lợi ích riêng của bản thân họ hơn là lợi ích của công chúng. Sự lựa chọn theo đa số vì vậy mà rất có thể sẽ được quyết định bởi các bộ phận cử tri gồm những người nhút nhát nhất, những người đầu óc hẹp hòi và nhiều thành kiến nhất, hoặc là những người bám giữ ngoan cố nhất vào duy nhất lợi ích giai cấp của họ; trong những trường hợp ấy thì các quyền bầu cử của nhóm thiểu số chẳng ích lợi gì cho mục đích của cuộc bầu cử được tiến hành, mà chỉ phục vụ cho việc ép buộc đa số phải chấp thuận ứng cử viên của bộ phận yếu kém nhất và tệ hại nhất trong họ.

Trong khi thừa nhận những điều xấu xa ấy, nhiều người có thể xem chúng như cái giá phải trả cho một chính thể tự do và chẳng phải là điều bất ngờ gì hết: ấy là ý kiến của tất cả những ủng hộ cho nền tự do thời trước cho tới mãi gần đây. Tuy nhiên, cái thói quen cho qua đi những điều xấu xa ấy như những gì không thể chữa trị được đã trở nên thâm căn cố đế đến nỗi nhiều người hình như mất cả khả năng nhìn vào những xấu xa ấy như những gì mà họ sẽ rất sung sướng nếu có thể chữa trị được chúng. Từ tuyệt vọng về việc chữa trị, rất thường khi chỉ còn một bước là đi tới sự phủ nhận bệnh tật; từ đó sẽ dẫn đến việc không ưa thích cách chữa trị được đề xuất, cứ như là người đề xuất tạo ra điều xấu chứ không phải đề nghị làm giảm bớt điều xấu. Người ta dễ quen với những điều xấu đến nỗi cảm thấy việc kêu ca về chúng giống như điều gì đó, nếu không phải là sai trái thì cũng là không hợp lý. Dẫu cho điều xấu có thể tránh được hay không thì phải là một người yêu chuộng tự do mù quáng mới không cân nhắc chúng trong đầu óc mình; mới không cảm thấy vui sướng khi phát hiện ra rằng những điều xấu ấy là những thứ không nhất thiết phải có. Bây giờ thì không có gì chắc chắn hơn rằng việc xóa bỏ trên thực tế nhóm thiểu số không phải là một hệ quả thiết yếu hay tự nhiên của tự do; rằng điều đó chẳng có liên quan gì tới dân chủ mà còn là trái ngược hẳn lại với nguyên lý trước nhất của dân chủ, ấy là đại diện theo tỷ lệ số học. Các nhóm thiểu số phải được đại diện đầy đủ, ấy chính là một phần mang tính bản chất của nền dân chủ. Không có điều này thì không thể nào có dân chủ thực sự mà chỉ là màn trình diễn giả dối của dân chủ mà thôi.

Những người nhìn thấy và cảm nhận được phần nào sức mạnh của những người xem xét trên đã đề xuất ra nhiều kế sách, theo đó điều tệ hại có thể được giảm bớt ở mức độ nhiều hay ít. Huân tước (Lord) John Russell trong một Dự luật cải cách của mình đã đưa vào một điều khoản rằng những khu vực bầu cử nào đó phải bầu ra ba thành viên hội đồng và cử tri sẽ chỉ được phép bỏ phiếu cho hai trong số đó; và ông Disraeli trong những cuộc tranh luận mới đây đã làm sống lại đề nghị này bằng cách quở trách người đã đề xuất ra nó; dường như ông cho rằng một chính khách bảo thủ thì chỉ nên nghĩ đến phương tiện và giận dữ chối từ mọi thiện cảm với người bị bội bạc, vì người ấy trước đây chỉ nghĩ đến mục đích(*).

Những người khác đã kiến nghị rằng mỗi cử tri chỉ được cho phép bỏ phiếu cho một người. Dù theo một kế hoạch nào trong số ấy thì một thiểu số bằng hay hơn một phần ba số cử tri địa phương chắc sẽ có khả năng làm đắc cử một trong ba đại biểu, nếu họ không toan tính nhiều hơn thế. Kết quả cũng giống như thế, nhưng có thể đạt được bằng một cách còn tốt hơn nữa, nếu theo đề nghị của ông James Garth Marshall trong một bài chính luận xuất chúng, rằng mỗi cử tri giữ lại cả ba phiếu bầu, nhưng được tự do dành tất cả ba phiếu ấy cho cùng một ứng viên. Những sơ đồ này, dù vô cùng tốt hơn là chẳng có gì, nhưng vẫn mới chỉ là cái để dùng tạm và đạt được mục tiêu theo một cung cách rất không hoàn hảo; vì rằng tất cả các nhóm thiểu số địa phương ít hơn một phần ba và tất cả các nhóm thiểu số dù có số đông bao nhiêu đi nữa, nhưng lại cấu thành từ nhiều khu vực bầu cử, vẫn có thể hãy còn không có đại diện. Tuy nhiên, thật rất đáng tiếc là không một kế hoạch nào trong số đó được thực hiện hiệu quả vì không cái nào trong số đó thừa nhận nguyên tắc đúng đắn và chuẩn bị phương cách để áp dụng nó thật đầy đủ hơn. Nhưng sự đại diện bình đẳng thực sự không thể có được, trừ phi bất cứ một tập hợp nào của cử tri đạt tới con số trung bình cho một đơn vị bầu cử, dù ở bất cứ nơi đâu trên đất nước, đều có quyền kết hợp lại cùng nhau để làm một đại biểu đắc cử. Cái mức độ hoàn hảo trong sự đại diện ấy có vẻ như là không thực tế, cho tới khi một người có năng lực lớn thích hợp với những quan điểm bao quát rộng rãi và với sự khéo léo trong các chi tiết thực hành – ông Thomas Hare – đã chứng minh được tính khả thi của nó bằng cách phác họa một sơ đồ thực hiện thể hiện trong bản Dự thảo một Nghị định của Nghị viện: một sơ đồ có giá trị hầu như không gì so sánh được nhằm thực hiện một nguyên tắc vĩ đại của chính thể theo một cung cách tiến gần tới sự hoàn hảo lý tưởng, vì nó chú ý xem xét tới mục tiêu đặc thù, trong khi ấy lại vô tình đạt được nhiều mục đích khác có tầm quan trọng không kém.

