Chính thể đại diện - Chương 6: Những yếu kém và những nguy cơ có khả năng xảy ra với chính thể đại diện
Những khuyết tật của bất cứ hình thức chính thể nào có thể hoặc là âm tính (negative) hay dương tính (positive). Khuyết tật là âm tính nếu hình thức chính thể không tập trung được đầy đủ quyền lực trong tay những người cầm quyền để họ hoàn tất những nhiệm vụ thiết yếu của chính thể; hay là nó không phát triển được những khả năng tích cực và những tình cảm xã hội của các cá nhân công dân một cách đầy đủ. Không có điểm nào nêu trên cần phải nói nhiều lời ở giai đoạn xem xét này của chúng ta.
Sự thiếu quyền lực thích đáng trong chính thể để giữ được trật tự và cho phép có sự tiến bộ trong dân chúng thường gắn liền với một trạng thái hoang dã và thô thiển của xã hội nói chung, hơn là với bất cứ hình thức đặc thù nào của liên minh chính trị. Khi một dân chúng quá gắn bó với sự độc lập hoang dã để có thể chịu đựng được một lượng quyền lực mà họ phải lệ thuộc vào vì lợi ích của chính họ, thì trạng thái của xã hội (như đã được quan sát thấy) còn chưa chín muồi cho [sự thiết lập] chính thể đại diện. Khi thời cơ cho chính thể ấy đã đến thì quyền lực thích đáng cho tất cả các mục đích cần thiết chắc sẽ nằm trong tay quốc hội; và nếu ngành hành pháp không được giao phó quyền lực đầy đủ thì chỉ có thể là do cảm xúc ganh ghét từ phía quốc hội đối với chính quyền, có lẽ điều này không bao giờ xảy ra, trừ phi quyền lực hiến pháp của quốc hội được phế truất những người cầm quyền khỏi chức vụ vẫn còn chưa được thiết lập đầy đủ. Ở nơi nào mà quyền năng của hiến pháp được thừa nhận về nguyên tắc và hoạt động đầy đủ trên thực tiễn thì không lo rằng quốc hội sẽ không phó thác cho các bộ trưởng của mình quyền lực đáng mong muốn; ngược lại, e rằng nguy cơ là ở chỗ quốc hội sẽ quá hoan hỉ ban phát quyền lực và quá không rõ ràng trong việc xác định phạm vi của nó, vì rằng quyền lực của bộ trưởng là quyền lực của cái hội đồng tạo nên nó và giữ cho nó như thế. Tuy nhiên, rất nhiều khả năng là quốc hội cứ thế sẽ phung phí quyền lực, nhưng rồi sau đó lại can thiệp vào việc thực thi quyền lực; có thể sẽ cho quyền lực cả khối, rồi lấy lại nó từng chi tiết bằng các đạo luật đơn lẻ ngày một gia tăng can thiệp vào công việc chính quyền, và đó là một trong những nguy cơ đối với một quốc hội kiểm soát. Điều xấu xa nảy sinh từ giả định này về việc lấy chức năng thực sự của việc cai trị thay thế cho chức năng phê bình và kiểm soát những người thực thi việc cai trị đã được xem xét kỹ ở chương trước rồi. Nếu không có niềm tin chung mạnh mẽ vào tính chất có hại của nó, sẽ không có lá chắn an toàn nào trong bản chất của sự vật để có thể đảm bảo chống lại sự can thiệp không thích đáng này.
Khuyết tật âm tính khác có thể có ở một chính thể là không làm cho những tài năng cá nhân, đạo đức, trí tuệ và tính tích cực của nhân dân được sử dụng đầy đủ, điều này đã được phơi bày tổng quát trong việc nêu ra những nguy hại đặc trưng của chế độ chuyên chế. Trong so sánh giữa một hình thức này và một hình thức khác của chính thể bình dân thì ưu thế nằm ở bên nào phân tán việc thực thi các chức năng công cộng một cách rộng rãi nhất; một mặt là bằng cách tước bỏ ít nhất quyền đi bầu, mặt khác là bằng cách mở ra cho tất các các tầng lớp công dân một sự tham gia rộng rãi nhất vào các chi tiết của các công việc tư pháp và hành chính, trong chừng mực việc này tương thích với các mục tiêu khác cũng quan trọng ngang bằng; như là việc xét xử tư pháp, việc thu nhận vào các công sở đô thị, và trên hết là sự công khai và tự do trong thảo luận nhiều nhất như có thể, nhờ đó không phải chỉ lần lượt một số ít cá nhân, mà toàn thể công chúng trong mức độ nào đó đều được tạo cơ hội để trở thành những người tham gia chính quyền và được chia sẻ sự huấn luyện cũng như việc rèn luyện trí tuệ thu nhận được từ đó. Việc minh họa xa hơn nữa những lợi ích này cũng như những mặt hạn chế mà những lợi ích này phải chống đỡ lại, tốt hơn là nên hoãn lại cho tới khi chúng ta nói về các chi tiết của công việc chính quyền.
Những xấu xa và nguy cơ dương tính của chính thể đại diện cũng như của bất cứ hình thức chính thể nào khác có thể quy về hai mục: thứ nhất là sự ngu dốt và sự bất tài nói chung, hay nói một cách nhẹ nhàng hơn, là không đủ phẩm chất trí tuệ trong việc kiểm soát chính thể; thứ hai là nguy cơ chính thể chịu ảnh hưởng của các lợi ích không đồng nhất với sự thịnh vượng chung của cộng đồng.
Điều xấu xa trước, sự thiếu phẩm chất trí tuệ cao, là một thứ mà người ta thường cho rằng chính thể bình dân có khả năng mắc phải ở mức độ lớn hơn bất cứ chính thể nào khác. Nghị lực của một quân vương, tính kiên định và sự khôn ngoan của giới quý tộc thường được cho là tương phản so với tính do dự và tính thiển cận của ngay cả một nền dân chủ có trình độ. Tuy nhiên, những ý kiến này không có cơ sở vững chắc nào như người ta nhầm tưởng khi mới thoạt nhìn vào.