Theo kế hoạch này, đơn vị của sự đại diện, chỉ tiêu của các cử tri được quyền có một đại biểu cho mình, sẽ được xác định bằng quá trình lấy trung bình thông thường, con số cử tri được chia ra theo số chỗ trong Nghị viện: và mỗi ứng viên thu được chỉ tiêu ấy có thể đắc cử từ số khu vực bầu cử địa phương, dù có nhiều đến bao nhiêu đi nữa, mà chỉ tiêu ấy thu thập được. Những phiếu bầu có thể giao về cho địa phương giống như hiện nay; nhưng mỗi cử tri được tự do bỏ phiếu cho bất cứ ứng viên nào ra tranh cử tại bất cứ địa phận nào trong nước. Cho nên, những cử tri nào không muốn bất cứ ứng viên nào tại địa phương làm đại diện cho mình, có thể lấy lá phiếu của mình giúp đắc cử cho người mà họ ưa thích nhất trong nước có nguyện vọng được lựa chọn [làm đại biểu]. Trong mức độ như vậy, điều này có thể đem lại quyền bầu cử cho nhóm thiểu số mà nếu không thể thì những quyền ấy đã bị tước đoạt thực sự. Nhưng điều quan trọng là không chỉ riêng những người từ chối bất cứ ứng viên địa phương nào, mà cả những người bầu cho một ứng viên địa phương và bị thất bại, cũng đều tìm được ở đâu đó sự đại diện mà họ không thành công tại địa hạt của mình. Cho nên, điều này đảm bảo cho việc một cử tri có thể bỏ lá phiếu có tên những người khác thêm vào tên người mà họ ưu tiên trên hết. Phiếu bầu của cử tri này có thể chỉ được tính cho một ứng viên; nhưng nếu đối tượng chọn lựa trước nhất của anh ta thất bại – không đắc cử do không thu được đủ chỉ tiêu, thì đối tượng thứ hai có thể lại được may mắn hơn. Cử tri này có thể mở rộng danh sách ra một số rất đông người theo thứ tự anh ta ưa thích, sao cho nếu danh tính đứng ở gần đầu danh sách hoặc là không thu đủ chỉ tiêu, hoặc là có thể thu đủ mà không cần tới lá phiếu của anh ta, thì lá phiếu vẫn còn sử dụng được cho ai đó giúp cho người ấy đắc cử. Để nhận được đầy đủ số đại biểu cần thiết trọn vẹn cho Nghị viện cũng như ngăn chặn không cho những ứng viên rất nổi tiếng choán hết tất cả phiếu tán thành, cần thiết phải để cho số phiếu được tính cho người đắc cử không vượt quá chỉ tiêu, dù cho ứng viên có thể thu được nhiều đến đâu đi nữa: số phiếu còn lại bầu cho anh ta có thể có phiếu bầu tính cho người tiếp theo trong những danh sách tương ứng cần đến những phiếu ấy, và nhờ vào số phiếu còn lại ấy mà người đó hoàn tất được chỉ tiêu. Để xác định những lá phiếu nào sẽ được sử dụng cho một ứng viên đắc cử và những lá phiếu nào sẽ là tập hợp được giải phóng để sử dụng cho những người khác, có nhiều phương pháp đã được kiến nghị mà chúng tôi sẽ không đề cập đến ở đây. Ứng viên đắc cử ấy dĩ nhiên sẽ giữ lại tất cả những phiếu bầu mà nếu không có chúng anh ta sẽ không đắc cử; và đối với số phiếu bầu còn lại thì tiến hành rút thăm có thể là một phương cách không thể phản đối vì không có cách nào khác tốt hơn. Các phiếu bầu có thể được chuyển đến một cơ quan trung ương để kiểm phiếu, số phiếu thứ nhất, thứ hai, thứ ba v.v… bầu cho mỗi ứng viên được xác định, và chỉ tiêu có thể được phân phối cho bất cứ ai đạt được nó cho tới khi số chỗ trong Nghị viện được hoàn tất: những phiếu bầu thứ nhất được ưu tiên hơn thứ hai, phiếu bầu thứ hai ưu tiên hơn thứ ba và cứ như thế tiếp theo. Những lá phiếu và tất cả các yếu tố tính toán có thể đặt ở nơi lưu trữ mà tất cả những ai quan tâm đều có thể tiếp cận được; và nếu bất cứ ai thu được chỉ tiêu mà không đắc cử một cách sai lầm thì người ấy dễ dàng có thể chứng minh được điều đó.

Đó là những điều khoản chính của kế hoạch. Để biết cặn kẽ hơn cơ chế rất giản dị của nó, tôi phải chỉ dẫn tham khảo bản Luận thuyết về Bầu cử các Đại biểu của ông Hare (một cuốn sách mỏng xuất bản năm 1859)(*) và bài chính luận của ông Henry Fawcett (hiện là Giáo sư môn Kinh tế chính trị học ở Trường đại học Cambridge) công bố năm 1860 và có nhan đề Dự luật cải cách của ông Hare giản lược và giải thích. Tài liệu sau là sự trình bày rất sáng sủa và súc tích bản kế hoạch quy về những yếu tố giản dị nhất bằng cách lược bỏ một vài điều khoản nguyên bản của ông Hare, tuy bản thân chúng có lợi, nhưng được cho là làm giảm bớt đi tính giản dị nhiều hơn là gia tăng tính hữu dụng thực tiễn của kế hoạch. Càng nghiên cứu những công trình này sâu hơn, càng có ấn tượng mạnh mẽ hơn về tính khả thi hoàn hảo của kế hoạch và những lợi thế phi thường của nó, tôi xin mạnh dạn dự đoán như thế. Những ưu điểm ấy và vô số những điều khoản khác nữa khiến tôi tin rằng kế hoạch của ông Hare thuộc loại những cải tiến vĩ đại nhất từng được tạo nên trong lý thuyết và thực hành chính quyền.

Trước hết, nó đảm bảo cho sự đại diện tỷ lệ theo số đông của bất cứ cấp bầu cử nào: không phải chỉ riêng đối với hai đảng lớn có số nhóm thiểu số đông người không chừng là ít tại những địa phận đặc thù, mà còn đối với mỗi nhóm thiểu số của toàn thể quốc gia bao gồm một số khá đông người đủ để được quyền có đại diện, dựa trên các nguyên tắc công lý bình đẳng. Thứ nữa, sẽ không còn cử tri nào như hiện nay được đại diện bởi một đại biểu nào đó mà anh ta không lựa chọn. Mỗi thành viên của Nghị viện sẽ là đại biểu nhất trí của một đơn vị bầu cử. Anh ta có thể đại diện cho một ngàn cử tri, hay hai ngàn, hay năm ngàn, hay mười ngàn, như chỉ tiêu có thể quy định, mỗi cử tri trong số ấy có thể không chỉ bỏ phiếu cho anh ta, mà còn lựa chọn anh ta từ khắp cả nước; không đơn thuần phân loại từ hai hay ba trái cam không chừng là thối mà thị trường địa phương có thể đưa ra duy nhất cho anh ta chọn lựa. Trong quan hệ này mối ràng buộc giữa cử tri và đại biểu hẳn sẽ có được sự bền chặt và giá trị mà hiện nay chúng ta chưa từng trải nghiệm thấy. Mỗi cử tri hẳn sẽ đích thân đồng nhất mình với đại biểu, và đại biểu với các cử tri của mình. Mỗi cử tri đã bỏ phiếu cho anh ta hẳn đã làm thế hoặc bởi vì trong số tất cả các ứng viên vào Nghị viện được một số cử tri nhất định biết đến là có triển vọng, thì anh ta là người bày tỏ tốt nhất ý kiến của chính cử tri, hoặc bởi vì anh ta là một trong những người có tài năng và tính cách được cử tri kính trọng nhất và là người mà cử tri sẵn lòng tin cậy nhiều nhất là sẽ suy nghĩ vì họ. Nghị sĩ hẳn sẽ đại diện cho những người chứ không phải đơn thuần cho gạch và vữa của thành phố – ấy là chính những người bỏ phiếu chứ không đơn thuần là một số ít thí chủ đóng góp cho nhà xứ hay những vị danh cao vọng trọng của giáo khu. Tuy nhiên, tất cả những gì đáng được giữ lại trong sự đại diện của các địa phương đều nên giữ lại. Dù cho Nghị viện của quốc gia nên dính dáng tới các sự vụ thuần túy địa phương ít nhất như có thể được, nhưng trong lúc vẫn còn phải dính dáng đến chúng, thì nên có những nghị sĩ biệt phái chăm lo cho lợi ích của mỗi địa phương quan trọng: vẫn hãy còn phải có những người như thế. Trong mỗi địa phương có đủ số cử tri cho chỉ tiêu trong phạm vi địa phận, nói chung đa số hẳn sẽ ưu tiên mong muốn được đại diện bởi một người trong số họ; bởi một người hiểu biết rõ địa phương và cư trú tại địa phương, nếu có được bất cứ người nào như thế trong số ứng viên thì người đó chứ không phải ai khác sẽ có đủ tư cách làm đại diện cho họ. Hẳn sẽ có những nhóm, chủ yếu là những nhóm thiểu số, không có khả năng làm một nghị sĩ địa phương đắc cử, những nhóm ấy sẽ để ý chờ đợi xem có ứng viên nào tại đâu đó có vẻ như sẽ thu được số phiếu bầu khác thêm vào số phiếu bầu của họ.

Trong tất cả các kiểu cách khả dĩ tạo dựng sự đại diện quốc gia thì kiểu cách này đem lại sự an toàn tốt nhất cho sự định phẩm trí tuệ đáng mong ước trong các đại biểu. Theo thừa nhận chung hiện nay thì sự thu nạp vào Hạ nghị viện ngày càng trở nên khó khăn hơn cho bất cứ người nào có tài năng và tính cách. Chỉ có những người có ảnh hưởng địa phương, hay là những người tiến thân bằng cách chịu chi tiền rộng rãi, hay là những người được một trong hai đảng lớn cử xuống từ các câu lạc bộ đảng ở London dựa trên lời mời của ba hay bốn thương nhân hay người được ủy quyền như là những người mà đảng có thể phải phụ thuộc vào phiếu bầu của họ trong mọi tình huống, chỉ có những người ấy là có thể đắc cử. Trong hệ thống của ông Hare thì những ai không ưa thích các ứng viên địa phương, hay những ai không thể thành công trong việc đưa ứng viên địa phương được họ ưu ái [vào Nghị viện], đều có thể điền vào lá phiếu của mình trong danh mục các ứng viên, những người được chọn từ tất cả những người danh tiếng trong quốc gia, có nguyên tắc chính trị chung mà họ có thiện cảm. Cho nên, hầu như mỗi người bằng cách nào đó làm cho mình được chú ý một cách chính trực, dù không có ảnh hưởng địa phương và không thề thốt trung thành với đảng chính trị nào, vẫn có thể có cơ hội công bằng thu đủ chỉ tiêu; với sự cổ vũ này thì những người như vậy có thể sẽ ra ứng cử với số đông cho tới nay chưa từng mơ thấy. Hàng trăm người tài năng có tư duy độc lập, những người tuyệt nhiên không có cơ hội nào được lựa chọn bởi đa số của bất cứ khu vực bầu cử nào đang hiện tồn, những người có các công trình hoặc những nỗ lực trong lĩnh vực nào đó hữu ích cho công chúng, khiến họ trở nên được biết đến và được tán thưởng bởi một số ít người hầu như tại mỗi địa phận của vương quốc; và nếu như mỗi phiếu bầu cho những người này tại mọi nơi có thể được tính cho họ, thì rất có thể họ sẽ hoàn tất được con số của chỉ tiêu. Không có cách nào khác khả dĩ kiến nghị được để cho Nghị viện có thể chắc chắn có được giới tinh hoa (élite) của đất nước.

Hệ thống bầu cử này nâng cao chuẩn mực trí tuệ của Hạ nghị viện không chỉ thông qua phiếu bầu của các nhóm thiểu số. Những nhóm đa số hẳn cũng sẽ bị bắt buộc phải chú ý tìm kiếm các nghị sĩ có tầm cỡ cao hơn nữa. Một khi những cá thể hợp thành đa số sẽ không còn quy giản về sự chọn lựa của Hobson nữa, sự lựa chọn hoặc là bầu cho người mà các nhà lãnh đạo địa phương đưa ra, hoặc là không bầu cho ai cả; một khi người được các nhà lãnh đạo đề cử cũng sẽ phải đọ sức cạnh tranh không phải chỉ với ứng viên của nhóm thiểu số, mà còn với tất cả những người đã thành danh trong nước mong muốn được phục vụ; lúc đó sẽ không thể nào còn gán ép được cho cử tri cái người đầu tiên tự giới thiệu mình với khẩu hiệu của đảng nơi cửa miệng và ba hay bốn ngàn đồng bảng trong túi. Nhóm đa số sẽ còn đòi hỏi có được ứng viên xứng đáng với sự lựa chọn của họ, nếu không họ sẽ bỏ phiếu ở chỗ nào đó và nhóm thiểu số sẽ chiếm ưu thế. Sự nô lệ của nhóm đa số đối với bộ phận nhỏ bé khả kính trong số đó sẽ bị chấm dứt: người thực sự tốt nhất và tài giỏi nhất trong những người có danh vọng địa vị ở địa phương sẽ được ưu tiên trước; nếu có thể thì sức mạnh địa phương của họ sẽ được củng cố thêm bởi những lá phiếu rải rác khắp nơi, chuyện như thế hẳn sẽ được biết như một phương cách có lợi thế vượt ra ngoài tính địa phương. Các đơn vị bầu cử sẽ trở thành những người cạnh tranh nhau để có được ứng viên tốt nhất và sẽ ganh đua nhau lựa chọn trong số người ở địa phương có kiến thức và quan hệ, tìm ra những ai nổi bật nhất về mọi phương diện khác.

Xu hướng tự nhiên của chính thể đại diện, cũng như của nền văn minh hiện đại, là hướng về tập thể tầm thường: và xu hướng này được gia tăng nhờ vào tất cả những quy giản và mở rộng quyền bầu cử đem lại hiệu quả là đặt quyền lực chủ chốt vào tay những giai cấp mỗi lúc một thấp hơn so với trình độ kiến thức cao nhất trong cộng đồng. Nhưng dẫu cho các trí tuệ và tính cách cao cấp rồi đây nhất định sẽ rất phong phú dồi dào, thì vẫn có sự khác biệt lớn lao của tình huống là liệu những người ấy có được lắng nghe hay không được lắng nghe. Trong nền dân chủ giả hiệu, thay vì đem lại sự đại diện cho tất cả, lại đưa đến sự đại diện riêng cho những nhóm đa số địa phương, tiếng nói của nhóm thiểu số có kiến thức có thể không có được cơ quan ngôn luận nào hết trong hội đồng đại biểu. Một thực tế được thừa nhận là trong nền dân chủ của nước Mỹ xây dựng trên mô hình khiếm khuyết ấy, những thành viên có văn hóa cao thường ít khi chịu ứng cử ngay cả vào quốc hội hay các Hội đồng lập pháp Tiểu bang, nên ít có khả năng họ được đắc cử, ngoại trừ những người trong số ấy sẵn sàng hy sinh quan điểm riêng cũng như kiểu cách xét đoán của mình và trở thành những cái loa phát ngôn lệ thuộc cho những kẻ thấp kém hơn họ về tri thức.