So sánh với nền quân chủ đơn thuần thì chính thể đại diện về mặt này không hề ở vào thế bất lợi. Ngoại trừ thời kỳ thô lậu ra, nền quân chủ truyền ngôi, khi nó thực sự là như vậy và không phải là chế độ quý tộc trá hình, vượt xa nền dân chủ về sự bất tài trong mọi hình thức, sự bất tài thường được coi là đặc trưng của chính thể dân chủ. Tôi nói, ngoại trừ thời kỳ thô lậu, bởi vì trong trạng thái thực sự thô lậu của xã hội đều có được một sự đảm bảo khá nhiều cho trí tuệ và các khả năng tích cực của kẻ cầm đầu. Ý chí cá nhân của ông ta thường xuyên phải chạm trán với những trở ngại từ sự ngoan cố của các thần dân của ông ta và của những cá nhân mạnh mẽ trong số đó. Các tình huống của xã hội không cho phép ông ta bị cám dỗ đam mê các lạc thú xa hoa; tính tích cực thể xác và tinh thần, đặc biệt là tính tích cực chính trị và quân sự là những kích động chủ yếu của ông ta; và ông ta ít có được uy quyền và thậm chí đôi khi ít có được cả sự an toàn lâu dài cho ngôi vua của mình giữa những thủ lĩnh ngỗ ngược và những môn đệ vô luật pháp của ông ta, trừ phi ông ta có nhiều tính táo bạo cá nhân, tài khéo léo và năng lực. Lý do [giải thích] tại sao tài năng tính theo trung bình dưới triều Henries và Edwards(*) ở trong lịch sử nước ta lại cao đến thế, có thể nhận biết được qua số phận bi thảm của Edward II(*) và Richard II(*), qua cuộc nội chiến và những loạn lạc của vương triều John cùng người kế vị bất tài của ông ta(*). Thời kỳ hỗn loạn của cuộc Cải cách(*) cũng sản sinh ra vài vị quân vương nối ngôi xuất sắc, Elizabeth, Henri IV, Gustavus Adolphus(*); nhưng phần nhiều họ đều sinh ra trong nghịch cảnh, được thừa hưởng ngôi vua nhờ sự bất thành không lường trước trong việc kế ngôi của người thừa kế gần hơn, hoặc là phải tranh đấu với những khó khăn lớn lao trong lúc khởi đầu ngôi vị. Từ khi đời sống Âu châu có chiều hướng đi vào ổn định, bất cứ cái gì vượt lên trên mức bình thường ở trong vị quân vương kế vị đều trở thành cực kỳ hiếm hoi, trong khi đó mức trung bình chung thậm chí còn ở dưới mức bình thường, cả về mặt tài năng cũng như tính cách mạnh mẽ. Ngày nay một nền quân chủ chuyên chế theo hiến pháp chỉ duy trì được sự tồn tại của nó thông qua các phẩm chất của một bộ máy quan liêu thường trực, (ngoại trừ khi nó tạm thời nằm trong tay của một kẻ soán ngôi nào đó có khuynh hướng tích cực). Các Chính thể nước Nga và Áo, và thậm chí cả Chính thể nước Pháp, trong những điều kiện bình thường của nó đều là những chính thể tập đoàn trị (Oligarchies) của những quan chức mà đối với họ vị đứng đầu Nhà nước chẳng có việc gì làm ngoài việc chọn lựa các thủ lĩnh [của các tập đoàn ấy]. Tôi đang nói về tiến trình chính quy của việc cai trị ở các Chính thể ấy; bởi vì lẽ dĩ nhiên ý chí của vị nguyên thủ có thể quyết định một số hành vi đặc thù của chính quyền.
Những chính thể trong lịch sử tỏ ra xuất sắc vì giữ được khả năng trí tuệ và tính cách mạnh mẽ trong sự điều khiển công việc, nói chung đều là các chế độ quý tộc. Nhưng chúng đều là chế độ quý tộc của những công chức, không hề có một ngoại lệ nào. Tầng lớp cai trị thu hẹp tới mức mỗi thành viên, hay ít nhất là mỗi thành viên có nhiều ảnh hưởng, của cơ quan đều có khả năng biến việc công thành một công việc chuyên nghiệp và nghề nghiệp suốt đời, và họ thực sự đã làm như vậy. Giới quý tộc duy nhất đã biểu lộ năng lực cầm quyền cao và đã hành động theo các châm ngôn kiên định về chính sách thông qua nhiều thế hệ, đó là giới quý tộc La Mã và Venice. Tuy nhiên ở Venice, dẫu cho giới hưởng đặc quyền khá đông người, việc điều hành công việc thực sự được tập trung chặt chẽ nơi một tập đoàn đầu não nhỏ nằm trong cái tập đoàn đầu não [lớn], mà toàn bộ cuộc sống của họ được dành trọn cho việc nghiên cứu và điều khiển công việc nhà nước. Chính thể La Mã chia sẻ nhiều hơn tính cách của một chế độ quý tộc mở, giống như chế độ của chúng ta. Thế nhưng cơ quan cầm quyền thực sự, Thượng nghị viện (Senate), nói chung chỉ gồm duy nhất những người đã từng trải qua các chức vụ công, và những người hoặc là đã giữ, hoặc là đang chờ để giữ những chức vụ cao hơn của nhà nước, những người này nhận mối hiểm nguy phải chịu trách nhiệm nghiêm khắc vì thiếu khả năng và thất bại [trong công việc]. Một khi đã trở thành Thượng nghị sĩ là họ nguyện hiến đời mình cho việc điều hành các công vụ; họ thậm chí không được phép rời khỏi nước Italia, ngoại trừ trường hợp để thực hiện một công vụ; họ vẫn duy trì quyền lực và trách nhiệm của họ cho đến hết đời, trừ phi bị loại ra khỏi Thượng viện bởi những người giám sát do tính cách hay hạnh kiểm bị cho là đáng hổ thẹn. Trong một chế độ quý tộc được thiết lập như vậy, mỗi thành viên đều cảm nhận được tầm quan trọng cá nhân của mình hoàn toàn gắn chặt với phẩm giá và sự đánh giá của toàn thể nhân dân mà họ cai trị, và với vai trò mà họ có thể thể hiện trong các hội đồng. Phẩm giá và uy tín này của Thượng nghị viện hoàn toàn không liên quan gì tới sự thịnh vượng hay hạnh phúc của toàn thể khối công dân, và thường khi còn hoàn toàn không tương thích với nó. Nhưng chúng bị ràng buộc chặt chẽ với sự thành công bên ngoài và sự bành trướng của Nhà nước: nhờ theo đuổi mục tiêu hầu như duy nhất ấy mà các chế độ quý tộc của cả La Mã lẫn Venice đã biểu lộ ra một cách hệ thống đường lối hành động tập thể khôn ngoan và những tài năng cá nhân lớn lao cho việc cai trị, do những điều đó mà lịch sử đã ghi nhận sự vẻ vang cho các chế độ ấy một cách xứng đáng.