Giá như mà một kế hoạch giống như của ông Hare may mắn được đệ trình cho những nhà sáng lập minh triết và giàu lòng yêu nước của nước Mỹ cộng hòa, thì các Quốc hội Liên bang và Tiểu bang hẳn đã có được những người xuất sắc ấy và nền dân chủ hẳn đã được miễn trừ khỏi cái điều đáng hổ thẹn lớn nhất và một trong những cái xấu xa kinh khủng nhất của nó. Hệ thống đại diện cá nhân do ông Hare đề xuất hầu như là có tính đặc trị chống lại cái xấu xa này. Nhóm thiểu số có kiến thức phân tán ở khắp các khu vực bầu cử có thể hợp nhất lại để làm đắc cử một số đại biểu tỷ lệ theo số đông của chính họ, là những nhân vật có tài năng nhất mà đất nước có được. Họ sẽ bị thúc giục mạnh mẽ nhất để chọn ra những nhân vật như thế, vì rằng họ không có cách nào khác để làm cho sức mạnh thiểu số số học của họ nói lên được những điều lớn lao đáng kể. Những đại biểu của đa số, ngoài việc họ sẽ tự nâng cao phẩm chất của mình do tác động của hệ thống, cũng sẽ không có được toàn bộ trận địa cho riêng mình nữa. Họ hẳn là vẫn có số đông nhiều hơn nhóm đại biểu khác, tương ứng với một giai tầng cử tri có số đông nhiều hơn giai tầng khác trong nước: họ luôn có thể thắng phiếu những đại biểu khác, nhưng họ sẽ phải phát biểu và bỏ phiếu trong sự hiện diện của những đại biểu ấy và chịu sự phê phán của những người này. Khi nảy sinh ra bất cứ sự khác biệt nào, họ sẽ phải đương đầu bằng lý lẽ với những luận cứ của thiểu số có kiến thức, ít nhất thì cũng phải có sức thuyết phục bề ngoài; và vì rằng họ không thể làm như là phát biểu với những người đã sẵn nhất trí, đơn giản coi họ là có lẽ phải, cho nên thi thoảng xảy ra trường hợp họ cũng bị thuyết phục rằng họ sai. Vì nói chung họ hẳn cũng là những người có thiện chí (chờ đợi điều này có thể là rất hợp lý đối với một sự đại diện quốc gia được lựa chọn công bằng), đầu óc họ có thể sẽ tự nhiên được nâng lên do ảnh hưởng của những đầu óc mà họ đã tiếp xúc hay thậm chí xung đột. Những chiến sĩ của các học thuyết không được ưa chuộng hẳn sẽ không truyền bá các luận cứ của mình đơn thuần trong sách vở và báo chí mà chỉ riêng phe mình đọc thôi; các đảng viên thường đối lập nhau hẳn sẽ đối đầu trực tiếp với nhau và sẽ có được một sự so sánh công bằng về sức mạnh trí tuệ trước mắt cả đất nước. Khi ấy hẳn sẽ thấy được liệu có phải ý kiến đã thắng được về số phiếu bầu cũng sẽ thắng được nữa không, nếu giả sử lá phiếu bầu được cân về trọng lượng cũng giống như được đếm về số lượng.

Đám đông quần chúng thường có bản năng chân xác để nhận ra được một người tài năng, khi người ấy có phương tiện phô bày khả năng của mình trong một lĩnh vực công bằng trước mặt họ. Nếu một người như thế không đạt được ảnh hưởng xứng đáng với trọng lượng của mình thì lỗi là do những định chế và tập quán đã cách ly khỏi sự chú ý của công chúng. Trong các nền dân chủ thời xưa không có cách nào để cách ly bất cứ một người tài năng nào: bục diễn thuyết mở ngỏ cho họ; họ chẳng cần sự đồng ý của ai để trở thành người chỉ bảo cho công chúng. Trong một chính thể đại diện thì không như thế; và những bạn hữu tốt nhất của nền dân chủ đại diện khó mà có thể không e ngại cho những người như Themistocles hay Demosthenes(*), những lời chỉ bảo của họ ắt hẳn sẽ cứu nguy cho quốc gia, nhưng họ lại rất có thể suốt cả đời không sao đắc cử được. Tuy nhiên, nếu tại hội đồng đại biểu có mặt những đầu óc hạng nhất của đất nước ngay như là số ít đi nữa, dẫu cho phần còn lại chỉ là những đầu óc hạng trung bình, thì ảnh hưởng của những bộ óc dẫn đường ấy chắc chắn cũng làm cho người ta cảm nhận thấy rõ rệt trong những sự cân nhắc chung, dù mọi người đều biết rằng những bộ óc này thường có sắc thái đối lập lại với ý kiến và cảm nhận của công chúng. Tôi không sao quan niệm được một kiểu cách nào khác lại có thể khiến cho sự có mặt của những đầu óc như thế sẽ đảm bảo tác động thật tích cực đến vậy, so với phương pháp mà ông Hare kiến nghị.