Vậy hình như những chính thể duy nhất, không có tính chất đại diện, dù dưới hình thức chế độ quân chủ hay quý tộc, mà có được kỹ xảo và khả năng chính trị cao và không phải là trường hợp ngoại lệ, đó là các chế độ quan liêu. Công việc cai trị đã nằm trong tay những người cai trị chuyên nghiệp; ấy là bản chất và ý nghĩa của chế độ quan liêu. Bất kể công việc được họ thực hiện là do họ đã được huấn luyện để làm công việc ấy hay là họ được huấn luyện vì họ phải làm công việc ấy, điều này tạo nên sự khác biệt lớn về nhiều phương diện, nhưng tuyệt nhiên không có ảnh hưởng nào đến đặc trung cơ bản của chế độ. Ngược lại, những chế độ quý tộc, giống như các chế độ quý tộc ở nước Anh, mà ở đó giai cấp chiếm hữu quyền lực giành được nó thuần túy nhờ vào địa vị xã hội của mình, trong khi không được huấn luyện đặc biệt hay nguyện hiến mình hoàn toàn cho quyền lực (và vì thế ở đó quyền lực không được vận hành trực tiếp mà thông qua các thiết chế đại diện được thành lập mang tính tập đoàn đầu não), về mặt tài năng trí tuệ đã nhiều phần sánh ngang được với các chế độ dân chủ; tức là những chế độ quý tộc ấy đã biểu lộ ra các phẩm chất như thế ở mức độ đáng kể chỉ trong thời kỳ hưng vượng tạm thời, khi mà những tài năng vĩ đại và được lòng dân liên kết hòa hợp với một vị thế lỗi lạc dành cho một người nào đó. Themistocles và Pericles(*), Washington và Jefferson(*), đã không còn hoàn toàn là những ngoại lệ trong một số chế độ dân chủ, nhưng nhất định là những ngoại lệ tuyệt vời nhiều hơn so với Chathams và Peels(*) của chế độ quý tộc mang tính đại diện của Anh quốc, hay thậm chí so với Sully(*) và Colberts của chế độ quân chủ quý tộc của nước Pháp. Một vị bộ trưởng vĩ đại trong những chính thể quý tộc của Âu châu hiện đại cũng là hiện tượng hầu như hiếm hoi giống như một ông vua vĩ đại vậy.
Vậy khi xét các thuộc tính trí tuệ của một chính thể, cần phải thực hiện việc so sánh giữa một nền dân chủ mang tính đại diện và một chế độ quan liêu; tất cả các chính thể khác có thể bỏ qua không tính đến. Và phải thừa nhận ở đây rằng về nhiều phương diện quan trọng, một chính thể quan liêu có ưu thế rất lớn. Chính thể ấy tích lũy kinh nghiệm, thu thập được những châm ngôn có tính truyền thống đã trải qua thử thách và được xem xét kỹ càng, và tạo thành các điều luật của tri thức thực hành thích đáng cho những người thực sự điều khiển công việc. Thế nhưng về mặt năng lực trí tuệ cá nhân, chính thể ấy không được thuận lợi bằng [chính thể dân chủ]. Cái căn bệnh làm khổ sở và thường giết chết các chính thể quan liêu, ấy là lề thói thủ cựu (routine). Các chính thể đó bị diệt vong là do các châm ngôn của chúng mang tính không-biến-đổi, và hơn nữa còn là do một định luật phổ quát khẳng định rằng, bất cứ cái gì trở thành lề thói thủ cựu đều mất đi cái nguồn gốc sống động của nó và khi không còn có được một tinh thần hoạt động ở bên trong nó nữa, nó sẽ đi xoay vòng quanh một cách máy móc, dù cho công việc dự tính thực hiện vẫn chưa làm xong. Một chế độ quan liêu luôn có xu hướng thoái hóa trở thành một tập-đoàn-nguyên-tắc-máy-móc (pedantocracy). Khi chế độ quan liêu là chính thể hiện thực thi cái tinh thần đoàn thể (như với dòng tu Jesuit) sẽ đánh gục cá tính của những thành viên xuất sắc hơn. Trong nghề nghiệp cai trị, cũng như trong mọi nghề nghiệp khác, cái ý tưởng duy nhất của số đông là làm cái mà họ đã được dạy; điều này đòi hỏi một chính thể bình dân phải tạo điều kiện cho sự hình thành con người thiên tài độc đáo ở trong số đông thắng thế được tinh thần cản trở của cái tầm thường được huấn luyện. Chỉ có ở trong một chính thể bình dân (bỏ qua sự tình cờ của một nhà vua chuyên chế rất minh trí) mà Ngài Rowland Hill(*) mới chiến thắng được ngành Bưu chính. Một chính thể bình dân đã phong chức ông ta vào trong ngành Bưu chính và làm cho hội đoàn dù không muốn vẫn phải tuân theo sự thúc đẩy của con người đã hợp nhất được tri thức chuyên môn với sự mạnh mẽ cá nhân và tính độc đáo. Việc chế độ quý tộc La Mã tránh được căn bệnh đặc trưng cho chế độ quan liêu này hiển nhiên là nhờ yếu tố đại chúng của nó. Tất cả các cơ quan đặc biệt, những cơ quan đem lại việc có chân trong Thượng viện cũng như các cơ quan mà các thượng nghị sĩ nhắm vào, đều phong chức thông qua bầu chọn đại chúng. Chính thể nước Nga là thí dụ minh họa cho cả hai mặt tốt và xấu của chế độ quan liêu; các châm ngôn cố định của nó hướng tới các mục tiêu được theo đuổi không chút nao núng với sự kiên định kiểu La Mã [liên tục] từ thời này qua thời khác; sự khéo léo phi thường của nó trong việc theo đuổi các mục tiêu nói chung; sự mục rữa nội tại thật khủng khiếp và thái độ thù địch bền vững có tổ chức đối với những cải tiến đến từ bên ngoài mà ngay cả quyền lực chuyên chế của một vị Hoàng đế cương nghị cũng hiếm khi hoặc chẳng bao giờ đủ sức vượt qua; cái lực cản bền bỉ của một hội đoàn xét về lâu dài là ghê gớm hơn năng lực thất thường của một con người. Chính thể Trung Hoa, một chế độ quan liêu của các vị Quan lại, theo sự hiểu biết của chúng tôi, là một thí dụ hiển nhiên nữa của cùng những phẩm chất và khiếm khuyết ấy.
Trong mọi hoạt động của loài người đều cần phải giữ cho những ảnh hưởng đối chọi nhau, cả cái này lẫn cái kia, được sống động và có hiệu lực, dẫu cho là vì bản thân những ích lợi thích đáng của chúng; và sự theo đuổi đơn nhất một đối tượng tốt, tách riêng rẽ khỏi đối tượng khác biệt nào đó phải đi kèm với nó, [sẽ dẫn đến] kết thúc không phải bằng sự dư thừa của cái này và sự thiếu đi của cái kia mà là sự suy tàn và mất mát của ngay cả cái đối tượng được đặc biệt chăm lo. Sự cai trị bởi những viên chức được huấn luyện không thể làm được cho đất nước những điều mà một chính thể tự do có thể làm được; nhưng có thể giả định, rằng nó có khả năng làm được những điều gì đó mà chính thể tự do tự thân nó không làm được. Tuy nhiên, chúng tôi thấy rằng một yếu tố bên ngoài sự tự do là cần thiết để cho sự tự do làm được ngay cả công việc của nó một cách hiệu quả hay bền vững. Và như vậy, sự tự do cũng không sản sinh ra được những hiệu quả tốt đẹp nhất của nó và thường sụp đổ toàn bộ, nếu không tìm được phương tiện để kết hợp sự tự do với nền hành chính được huấn luyện và thành thạo nghiệp vụ. Không thể có sự lưỡng lự quan trọng nào giữa chính thể đại diện và chế độ quan liêu hoàn hảo nhất có thể hình dung được, đối với những người đã chín muồi ở mức độ nào đó cho chính thể đại diện. Thế nhưng, đồng thời [với điều đó], một trong những mục tiêu quan trọng nhất của các thiết chế chính trị là đạt được nhiều nhất những phẩm chất của một thứ này hòa hợp được với thứ kia, bảo đảm cho cái lợi thế lớn của sự điều khiển công việc bởi những người thành thạo nghiệp vụ được nuôi dưỡng như một nghề nghiệp trí tuệ, trong chừng mực những phẩm chất đó được làm cho tương thích với sự kiểm soát chung thuộc quyền của các hội đồng đại diện cho toàn dân và [sự kiểm soát ấy] được thực thi nghiêm chỉnh. Nhiều điều có thể đạt được hướng tới mục tiêu đó bằng việc thừa nhận đường lối phân chia [chức năng] đã thảo luận ở chương trên giữa công việc cai trị theo nghĩa đen, vậy là công việc chỉ có thể được làm tốt sau khi có sự đào tạo chuyên môn đặc biệt, và những công việc như chọn lựa, theo dõi và khi cần thiết thì kiểm soát những người cai trị, những công việc đó, trong trường hợp này cũng như những trường hợp khác, thích đáng được trao cho những người hưởng lợi từ công việc được làm, chứ không trao cho những người thực hiện công việc. Không thể tạo ra được sự tiến bộ nào hướng tới đạt được một nền dân chủ thành thục, trừ phi nền dân chủ thuận nguyện để cho công việc đòi hỏi sự thành thạo phải được làm bởi những người thành thạo. Một nền dân chủ có khá nhiều việc để làm bằng cách tự đảm bảo cho mình đủ năng lực trí tuệ để làm công việc đích thực của mình, ấy là giám sát và kiểm tra.
Làm cách nào để có được và củng cố năng lực trí tuệ ấy, chính là một trong những vấn đề cần phải xem xét khi nghiên cứu sự thiết lập thích đáng của một hội đồng đại diện. Tỷ lệ thuận với sự thất bại của việc tạo lập hội đồng trong việc củng cố năng lực ấy là [những việc làm như] hội đồng sẽ xâm phạm vào địa hạt hành pháp bằng những đạo luật đặc biệt; hội đồng sẽ trục xuất một nội các tốt hoặc đề cao và ủng hộ một nội các tồi tệ; hội đồng sẽ nhắm mắt làm ngơ hoặc sẽ bỏ qua những sự lạm dụng tín nhiệm của họ, hội đồng sẽ bị lừa dối bởi những yêu sách không trung thực của họ hoặc sẽ từ chối không ủng hộ những người nỗ lực đáp ứng lại sự tín nhiệm một cách đoan chính; hội đồng sẽ khuyến khích hoặc áp đặt một chính sách chung đầy vị kỷ,
một chính sách chung thất thường và bốc đồng, một chính sách chung thiển cận, ngu dốt và đầy thiên kiến trong đối ngoại cũng như đối nội; hội đồng sẽ bãi bỏ những bộ luật tốt hoặc ban hành những bộ luật tồi tệ, đưa vào những điều xấu xa mới hoặc cứ ngoan cố bám vào những điều xấu xa cũ; hội đồng thậm chí sẽ là nguồn phát ra từ chính bản thân mình một cách nhất thời hay thường xuyên, có thể là do bốc đồng mê muội, việc khoan thứ hay nhắm mắt làm ngơ trước các kiện cáo, khiến cho luật pháp hoàn toàn bị gạt ra ngoài trong những trường hợp mà sự bình đẳng công lý không thể dung hợp được với ý kiến mà mọi người ưa thích. Đấy là một số trong những nguy cơ của chính thể đại diện xuất phát từ sự thiết lập tính đại diện mà không đảm bảo đầy đủ năng lực trí tuệ và tri thức trong quốc hội.
Tiếp theo đây chúng ta sẽ đề cập đến những tệ nạn xuất phát từ sự thịnh hành những kiểu cách hành động tại quốc hội bị sai khiến bởi những lợi ích độc ác (để sử dụng một cách nói của Bentham), tức là những lợi ích ít nhiều mâu thuẫn với lợi ích chung của cộng đồng.
Có sự thừa nhận phổ quát rằng phần lớn những cái xấu xa xảy ra ở các chính thể quân chủ và quý tộc đều xuất phát từ nguyên nhân ấy. Lợi ích của nhà vua hay lợi ích của giới quý tộc, dù là lợi ích tập thể hay của cá nhân các thành viên, đều được gia tăng, hoặc họ nghĩ rằng phải được gia tăng, bởi sự điều hành trái ngược với sự đòi hỏi của lợi ích chung của cộng đồng. Thí dụ như lợi ích của chính quyền là đánh thuế nặng, còn lợi ích của cộng đồng là đánh thuế thật ít trong phạm vi mà các chi phí cần thiết của chính quyền tốt cho phép. Lợi ích của nhà vua và của giới quý tộc cầm quyền là nắm giữ và thực thi quyền lực đối với nhân dân không có giới hạn, ép buộc họ uốn theo ý chí và những ưa thích của kẻ cầm quyền. Lợi ích của nhân dân là chịu sự kiểm soát thật ít về mọi phương diện trong phạm vi phù hợp với việc đạt được những mục tiêu chính đáng của chính thể. Lợi ích [thực], hoặc là lợi ích biểu kiến và giả định của nhà vua hay giới quý tộc là không cho phép có sự kiểm duyệt nào đối với họ, ít nhất là trong bất cứ hình thức nào mà họ có thể cho là thách thức quyền lực của họ hay can thiệp nghiêm trọng vào quyền tự do của họ. Lợi ích của nhân dân là phải có sự tự do đầy đủ trong việc kiểm duyệt đối với mọi viên chức công quyền, và đối với mọi hành vi và biện pháp của công quyền. Lợi ích của một giai tầng cầm quyền, dù là giới quý tộc hay vương triều quý tộc, là vơ về cho mình đủ mọi thứ đặc quyền bất chính, đôi khi nhét đầy túi của họ bằng những tổn hại cho nhân dân, đôi khi chỉ là có xu hướng tự đưa mình lên địa vị ở trên những người khác, hoặc cũng chính là vậy nhưng diễn tả bằng những lời khác, ấy là dìm những người khác xuống dưới mình. Nếu như nhân dân bất bình, mà dưới sự cai trị như vậy chắc hẳn phải bất bình, thì lợi ích của nhà vua hay giới quý tộc là giữ cho trí tuệ và sự giáo dục của nhân dân ở mức thấp, kích động gây bất hòa trong dân chúng và thậm chí ngăn chặn không cho họ được sung túc để dân chúng khỏi “no cơm lại rửng mỡ chống đối”(*), phù hợp với châm ngôn của Giáo chủ Richelieu trong tác phẩm Di chúc chính trị (Testament politique) trứ danh của ông ta. Tất cả những điều đó là vì lợi ích của một ông vua hay giới quý tộc theo quan điểm thuần túy vị kỷ, trừ phi có một lợi ích đối lập đủ mạnh được tạo ra do e ngại sự kháng cự [của dân chúng]. Tất cả những điều xấu xa ấy đã được, và nhiều cái bây giờ cũng vẫn còn được, sản sinh ra bởi những lợi ích độc ác của các ông vua và giới quý tộc ở những nơi mà quyền lực của họ còn đủ để họ tự đặt mình lên trên ý kiến của phần còn lại của cộng đồng; và từ hệ quả của địa vị như thế mà ta chờ đợi có một sự điều hành nào khác là điều vô lý.