Bộ phận này của Quốc hội hẳn cũng thích hợp làm cơ quan ngôn luận có chức năng xã hội lớn lao mà chưa có điều khoản nào trong bất kỳ nền dân chủ đang hiệu hữu hướng tới chức năng ấy, nhưng không một chính quyền nào có thể thường xuyên thiếu nó mà lại không bị suy đồi và tan rã tất yếu. Các chức năng ấy có thể gọi là chức năng Phản kháng. Trong mỗi chính quyền đều có một lực lượng nào đó mạnh hơn tất cả các lực lượng còn lại; và cái lực lượng mạnh nhất ấy có khuynh hướng muốn vĩnh viễn trở thành quyền lực duy nhất. Phần nào đó là do chủ tâm, và phần nào đó là không cố ý, nó luôn luôn cố làm cho mọi thứ đều uốn theo nó; nó còn chưa hài lòng, chừng nào vẫn có cái gì đó đối đầu chống lại nó, chừng nào vẫn có ảnh hưởng nào đấy không hòa hợp với tinh thần của nó. Vậy mà nếu nó đàn áp thành công mọi ảnh hưởng đối địch, đúc nặn mọi thứ theo kiểu mẫu của nó, lúc ấy tại đất nước đó sự cải tiến chấm dứt và sự suy tàn bắt đầu. Sự cải tiến nhân văn là sản phẩm của nhiều nhân tố, và xưa nay chưa hề có lực lượng nào là thành phần của nhân loại mà lại bao gồm được hết các nhân tố ấy: ngay cả lực lượng tốt nhất cũng chỉ bao gồm được một số điều tốt cần thiết và những điều tốt còn lại phải được dẫn xuất ra từ nguồn gốc khác, nếu sự tiến bộ vẫn được tiếp tục. Không có cộng đồng nào tiếp tục tiến bộ dài lâu mà lại không có lúc xung đột giữa lực lượng mạnh nhất và lực lượng đối địch nào đó trong cộng đồng; giữa các quyền uy tinh thần và thế tục; giữa quân đội chính quy hay địa phương và những giai tầng làm ăn dân sự; giữa nhà vua và dân chúng; giữa những người theo chính thống giáo và những người cải cách tôn giáo. Khi sự chiến thắng của một bên là hoàn toàn đến nỗi chấm dứt hẳn sự xung đột và không còn có xung đột nào khác nữa, khi ấy tiếp theo sau sẽ là sự đình đốn và rồi sẽ là sự suy tàn. Uy thế của nhóm đa số số học là ít bất công hơn và về toàn cục mà xét cũng ít nguy hại hơn so với nhiều trường hợp khác, nhưng nó cũng có chính cùng cái loại nguy cơ như thế, mà có phần còn chắc chắn hơn; vì lẽ khi chính quyền nằm trong tay Một người hay một Số ít thì cái Số đông luôn tồn tại như một lực lượng đối địch, có thể không bao giờ đủ mạnh để kiểm soát người khác, nhưng ý kiến và cảm nghĩ của họ là một sự nâng đỡ có tính đạo đức và thậm chí có tính xã hội đối với tất cả những ai chống đối lại bất cứ xu thế nào của quyền uy cai trị, dù là do nhận thức hay do mâu thuẫn lợi ích. Nhưng khi Dân chủ là tối thượng thì không có cái Một người hay một Số ít đủ mạnh để cho ý kiến bất đồng và lợi ích bị tổn hại hay bị đe dọa dựa dẫm vào được. Khó khăn lớn nhất của chính quyền dân chủ cho tới nay hình như là ở việc làm sao bảo đảm trong một xã hội dân chủ có được cái mà các hoàn cảnh từ trước tới nay trong mọi xã hội vẫn duy trì được vượt trội hơn những cái khác – ấy là một sự nâng đỡ có tính xã hội, một điểm tựa (point d’appui), cho sự kháng cự cá nhân chống lại các khuynh hướng của quyền lực cai trị; một sự bảo hộ, một điểm hồi sức cho những ý kiến và những lợi ích mà những quan điểm của công luận có uy thế đang lên không tán thành. Do thiếu một điểm tựa như thế mà những xã hội cổ đại, và, trừ vài ngoại lệ, cả những xã hội hiện đại đều hoặc là rơi vào tan rã, hoặc là trở thành tĩnh tại (đồng nghĩa với sự sa đọa dần mòn) thông qua ưu thế độc nhất thuộc về chỉ riêng một bộ phận của những điều kiện an sinh xã hội và tinh thần.

Giờ đây thì hệ thống Đại diện Cá nhân sẽ thích hợp để cung ứng cái còn thiếu lớn lao ấy theo một cung cách hoàn hảo nhất cho những tình huống của xã hội hiện đại. Chỉ có một phần tư trong hệ thống này kiếm tìm một phần bổ sung hay một sự hiệu chỉnh trọn vẹn cho những bản năng của một tập hợp đa số mang tính dân chủ, ấy là nhóm thiểu số có kiến thức: thế nhưng trong kiểu cách thông thường xây dựng nền dân chủ thì nhóm thiểu số này không có cơ quan ngôn luận: hệ thống của ông Hare sẽ đảm bảo có được cơ quan ngôn luận ấy. Những đại biểu được bầu vào Nghị viện bởi khối tập hợp những nhóm thiểu số có thể tạo nên cơ quan ngôn luận ấy thật hoàn hảo nhất. Một tổ chức riêng rẽ của những giai tầng có kiến thức, ngay như nếu nó là khả thi, hẳn sẽ gây nên sự ghen ghét và chỉ có thể thoát khỏi bị tấn công bằng cách hoàn toàn không gây ảnh hưởng chi hết. Nhưng nếu bộ phận tinh hoa (élite) của những giai tầng ấy lập thành một bộ phận của Nghị viện bởi cùng danh hiệu giống như những bộ phận đại biểu khác – đại diện cho cùng một số lượng công dân, cùng một phân số của ý nguyện quốc dân – thì sự hiện diện của họ sẽ không thể gây mếch lòng ai hết, trong khi họ lại ở vào địa vị thận lợi nhất trong cả hai việc là đưa ra ý kiến của mình và làm cho những lời bàn bạc của mình được lắng nghe về mọi chủ đề quan trọng, cũng như tham gia tích cực vào các hoạt động công quyền. Những tài năng của họ có lẽ còn đóng góp lớn hơn so với số lượng người của họ chia sẻ công việc cầm quyền thực sự; giống như những người dân Athens không giao phó những chức năng công quyền quan trọng cho Cleon hay Hyperbolus(*) (việc sử dụng Cleon tại Pylos và Amphipolis là thuần túy ngoại lệ), nhưng Nicias, và Theramenes, và Alcibiades(*) lại luôn được sử dụng cả ở trong nước lẫn ở nước ngoài, dù ai cũng biết là những người Athens có cảm tình với nền chính trị tập đoàn trị hơn là với nền dân chủ. Nhóm thiểu số có kiến thức trong bỏ phiếu thực tế chỉ được tính theo số lượng của họ, nhưng họ có tác dụng lớn hơn nhiều như một quyền lực tinh thần nhờ vào tri thức của họ và vì ảnh hưởng của họ lên bộ phận còn lại [của cộng đồng]. Khả năng [hạn chế] của con người khó có thể mưu cầu một sự sắp đặt thích ứng tốt hơn nữa để duy trì công luận trong phạm vi hợp lẽ phải và công bằng, cũng như để đề phòng những ảnh hưởng xấu tấn công vào phía yếu hơn của nền dân chủ. Một tập hơn dân chúng dân chủ được bảo đảm bằng phương cách này, mà bất cứ phương cách nào khác cũng không làm nổi, để có được những nhà lãnh đạo có trí tuệ và chí khí cao hơn bản thân dân chúng. Nền dân chủ hiện đại ắt sẽ có những Pericles của mình đôi khi xuất hiện và sẽ có nhóm người hướng dẫn tài giỏi thường xuyên có mặt.

Tất cả những tập hợp lý lẽ nêu trên, có tính chất cơ bản nhất, đứng ở bên phía khẳng định của vấn đề, vậy có những gì ở bên phía phủ định? Một khi dân chúng bị xúi giục có thể không cho phép có bất cứ khảo sát thực sự nào đối với một điều gì mới mẻ, thì sẽ chẳng có gì được khảo sát cả. Chuyện sẽ là như vậy, nếu có những người, núp dưới chiêu bài bình đẳng công lý, nhưng lại chỉ nhằm mục đích thay thế giai cấp uy thế đang lên từ những người giàu có thành những người nghèo, những kẻ như vậy tất nhiên sẽ không tán thành một sơ đồ đặt cả hai bên ở cùng một mức độ. Nhưng tôi không tin rằng hiện nay lại có một mong ước như thế hiện hữu trong các tầng lớp lao động ở đất nước này, tuy rằng tôi không dám bảo đảm là sẽ không có hiệu quả gì trong tương lai từ những mưu mô gian xảo của bọn cơ hội và mị dân nhằm kích động cái mong ước ấy. Tại Hợp Chúng Quốc, nơi mà nhóm đa số số học từ lâu đã nắm hoàn toàn nền chuyên chế tập thể, rất có thể họ cũng không vui lòng lìa bỏ mong ước ấy, giống như nền chuyên chế của một bạo chúa đơn nhất hay một chế độ quý tộc. Nhưng tôi tin rằng nền dân chủ của nước Anh vẫn còn hài lòng với sự bảo hộ chống lại sự lập pháp giai cấp của những kẻ khác, sẽ không yêu sách đòi đến phiên mình cũng phải được thực thi quyền lực.