Những điều này thật quá ư hiển nhiên trong trường hợp của một nền quân chủ hay một chế độ quý tộc; nhưng giả định rằng những ảnh hưởng có hại kiểu như vậy không tác động ở một nền dân chủ thì đôi khi cũng là hơi thiếu căn cứ. Nhìn vào nền dân chủ theo cách cảm nhận thông thường như là sự thống trị của đa số số học thì chắc chắn có khả năng là quyền lực cai trị có thể bị đặt dưới sự chi phối của những lợi ích cục bộ hay giai cấp, hướng sự điều hành theo cách khác biệt với sự điều hành phải được sai khiến bởi sự quan tâm không-thiên-vị vì lợi ích của tất cả. Giả thiết rằng đa số là người da trắng, thiểu số người da đen, hoặc ngược lại: liệu có được chăng là đa số sẽ cho phép một công lý bình đẳng đối với thiểu số? Giả thiết rằng đa số là Công giáo, thiểu số Tin Lành, hoặc ngược lại; liệu sẽ không có cùng thứ nguy cơ như thế chăng? Hay để cho đa số là người Anh, thiểu số người Ireland, hoặc ngược lại: liệu sẽ không có xác suất lớn của điều xấu xa tương tự chăng? Trong mọi đất nước đều có một đa số là những người nghèo, một thiểu số những người có thể được gọi theo cách tương phản là những người giàu. Giữa hai giai cấp này trong nhiều vấn đề có sự đối kháng hoàn toàn về quyền lợi biểu kiến. Chúng ta sẽ giả thiết là cái đa số có đủ trí tuệ để ý thức được rằng làm yếu đi sự an toàn của quyền sở hữu là không có lợi cho họ, và rằng sự an toàn của quyền sở hữu sẽ bị yếu đi bởi bất cứ hành vi cướp đoạt nào. Thế nhưng liệu ở đây sẽ không có nguy cơ đáng kể e ngại rằng họ [đa số người nghèo] sẽ trút lên những người có thu nhập cao và những người sở hữu cái gọi là “tài sản đã thực hiện xong” phần gánh nặng bất công hay thậm chí toàn bộ gánh nặng thuế khóa; và đã làm thế rồi lại sẽ không ngại ngùng bổ sung thêm vào số lượng làm tiêu hao thu nhập theo cung cách được cho là có lợi cho giai cấp lao động? Lại giả thiết rằng một thiểu số người lao động lành nghề, một đa số thiếu tay nghề: tình hình này biện minh cho kinh nghiệm của nhiều hội đoàn nghề nghiệp, trừ phi họ bị vu khống quá đáng, khi họ lo ngại rằng việc bình quân tiền lương như là một nghĩa vụ có thể bị áp đặt, và rằng công việc làm khoán theo khối lượng, chi trả theo giờ và mọi thực hành khiến cho công nghệ và tay nghề cao sẽ được thưởng cao có thể bị bãi bỏ không duy trì nữa. Những mưu toan lập pháp nhằm tăng tiền công, sự giới hạn cạnh tranh trên thị trường lao động, đánh thuế hay hạn chế dùng máy móc và mọi thứ cải tiến có xu hướng không cần đến sức lao động hiện hữu – thậm chí còn có thể bảo hộ cho nhà sản xuất trong nước chống lại công nghệ nước ngoài – đều là những kết quả rất tự nhiên (tôi không dám đánh bạo nói rằng có thể là có thật hay không) của một cảm xúc về lợi ích giai cấp của đa số những người lao động tay chân.
Người ta sẽ bảo rằng không có sự việc nào kể trên là phục vụ cho lợi ích chân chính của giai cấp chiếm đa số lớn nhất: tôi sẽ đáp lại rằng nếu giả sử như cách cư xử của con người không được quyết định bởi những xem xét lợi ích nào khác ngoài những cái cấu thành lợi ích “chân chính” của họ, thì cả nền quân chủ lẫn chế độ tập đoàn đầu sỏ chính trị hẳn đã không là những chính thể tồi tệ đến thế. Chắc chắn người ta có thể viện dẫn nhiều lý do mạnh mẽ, và người ta cũng đã thường làm thế, để chứng minh rằng một ông vua hay một thượng viện cầm quyền ở vào địa vị đáng thèm muốn nhất, khi mà họ cai trị công minh và nghiêm cẩn đối với một tập hợp dân chúng tích cực, giàu có, được khai minh và có tinh thần cao thượng. Thế nhưng một ông vua thì chỉ đôi khi, còn chế độ tập đoàn đầu sỏ chính trị thì theo như ta đã biết, chưa có khi nào giữ quan điểm cao cả ấy đối với lợi ích của bản thân họ, vậy tại sao chúng ta lại phải chờ đợi một kiểu cách suy nghĩ cao quý hơn từ những giai cấp lao động? Không phải là chuyện lợi ích [chân chính] của họ là gì mà là chuyện họ cho rằng lợi ích của họ là gì, ấy mới là điều quan trọng khi xem xét cách cư xử của họ, và hoàn toàn đúng khi bác lại bất cứ lý thuyết nào giả định rằng cái đa số số học lại thường làm cái điều mà những nhà cầm quyền khác chưa bao giờ làm, và cũng chẳng được chờ đợi là họ sẽ làm, hoặc có chăng chỉ trong những trường hợp rất ngoại lệ – ấy là cư xử theo lợi ích chung cuộc chân chính chứ không phải theo lợi ích trực tiếp và hời hợt của họ. Chắc chắn không ai có thể nghi ngờ, rằng nhiều biện pháp nguy hại được kể ra ở trên và những điều xấu xa khác nữa, hẳn là nằm trong lợi ích trực tiếp của số đông những người lao động thiếu tay nghề. Và thậm chí cũng hoàn toàn có khả năng là chúng nằm trong lợi ích vị kỷ của toàn thể thế hệ đang hiện hữu của giai cấp này. Sự chăm chỉ và tính tích cực bị suy yếu, động cơ tiết kiệm bị giảm sút, những điều hẳn sẽ là hệ quả chung cuộc của những biện pháp ấy, nhưng có lẽ ít được giai cấp lao động thiếu tay nghề cảm nhận trong khoảng thời gian của một đời người.