Trong những người có vẻ phản đối lại hệ thống của ông Hare, một số bày tỏ suy nghĩ rằng kế hoạch này không thể thực hiện được; thế nhưng người ta sẽ thấy họ thường là những người chỉ mới nghe nói về kế hoạch ấy hoặc chỉ mới khảo sát sơ sài qua loa mà thôi. Một số khác không sao có thể chịu nổi sự mất mát của cái mà họ gọi là bản sắc địa phương của sự đại diện. Vì đối với họ, quốc gia không phải cấu tạo nên từ những con người mà từ những đơn vị nhân tạo, tác phẩm của môn địa lý và thống kê. Nghị viện phải đại diện cho các tỉnh thành và quận huyện chứ không đại diện cho những con người. Nhưng chẳng ai định thủ tiêu các tỉnh thành và quận huyện cả. Có thể coi như là tỉnh thành và quận huyện sẽ được đại diện khi những người cư ngụ ở đó được đại diện. Tình cảm địa phương không thể hiện hữu mà lại không có những ai đó cảm nhận thấy tình cảm ấy; cũng chẳng có lợi ích địa phương nào mà lại không có ai đó quan tâm đến lợi ích ấy. Nếu những con người có những tình cảm và lợi ích ấy được chia phần thích đáng của sự đại diện, thì những tình cảm và lợi ích ấy được đại diện cùng chung với những tình cảm và lợi ích khác của những con người đó. Nhưng tôi không hiểu nổi tại sao những tình cảm và lợi ích xếp đặt loài người theo địa phương lại phải là sự quan tâm duy nhất xứng đáng được đại diện; hay là tại sao những người có tình cảm và lợi ích khác mà họ coi trọng hơn những tình cảm và lợi ích mang tính địa lý lại phải bị hạn chế trong khi những tình cảm và lợi ích phải là nguyên tắc phân loại chính trị duy nhất của họ. Cái ý niệm cho rằng Yorkshire và Middlesex có những quyền năng tách rời với cư dân của những nơi ấy, hay là cho rằng Liverpool và Exeter là những đối tượng thích đáng cho sự chăm lo lập pháp trong sự phân biệt tách rời với dân chúng của những nơi ấy, là cái thứ ý niệm thật lạ lùng của trò lừa bịp ngôn từ.

Tuy nhiên, nói chung những người phản đối gạt phắt đi vấn đề này bằng cách quả quyết rằng nhân dân nước Anh sẽ không bao giờ đồng ý với hệ thống kiểu như vậy. Tôi không dám nói đoan chắc nhân dân nước Anh có thể nghĩ gì, thế mà những người đưa ra một lời phán quyết giản lược như vậy về khả năng hiểu thấu và xét đoán của nhân dân Anh, lại cho là không cần thiết phải xem xét cái gì là đúng cái gì là sai, trước khi quả quyết rằng nhân dân nhất định sẽ bác bỏ nó. Về phần mình, tôi không nghĩ rằng nhân dân Anh xứng đáng bị bêu xấu không cần xét xử như là loại người giữ thành kiến không thể vượt qua nổi đối với bất cứ điều gì có thể chứng minh được là tốt cho bản thân mình hay cho những người khác. Tôi cũng thấy là khi những thành kiến khăng khăng cố chấp một cách ngoan cố, thì không ai có lỗi nhiều hơn cái người đưa ra tuyên cáo, rằng những thành kiến đó là không thể vượt qua nổi, như là một kiểu tự tha thứ cho mình trong việc không tham gia vào nỗ lực xóa bỏ chúng. Bất cứ thành kiến nào cũng sẽ là không vượt qua nổi, nếu những người không đồng tình với nó lại luồn cúi xu phụ nó, lại tâng bốc nó, lại chấp nhận nó như là một quy luật tự nhiên. Tuy nhiên, tôi tin rằng trong trường hợp này thì nói chung, những người đã nghe nói về đề nghị, cũng không có thái độ thù địch nào đối với nó khác hơn là sự ngờ vực lành mạnh đối với tất cả những điều mới mẻ chưa được thảo luận đầy đủ để làm bộc lộ rõ tổng thể những điều tán thành và phản đối của vấn đề. Trở ngại nghiêm trọng duy nhất là sự chưa quen: trở ngại này quả thật là kinh khủng bởi vì trí tưởng tượng rất dễ cam chịu chấp nhận một sự thay đổi lớn về nội dung hơn là một thay đổi thật nhỏ về tên gọi và hình thức. Thế nhưng khi có một giá trị thật sự nào đó trong một ý tưởng thì sự chưa quen là một thứ bất lợi chỉ cần có thời gian là có thể xóa bỏ. Và ở thời kỳ của thảo luận cũng như của sự thức tỉnh lợi ích trong cải tiến nói chung như hiện nay thì những gì phải là công việc của hàng thế kỷ xét theo hình thức, thường khi chỉ lại cần vài năm thôi [là thực hiện được].

Từ kỳ xuất bản lần đầu của bản Luận thuyết này đã có nhiều phê bình chống đối lại kế hoạch của ông Hare, ít nhất cũng chứng tỏ có sự khảo sát nó thật cẩn thận và một sự xem xét có trí tuệ nhiều hơn so với trước đây đối với những kỳ vọng của bản luận thuyết. Đây là một tiến bộ tự nhiên của sự thảo luận cho những cải tiến lớn lao. Lúc đầu những kỳ vọng của luận thuyết gặp phải thành kiến mù quáng và những luận cứ [chống lại] mà chỉ có thành kiến mù quáng mới gắn được cho chúng giá trị nào đó. Trong lúc thành kiến suy yếu đi, những luận cứ được nó sử dụng một thời gian nào đó lại gia tăng sức mạnh; khi bản kế hoạch được hiểu rõ hơn thì những bất tiện không tránh được của nó và những tình huống chống lại nó đồng thời cũng phơi bày được tất cả những điều lợi mà bản kế hoạch thực chất có khả năng thực hiện, tất cả những sự phản đối có vẻ hữu lý mà tôi nhận xét, vẫn còn thiếu một cái mà những người ủng hộ bản kế hoạch còn chưa tiên liệu, xem xét và thảo luận đến, vì cho rằng nó không hiện thực và dễ dàng vượt qua.