Một vài trong số những đổi thay đầy hiểm họa cho sự nghiệp của nhân loại trước đây là những đổi thay tưởng như có lợi, xét theo những hiệu quả biểu lộ ra ngay tức thời của chúng. Sự thiết lập nền chuyên chế của Caesar(*) là một ích lợi lớn cho toàn bộ thế hệ của thời kỳ xảy ra sự kiện đó. Nó làm cuộc nội chiến ngừng lại, chấm dứt tệ tham ô và sự bạo ngược của các pháp quan (praetors) và các thống đốc (proconsuls): nó tạo thuận lợi cho những nghệ thuật làm đẹp cuộc sống và vun trồng trí tuệ cho mọi lĩnh vực ngoài chính trị; nó xây dựng tượng đài cho những thiên tài văn học làm lóa mắt những người đọc lịch sử một cách hời hợt, khiến họ không suy ngẫm rằng những người mà chế độ chuyên chế của Augustus (cũng như của Lorenzo de Medici(*) và Louis XIV) phải hàm ơn vì nhờ họ mà được vẻ vang, hết thảy đều đã được hình thành ở thế hệ trước đó. Sự giàu có được tích tụ, năng lực và tính tích cực tinh thần được sinh ra qua nhiều thế kỷ của nền tự do vẫn còn đem lợi ích cho thế hệ đầu tiên của những nô lệ. Vậy mà đó lại là sự khởi đầu của một chế độ (regime) mà tác động từ từ của nó làm tàn lụi đi toàn bộ một nền văn minh vô tình thu nhận được, cho đến lúc cái đế chế đã từng chinh phục và nắm chặt thế giới trong vòng tay, mất đi hoàn toàn ngay cả năng lực quân sự của mình, đến nỗi bọn “dã man” – mà để chống lại chúng chỉ cần ba hay bốn binh đoàn là đủ – đã có thể tràn ngập và chiếm đóng hầu như toàn bộ lãnh thổ rộng lớn của nó. Cái xung động khỏe mạnh tươi tắn do Ki Tô giáo đem lại đến vừa đúng lúc để cứu lấy nghệ thuật và văn chương khỏi bị diệt vong và cứu cho loài người khỏi chìm trở lại vào một đêm trường có thể là bất tận.
Khi chúng ta nói về lợi ích của một nhóm người hay thậm chí của một cá nhân như là nguyên tắc quyết định hành động của họ, câu hỏi cái gì có thể được xem xét là lợi ích [chân chính] của họ đối với một người quan sát không định kiến, là chuyện có tầm quan trọng ít nhất trong toàn bộ vấn đề. Như Coleridge đã nhận xét, con người tạo ra động cơ [hành động] chứ không phải động cơ tạo ra con người. Lợi ích của một con người là gì trong việc làm hay không làm [điều gì đó] phụ thuộc vào tình huống bên ngoài hơn là phụ thuộc vào chuyện người đó là loại người nào. Nếu bạn muốn biết lợi ích của một người trên thực tế là gì, bạn phải biết được thiên hướng cảm nhận và suy nghĩ thường ngày của anh ta. Bất cứ ai cũng có hai loại lợi ích: lợi ích mà anh ta chăm lo và lợi ích mà anh ta không chăm lo. Bất cứ ai cũng có lợi ích vị kỷ và lợi ích không vị kỷ, và người vị kỷ trau dồi thói quen chăm lo cho lợi ích trước mà không chăm lo cho lợi ích sau. Bất cứ ai cũng có lợi ích hiện tại và lợi ích lâu dài, và người thiển cận là người chăm lo cho lợi ích hiện tại mà không chăm lo cho lợi ích lâu dài. Không có mấy ý nghĩa cho bất cứ tính toán đúng đắn nào cho biết lợi ích sau có thể sẽ là quan trọng đáng kể hơn, nếu mà các thói quen tinh thần của anh ta lại dẫn dắt anh ta khắc sâu tư tưởng và nguyện vọng của anh ta hướng về lợi ích trước. Sẽ không có kết quả gì trong việc thuyết phục một kẻ đánh đập vợ, đối xử tệ với con cái của mình, rằng hắn sẽ được hạnh phúc hơn nếu hắn sống trong tình thương yêu và tử tế đối với họ. Hắn sẽ hạnh phúc hơn nếu giả như hắn là loại người có thể sống như thế; nhưng hắn đâu phải là như vậy, và có lẽ đã quá muộn để hắn trở thành loại người như thế. Khi hắn là loại người như hắn trong hiện tại, thì sự thỏa mãn lòng yêu thích áp chế và sự nuông chiều theo tính khí hung bạo, trong cảm nhận của hắn sẽ là điều tốt lớn hơn cho bản thân hắn, so với điều tốt mà hắn có khả năng rút ra được từ niềm vui và lòng yêu mến của những người phụ thuộc vào hắn. Hắn không có niềm vui trong niềm vui của họ, và không quan tâm đến lòng yêu mến của họ. Người hàng xóm của hắn có niềm vui và sự quan tâm như thế, rất có thể là người hạnh phúc hơn hắn; nhưng liệu hắn có thể bị thuyết phục bởi điều đó chăng: nhiều khả năng cái sự thuyết phục này chỉ làm cho hắn ác độc hay cáu giận nhiều hơn mà thôi. Tính trung bình ra thì một người chăm lo cho người khác, cho đất nước mình hay cho nhân loại sẽ là người hạnh phúc hơn người không như thế; nhưng thuyết giảng học thuyết ấy cho người không chăm lo tới bất cứ cái gì khác ngoài sự thoải mái cho bản thân hay cái túi tiền của hắn, thì liệu có ích lợi gì không? Nếu hắn là người như vậy thì hắn không thể chăm lo cho người khác. Chuyện này giống như thuyết giảng cho con giun bò dưới đất rằng sẽ là tốt hơn nhiều cho nó, nếu nó là đại bàng.