Sự phản đối nghiêm trọng nhất lại là sự phản đối được giải đáp vắn tắt nhất; ấy là giả định cho rằng không thể nào chống được sự gian lận, hay sự nghi ngờ gian lận, trong các tác nghiệp của Cơ quan Bầu cử Trung ương. Tính công khai và sự tự do hoàn toàn trong kiểm tra các lá phiếu sau cuộc bầu cử là những biện pháp an toàn được dự phòng, nhưng người ta vẫn cho rằng chúng có thể vô tác dụng, bởi vì để kiểm tra việc đắc cử thì một cử tri phải đi qua tất cả các công đoạn đã thực hiện bởi toàn thể các viên chức. Đây có thể là một sự phản đối rất có trọng lượng, nếu như sự kiểm tra đắc cử nhất thiết phải do mỗi cử tri thực hiện từng người một. Tất cả những gì một cử tri riêng lẻ có thể kiểm tra được là kiểm tra xem lá phiếu của bản thân anh ta đã được sử dụng thế nào; nhằm mục đích này thì sau một khoảng thời gian thích hợp mỗi lá phiếu phải được hoàn trả lại về nơi xuất phát của nó. Còn những gì cử tri không thể làm thì ứng viên bị thất cử và các thuộc hạ của ông ta sẽ làm thay. Người nào trong số những ứng viên thất cử nghĩ rằng lẽ ra ông ta phải đắc cử, có thể tự mình hoặc kết hợp với nhiều người thuê một hãng trung gian để kiểm tra toàn bộ quá trình bầu chọn; và nếu họ phát hiện thấy có sai sót cụ thể thì hồ sơ có thể chuyển cho một Ủy ban của Hạ nghị viện, Ủy ban này sẽ khảo sát và kiểm tra lại toàn bộ các tác nghiệp bầu chọn của quốc gia, chỉ tốn mất thời gian và tiền bạc bằng một phần mười so với thời gian và tiền bạc chỉ cho sự kiểm tra một trường hợp đắc cử riêng lẻ trước Ủy ban Bầu cử theo như hệ thống hiện nay đang có hiệu lực.

Giả sử như bản kế hoạch khả dĩ vận hành, chúng ta đã đề cập đến hai cách thức khiến cho lợi ích của nó không đạt được và còn sinh ra những hậu quả có hại. Thứ nhất, người ta bảo là những phe nhóm hay bè lũ, những kết hợp bè phái, những hội đoàn nhằm mục đích đặc thù theo kiểu như Liên minh Luật pháp bang Maine, Hội Bỏ phiếu kín hay Hội Giải phóng, hoặc những hội đoàn liên kết bởi lợi ích giai cấp hay cộng đồng tín ngưỡng tôn giáo, những hội đoàn như thế sẽ được trao quyền lực thái quá. Điều phản đối thứ hai là hệ thống sẽ bị sử dụng phục vụ cho các mục đích đảng phái. Một cơ quan trung ương của mỗi đảng chính trị sẽ gửi bản danh sách tất cả 658 ứng viên đi khắp nơi trong nước để những người ủng hộ đảng bỏ phiếu cho họ tại mỗi khu vực bầu cử. Số phiếu của họ có thể vượt xa số phiếu mà một ứng viên độc lập xưa nay có thể đạt được. Người ta đoan chắc rằng hệ thống “danh sách bầu cử” cũng giống như ở nước Mỹ, sẽ chỉ hoạt động thuần túy ưu ái cho những đảng được tổ chức rộng lớn khiến cho danh sách bầu cử của họ được chấp nhận mù quáng, phiếu bầu được bỏ để giữ gìn sự thống nhất trọn vẹn của đảng và khó mà có khi nào họ lại bị thất cử, ngoại trừ đôi khi xảy ra ở các nhóm bè phái hay các nhóm tập hợp nhau vì một ý tưởng kỳ quặc chung đã từng được đề cập đến.

Lời giải đáp cho những điều này có vẻ thật thuyết phục. Chẳng ai dám có ý tưởng cho rằng dựa theo kế hoạch của ông Hare hay bất cứ kế hoạch nào khác thì tính tổ chức sẽ không còn là lợi thế nữa. Những thành phần tản mạn bao giờ cũng ở vào thế bất lợi so với các hội đoàn có tổ chức. Vì lẽ bản kế hoạch của ông Hare không thể biến cải bản chất của các sự vật nên chúng ta buộc phải chắc rằng tất cả các đảng hay phe nhóm, dù lớn hay nhỏ nhưng được tổ chức lại, sẽ đều lợi dụng tối đa kế hoạch ấy để tăng cường ảnh hưởng của họ. Thế nhưng trong hệ thống đang hiện tồn thì những ảnh hưởng ấy đang là mạnh hơn hết. Còn những thành phần tản mạn thì đang tuyệt đối chẳng là cái gì hết. Những cử tri không ràng buộc với phe chính trị lớn nào cũng chẳng dính dáng với bất cứ nhóm ly khai bè phái nhỏ nào, chẳng có phương tiện gì làm cho lá phiếu của mình có giá trị. Bản kế hoạch của ông Hare cho họ phương tiện. Họ có thể sử dụng phương tiện khéo léo nhiều hay ít. Họ có thể nhận được phần chia sẻ ảnh hưởng tương xứng với họ hay được phần ít hơn. Nhưng dù họ làm gì đi nữa thì lợi ích thu được là rõ ràng. Và một khi đã giả định rằng mọi lợi ích nhỏ nhen hay một sự phối hợp nhằm một mục tiêu nhỏ nhen cũng có thể dẫn đến một tổ chức, vậy thì tại sao chúng ta lại phải cho rằng lợi ích lớn lao của trí tuệ và chí khí quốc gia sẽ vẫn là thứ duy nhất không được tổ chức lại? Nếu như có thể có những danh sách bầu cử của [phong trào] Hạn chế rượu mạnh, của Trường học cho trẻ nghèo và những thứ tương tự, thì tại một khu vực bầu cử cũng có thể có một con người đầy tinh thần đại chúng đủ để đưa ra một danh sách “giá trị cá nhân” và truyền bá danh sách ấy đi khắp vùng lân cận được lắm chứ? Và có thể là một nhóm người như thế nhóm họp tại London, lựa chọn ra những người xuất sắc từ một danh sách ứng viên mà không để ý đến những chia rẽ quan điểm mang tính kỹ thuật, rồi nhẹ nhàng công bố danh tính họ lên khắp các khu vực bầu cử thì không được sao? Cần phải nhớ rằng theo kiểu cách bầu cử hiện nay thì ảnh hưởng của hai đảng lớn là vô hạn: trong sơ đồ của ông Hare ảnh hưởng đó hẳn vẫn lớn, nhưng còn có giới hạn. Cả hai đảng ấy lẫn những phe nhóm bất kỳ nhỏ hơn đều không thể có số nghị sĩ đắc cử nhiều hơn con số theo tỷ lệ tương đối với số đảng viên của họ. Hệ thống danh sách bầu cử của Mỹ hoạt động trong những điều kiện trái ngược với điều này. Ở Mỹ những cử tri bỏ phiếu cho danh sách của đảng vì cuộc bầu cử tiến hành thuần túy theo đa số, và một lá phiếu bầu cho bất cứ người nào chắc chắn không nhận được đa số thì sẽ bị quẳng bỏ đi. Thế nhưng theo hệ thống của ông Hare thì một lá phiếu bầu cho một người có giá trị được biết đến, hầu như cũng có cơ hội đạt được mục tiêu giống như lá phiếu bầu cho một ứng viên của đảng. Vậy nên có thể hy vọng rằng mỗi đảng viên đảng Tự do hay Bảo thủ, là người có được gì đó ngoài chuyện là đảng viên Tự do hay Bảo thủ – tức là có được ưu tiên nào đó dành cho riêng bản thân anh ta bổ sung thêm vào ưu tiên cho đảng của anh ta – có thể xóa đi danh tính của các ứng viên không tiếng tăm và tầm thường của đảng và ghi tên một số người làm rạng danh cho đất nước vào đó thay thế cho họ. Khả năng xảy ra sự kiện này hẳn sẽ tác động xúi giục những người thảo ra bản danh sách của đảng không tự hạn chế trong những người nguyện một lòng với đảng, mà đưa vào cùng với họ cả những người danh vọng tầm cỡ quốc gia có thiện cảm với phía họ hơn là phía đối lập, trong những danh sách riêng rẽ.

Khó khăn thực sự là ở chỗ, vì chẳng cần phải che giấu rằng quả thật có khó khăn, những cử tri độc lập vốn là những người rất muốn bỏ phiếu cho những người có tài nhưng không được bảo trợ, nên họ có khuynh hướng gạch bỏ tên số ít những người như thế và điền vào những ứng viên thuần túy của đảng cho đủ số danh sách, khiến cho tăng thêm số phiếu chống lại những người mà họ ắt muốn ưu tiên đại diện cho mình. Cũng dễ dàng chữa trị được chuyện này, chỉ cần dùng phương cách áp đặt giới hạn cho số lượng phiếu bầu thứ cấp hay ngẫu nhiên. Có lẽ không có cử tri nào dựa trên tri thức của mình để có sự ưu tiên độc lập cho 658 hay thậm chí là cho 100 ứng viên. Chắc cử tri sẽ không phản đối lắm việc giới hạn sự tuyển chọn của anh ta ở con số hai mươi, năm mươi hay bất cứ con số nào đối với những ứng viên có khả năng phải vận dụng sự lựa chọn riêng của anh ta trong việc bỏ phiếu với tư cách cá nhân, chứ không phải với tư cách thuần túy đội ngũ của một đảng. Nhưng ngay như nếu không có giới hạn ấy thì điều xấu có lẽ cũng sẽ tự chữa khỏi được chẳng bao lâu sau khi hệ thống được thấu hiểu rõ hơn. Vô hiệu hóa điều này có thể trở thành mục tiêu tối thượng của tất cả những phe nhóm và bè lũ mà ảnh hưởng của chúng bị phản kháng mạnh mẽ đến thế. Bản thân mỗi phe lũ này là một thiểu số nhỏ, chúng có thể phát ra lời lẽ “Hãy chỉ bầu cho những ứng viên đặc biệt của bạn; hoặc ít nhất cũng cho những ứng viên ấy cơ hội đầy đủ mà sức mạnh số học của bạn cho phép, sao cho những ứng viên ấy nhận được đủ chỉ tiêu bằng lá phiếu thứ nhất hay cũng không bị xếp hạng thấp quá.” Và những cử tri không thuộc về bè lũ nào hết có thể rút ra bài học bổ ích cho mình.

Nhóm thiểu số phải có được lượng quyền lực đúng như họ phải có. Ảnh hưởng mà họ có thể sử dụng phải đúng bằng số phiếu bầu mà cử tri dành cho họ, không hơn chút nào; cứ cho là điều này được đảm bảo đi nữa thì họ vẫn có lý do đề cử các ứng viên như những đại biểu cho những mục tiêu đặc thù của họ, các ứng viên mà những đề cử khác cho họ khiến họ có khả năng nhận được phiếu bầu của các cử tri không thuộc các bè phái hay phe đảng. Thật đáng hiếu kỳ quan sát xem đường dây luận cứ bảo vệ cho hệ thống hiện hành đang đổi hướng xoay chiều tùy theo bản chất của sự công kích nhằm vào hệ thống này. Mới ít năm trước đây thôi luận cứ được ưa chuộng ủng hộ cho hệ thống đại diện thời đó là nhờ hệ thống ấy mà mọi “lợi ích” hay “giai cấp” đều được đại diện. Và chắc chắn là mọi lợi ích hay giai cấp có bất cứ tầm quan trọng nào phải được đại diện, tức là phải có được người phát ngôn hay người bênh vực tại Nghị viện. Thế nhưng, từ đó đã biện luận rằng một hệ thống phải được ủng hộ là cái đã đưa đến các lợi ích cục bộ chứ không chỉ những người biện hộ, trừ ra chính cái tòa án. Bây giờ thì sự đổi thay đã được nhìn nhận. Hệ thống của ông Hare làm cho việc lợi ích cục bộ chỉ huy toà án trở thành không thể xảy ra được, nhưng nó đảm bảo cho các lợi ích ấy có được những người bênh vực, thậm chí vì làm thế mà hệ thống này bị chỉ trích. Hệ thống này hợp nhất được những điểm tốt của sự đại diện giai cấp và những điểm tốt của sự đại diện theo số học, vì thế mà nó bị đả kích từ cả hai phía.

Tuy nhiên, những phản đối kiểu như thế không phải là khó khăn thực tế cho việc chấp nhận hệ thống; khó khăn thực tế chính là nhận xét bị thổi phồng lên đối với tính phức tạp của hệ thống, và nỗi hoài nghi đi kèm theo rằng liệu nó có khả năng thực hiện được hay không. Lời giải đáp đầy đủ duy nhất cho sự phản đối này sẽ là sự thử nghiệm thực tế. Khi những điều hơn lẽ thiệt của bản kế hoạch sẽ trở nên được biết đến phổ biến hơn và sẽ giành được sự ủng hộ rộng rãi hơn trong những người suy xét vô tư, thì một nỗ lực sẽ được tạo nên để đưa nó vào thử nghiệm trong một lĩnh vực hạn chế nào đó, như là bầu cử hội đồng đô thị của một tỉnh thành lớn nào đó. Một cơ hội đã bị bỏ mất, khi có quyết định chia cắt địa phận West Riding của Yorkshire nhằm mục đích phân cho địa phận này bốn ghế nghị sĩ; thay vì thử thách nguyên lý mới bằng cách duy trì khu vực bầu cử không chia cắt và cho phép một ứng viên được đắc cử nếu thu được một phần tư của toàn bộ số phiếu bầu hoặc là trong lá phiếu thứ nhất hoặc là trong lá phiếu thứ hai. Những thử nghiệm như thế hẳn sẽ là một thử nghiệm rất không hoàn hảo đối với giá trị của bản kế hoạch: nhưng hẳn chúng sẽ là thí dụ về kiểu cách hoạt động; chúng hẳn sẽ có thể khiến cho người ta tự thuyết phục rằng việc này không phải là bất khả thi; hẳn sẽ làm cho người ta quen thuộc với cơ chế của nó và cung cấp cho họ những tư liệu để phán xét xem, liệu những khó khăn được nghĩ là khủng khiếp ấy là thực hay chỉ là ảo thôi. Cái ngày mà Nghị viện sẽ phê chuẩn cho một thử nghiệm cục bộ như thế, tôi tin rằng sẽ khởi đầu cho một kỷ nguyên mới của Cải cách Nghị viện; nhằm tạo nên một kiểu mẫu cho Chính thể Đại diện thích hợp với thời kỳ trưởng thành và thắng lợi, khi chính thể ấy sẽ còn phải trải qua giai đoạn chiến đấu mà thế giới mới chỉ được thấy chính thể đó ở trong giai đoạn chiến đấu ấy thôi(*).

Nguyên tác: Representative government, John Stuart Mill.

Bản dịch: NXB Tri Thức, Nguyễn Văn Trọng và Bùi Văn Nam Sơn dịch, giới thiệu và chú thích.

Dịch giả:
Nguyễn Văn Trọng