Hiện nay có một sự kiện được quan sát thấy một cách phổ quát, ấy là hai xu hướng xấu trong vấn đề rất đặc trưng cho việc kêu gọi và cổ vũ để chiếm quyền lực, xu hướng ưu tiên cho những lợi ích vị kỷ của con người hơn những lợi ích được chia sẻ với những người khác, và [xu hướng] ưu tiên cho những lợi ích trước mắt và trực tiếp của con người hơn những lợi ích gián tiếp và xa xôi. Thời điểm mà một người, hay một giai cấp thấy được mình đã có quyền lực trong tay, thì quyền lợi cá nhân của một người hay quyền lợi riêng của giai cấp sẽ chiếm một mức độ quan trọng hoàn toàn mới mẻ trong con mắt của họ. Thấy mình được những người khác sùng bái, họ trở thành những người tự sùng bái mình, và nghĩ mình có quyền tính giá trị của mình cao hơn gấp trăm lần so với người khác; trong khi họ được dễ dàng làm theo ý thích mà không cần biết tới hậu quả, thì sự dễ dàng ấy vô tình làm suy yếu những thói quen khiến cho người ta phải nhìn trước những hậu quả, ngay cả những hậu quả tác động đến chính mình. Đó là ý nghĩa của cái truyền thống mang tính phổ quát dựa trên trải nghiệm phổ quát của những con người bị đồi bại bởi quyền lực. Ai cũng biết rằng, hẳn là ngu ngốc khi suy luận từ chuyện con người là thế nào hay làm gì ở địa vị dân thường để kết luận rằng anh ta sẽ là y hệt như thế hay làm y hệt như thế khi trở thành một bạo quân trên một ngai vàng; là chỗ mà những phần xấu xa trong bản chất con người của anh ta được mọi người đón nhận và hùa theo trong mọi tình huống, thay vì bị kiềm chế và giữ gìn trong sự lệ thuộc tùy theo mỗi tình huống trong cuộc đời của anh ta và tùy theo mỗi người ở xung quanh anh ta. Hẳn cũng là ngu ngốc như vậy, khi nuôi dưỡng một hy vọng tương tự đối với một giai cấp; [như] giai cấp bình dân, hay bất cứ giai cấp nào khác. Cứ cho là họ luôn khiêm tốn và biết nghe theo lẽ phải, nhưng còn có một quyền lực chi phối họ mạnh hơn là những thứ đó, chúng ta phải chờ đợi một sự thay đổi hoàn toàn về phương diện này, khi bản thân họ trở thành quyền lực hùng mạnh nhất.
Các chính thể phải được tạo ra cho những con người như họ đang hiện hữu, hay là như họ có thể sớm trở thành như thế: và trong bất cứ tình trạng nào của sự giáo hóa (cultivation) mà loài người, hay bất cứ giai cấp nào ở trong họ, đã đạt được tới, hay có lẽ chẳng bao lâu nữa sẽ đạt tới, thì những lợi ích dẫn dắt họ, khi họ chỉ nghĩ tới lợi
ích của bản thân, sẽ hầu như độc nhất là những lợi ích nhận ra ngay được và có tác động trong điều kiện hiện nay của họ. Còn một cái nhìn khách quan vô tư đối với những người khác, nhất là đối với những gì sau đó sẽ đến, đối với ý tưởng về hậu thế, về đất nước họ hay về nhân loại, dù là dựa trên thiện cảm hay một nghĩa vụ lương tâm, là những thứ mà một lúc nào đó sẽ hướng dẫn các ý nghĩ và mục đích của các giai cấp hay các đoàn thể nhắm tới những lợi ích xa xôi hay không hiển nhiên. Và ta không thể chủ trương rằng bất cứ hình thức nào của chính thể cũng là hợp lý khi nó đòi hỏi như một điều kiện tiên quyết rằng những nguyên tắc cao quý ấy của hành động phải là những động cơ hướng dẫn chủ đạo cho hành vi của những người trung bình. Tất nhiên có thể tính tới một mức độ nhất định của lương tâm và tinh thần vì dân bất vụ lợi ở trong những công dân của cộng đồng đã chín muồi cho một chính thể đại diện. Nhưng sẽ đáng tức cười nếu chờ đợi một mức độ cao như vậy của các đức tính ấy kết hợp với sự sáng suốt trí tuệ, và điều này là bằng chứng bác bỏ bất cứ thuyết ngụy biện nào cố tình làm cho cái đơn thuần là lợi ích giai cấp của chính họ có được dáng vẻ như là tiếng gọi của công lý và lợi ích chung.
Tất cả chúng ta đều biết đã có biết bao những thuyết ngụy biện bề ngoài hào nhoáng được đề xuất nhằm bảo vệ cho bất cứ hành vi bất công nào, gọi là vì lợi ích của quần chúng. Chúng ta biết là nhiều đến thế nào những người không thể gọi khác hơn là điên rồ hay xấu xa, đã nghĩ rằng việc quỵt nợ quốc gia là điều có thể biện minh được. Chúng ta biết là nhiều đến thế nào những người không thiếu khả năng và có nhiều ảnh hưởng tới công chúng, nghĩ rằng việc dồn hết gánh nặng thuế khóa lên tiền vốn tiết kiệm, tức là cái gọi là “tài sản đã thực hiện” (realised property) là hợp lệ, trong khi đó những ai – cũng như cha ông họ trước đây – đã luôn tiêu pha hết tất cả những gì thu nhập và nay noi theo gương ấy lại được tưởng thưởng đặc quyền không chịu một khoản thuế nào. Chúng ta biết các luận cứ càng mạnh mẽ bao nhiêu thì lại càng nguy hiểm bấy nhiêu, bởi vì có một phần sự thật trong những luận cứ ấy đã được đưa ra để chống lại toàn bộ quyền thừa kế, chống lại quyền hưởng vật ủy thác, chống lại bất cứ ưu thế nào mà một người dường như có được hơn những người khác. Chúng ta biết người ta có thể chứng minh một cách dễ dàng thế nào sự vô ích của hầu như mọi ngành tri thức, khiến cho những người không sở hữu tri thức hoàn toàn hài lòng. Có biết bao người không hẳn là ngu đần, nghĩ rằng việc nghiên cứu khoa học về các ngôn ngữ là điều vô ích, nghĩ rằng văn học cổ đại là vô ích, tất cả sự uyên bác là vô ích, logic học và siêu hình học là vô ích, thi ca và nghệ thuật tạo hình là trò vớ vẩn và phù phiếm, kinh tế chính trị học là thuần túy có hại? Ngay cả lịch sử cũng bị những người có năng lực tuyên bố là vô ích và có hại. Không có tri thức nào có thể được thừa nhận là có tính hữu ích cả, ngoại trừ sự hiểu biết về tự nhiên bên ngoài thu được theo lối kinh nghiệm, phục vụ trực tiếp việc sản xuất ra các vật dụng cần thiết cho tồn tại hay để cho các giác quan được dễ chịu, vì chỉ cần khích lệ dân chúng để họ không tin vào tri thức đó. Liệu có hợp lý không khi nghĩ rằng có thể trông đợi ngay cả những đầu óc được giáo hóa thật nhiều hơn những người tạo nên cái số đông số học, là họ sẽ có một lương tâm thật thanh nhã, một sự thưởng thức đầy tinh tế đối với những gì tương phản lại lợi ích trước mắt của họ, đến nỗi họ sẽ bác bỏ những thuyết ngụy biện ấy và vô số những thuyết ngụy biện khác, những thứ sẽ thúc ép họ từ khắp bốn phương ngay sau khi họ vừa nắm chính quyền, xúi giục họ đi theo khuynh hướng vị kỷ và những ý kiến thiển cận vì lợi ích riêng của chúng, đối lập lại với sự công bằng, gây thiệt hại cho tất cả các giai cấp khác và cho thế hệ sau?
Như vậy, một trong những nguy cơ lớn nhất của nền dân chủ, cũng như của mọi hình thức chính thể khác, nằm ở lợi ích độc ác của những người giữ quyền lực: đó là nguy
cơ của sự lập pháp giai cấp; của chính quyền có mục đích (bất kể có đạt được mục đích ấy hay không) đặt lợi ích trước mắt của giai cấp thống trị gây hại lâu dài cho cho toàn cục. Và một trong những vấn đề quan trọng nhất cần phải xem xét trong việc xác định một hiến pháp tốt nhất của chính thể đại diện, ấy là làm sao để đảm bảo sự an toàn có hiệu quả chống lại điều xấu xa này.
Nếu chúng ta hiểu một giai cấp theo nghĩa chính trị là những người có cùng một lợi ích độc ác – tức là những người có lợi ích trực tiếp hay biểu kiến hướng vào cùng một loại các biện pháp tồi tệ; thì mục đích đáng ao ước phải là [làm sao để cho] không một giai cấp nào và không một liên minh giai cấp nào như thế có thể giữ ảnh hưởng ưu thế trong chính quyền. Một cộng đồng hiện đại, không bị chia rẽ nội tại bởi những ác cảm chủng tộc, ngôn ngữ hay sắc tộc, có thể được khảo sát phân chia trong đại thể thành hai tầng lớp, tương ứng với hai chiều hướng khác nhau của lợi ích biểu kiến, dù cho có những biến động bộ phận. Ta hãy gọi những tầng lớp ấy (trong thuật ngữ chung vắn tắt) một bên là giới lao động, còn bên kia là giới sử dụng lao động: gộp vào những người sử dụng lao động không phải chỉ có những nhà tư bản đã nghỉ kinh doanh và những người sở hữu tài sản giàu có do thừa kế, mà còn tất cả những loại lao động được trả lương cao (chẳng hạn như những người giỏi nghề nghiệp), là những người được hưởng nền giáo dục và có kiểu cách sinh hoạt khiến họ được đồng hóa với những người giàu, chính là tiền đồ và tham vọng của họ kéo họ lên nhập vào giai cấp này. Với những người lao động ở bên kia, ta có thể xếp vào đó cả những người sử dụng lao động [tầm cỡ] nhỏ hơn, bao gồm phần lớn những người tiểu thương, là những người được đồng hóa về các ước vọng, sở thích và mục tiêu với các giai cấp lao động căn cứ theo các lợi ích, thói quen và ảnh hưởng giáo dục của họ. Trong trạng thái của một xã hội được hợp thành như thế, nếu giả như hệ thống đại diện có thể được tạo ra thật hoàn hảo một cách lý tưởng, và nếu giả như có thể duy trì nó ở trong trạng thái ấy, thì sự tổ chức hệ thống đại diện phải làm sao để cho hai giai cấp ấy, một bên là những người lao động chân tay và những người giống như họ, và bên kia là những người sử dụng lao động và những người giống như họ, được ở thế cân bằng ngang nhau trong việc sắp đặt hệ thống đại diện, mỗi bên ảnh hưởng tới số phiếu bằng nhau trong Nghị viện: vì rằng cứ giả định là cái đa số của mỗi giai cấp trong bất cứ sự khác biệt nào giữa họ, bị chi phối chủ yếu bởi các lợi ích giai cấp của họ, thì hẳn phải có một thiểu số trong mỗi giai cấp mà đối với họ sự xem xét ấy sẽ lệ thuộc theo lẽ phải, sự công bằng và lợi ích toàn thể; và cái thiểu số ấy của bất cứ bên nào kết hợp với toàn bộ phía bên kia sẽ xoay chuyển tỷ lệ chống lại bất cứ đòi hỏi nào của cái đa số thuộc phía bên này, cái đa số này hẳn không đủ để thắng thế.
Lý do tại sao trong bất cứ xã hội nào ở trong tình trạng có-thể-chấp-nhận-được thì công lý và lợi ích chung phần nhiều cuối cùng rồi cũng đạt được, là vì những lợi ích riêng biệt và vị kỷ của loài người hầu như bao giờ cũng bị chia rẽ; một số có lợi ích ở những gì sai trái, nhưng cũng có một số có lợi ích riêng nằm ở phía những gì là đúng đắn: và những người được chi phối bởi những suy tính cao cả hơn, dù quá ít ỏi và yếu ớt để thắng được toàn thể những người kia, nhưng thường là sau khi thảo luận và cổ động đầy đủ sẽ trở nên đủ mạnh để xoay chuyển cán cân có lợi cho tập hợp những người có lợi ích riêng đứng cùng một phía với họ. Hệ thống đại diện phải được thiết lập sao cho duy trì được tình trạng ấy: nó không được cho phép bất cứ lợi ích cục bộ khác nhau nào trở nên quá mạnh đến mức có thể thắng được chân lý và sự công bằng cũng như những lợi ích cục bộ khác kết hợp lại. Luôn luôn phải duy trì một sự cân bằng như thế giữa những lợi ích cá nhân để có thể làm cho mỗi lợi ích trong số đó nếu muốn có thành công thì phải phụ thuộc vào việc nó thuyết phục được ít nhất cũng một phần lớn những người hoạt động dựa trên những động cơ cao cả hơn và có tầm nhìn toàn diện và xa hơn.
Nguyên tác: Representative government, John Stuart Mill.
Bản dịch: NXB Tri Thức, Nguyễn Văn Trọng và Bùi Văn Nam Sơn dịch, giới thiệu và chú thích.
