Tự do lựa chọn: Một bản tuyên ngôn cá nhân - Chương 4: Từ chiếc nôi đến hầm mộ (Phần 3)

Tự do lựa chọn: Một bản tuyên ngôn cá nhân - Chương 4: Từ chiếc nôi đến hầm mộ (Phần 3)

SAI LẦM CỦA NHÀ NƯỚC PHÚC LỢI

Tại sao toàn bộ các chương trình này lại đáng thất vọng đến vậy? Mục tiêu của chúng chắc chắn làrất nhân đạo và cao quý. Tại sao các mục tiêu ấy lại không thể đạt được?

Vào buổi bình minh của thời đại mới,mọi chuyện dường như đều diễn ra yên ổn. Chỉ một số ít người được tài trợ; có rất nhiều người nộp thuế để tài trợ cho chương trình – nên mỗi ngườichỉ cầnbỏ ra một khoản tiền nhỏ là đã có thể mang lại phúc lợi đáng kể cho một số người gặp khó khăn. Khi các chương trình phúc lợi mở rộng, những con số đã thay đổi. Ngày nay, tất cả chúng ta đều đang rút tiền từ ví của mình để nhét tiền – hoặc thứ gì đó mua được bằng tiền – sang ví người khác.

Một phép phân loại chi tiêu đơn giản cho thấy tại sao quá trình đó lại dẫn đến những kết quả không mong muốn. Khi bạn chi tiêu, bạn có thể tiêu bằng tiền của mình hoặc tiền của người khác; và bạn có thể chi tiêu vì lợi ích của chính mình hoặc vì lợi ích của người khác. Kết hợp hai cặp lựa chọn thay thế này cho ra bốn khả năng tóm tắt trong bảng dưới đây:22

 

BẠN LÀ NGƯỜI TRẢ TIỀN

Chi tiêu cho

Bạn

Người khác

Tiền của

Bạn

I

II

Người khác

III

IV

 

Loại I trong bảng đề cập đến trường hợp bạn tiêu tiền của bạn vì bản thân bạn. Chẳng hạn, bạn mua sắm trong siêu thị. Rõ ràng, bạn có một động cơ mạnh mẽ để vừa tiết kiệm vừa thu về được nhiều giá trị nhất có thể trên mỗi đồng đô la mà bạn bỏ ra.

Loại II đề cập đến trường hợp bạn tiêu tiền của mình vì một người khác. Bạn đi mua quà Giáng sinh hoặc quà sinh nhật. Bạn vẫn có động cơ tiết kiệm như trong Mục I nhưng không còn có động cơ để thu về đầy đủ giá trị cho tương xứng với đồng tiền của bạn, ít nhất là theo đánh giábởi thị hiếu của người nhận. Tất nhiên, bạn sẽ muốn mua một món đồ mà người người nhận sẽ thích-với điều kiện là nó thể hiện được đúng thông điệp và không tốn quá nhiều thời gian cũng như công sức. (Trên thực tế, nếu mục tiêu chính của bạn là để người nhận nhận được giá trị lớn nhất tính trên mỗi đồng đô la, bạn sẽ tặng anh ta tiền mặt, và đổi khoản chi loại II của bạn thành khoản chi loại I của anh ta.)

Loại III đề cập đến trường hợp bạn chi tiêu bằng tiền của người kháccho mục đích của bạn – chẳng hạn, ăn bữa trưa do công ty thanh toán. Bạn không có động lực mạnh mẽ để giảm chi phí của bữa trưa, nhưng bạn sẽ có động lực mạnh mẽ để đồng tiền bỏ ra đáp ứng thỏa đáng nhu cầu của bạn.

Loại IV đề cập đến trường hợp bạn tiêu tiền của người khác và vì người khác. Bạn thanh toán bữa trưa cho một người bằng tài khoản của công ty. Bạn vừa có ít động cơ đểtiết kiệm, vừa có ít động cơ cố gắng để vị khách của bạn có được bữa trưa mà ông ta đánh giá cao nhất. Tuy nhiên, nếu bạn dùng bữa cùng vị khách, khi đó bữa trưa là sự kếp hợp của loại III và loại IV, bạn có động lực mạnh mẽ để thỏa mãn khẩu vị của bạn trong khi hi sinh khẩu vị của ông ta, nếu cần thiết.

Tất cả các chương trình phúc lợi đều rơi vào một trong hai loại, loại III – chẳng hạn chương trình An sinh xã hội thanh toán bằng tiền mặt do đó người nhận có thể tự do chi tiêu theo ý muốn của mình; hoặc loại IV- chẳng hạn như chương trình nhà ở công cộng; ngoại trừ trường hợp các chương trình thuộc loại IV có chung một đặc điểm với loại III, cụ thể là, các công chức điều hành chương trình cùng chia sẻ bữa ăn; và tất cả các chương trình thuộc loại III có các công chức nằm trong số người nhận.

Theo ý kiến ​​của chúng tôi, các đặc tính của khoản chi tiêu phúc lợi là nguồn cơn chính dấn đến các khiếm khuyết của chúng.

Các nhà lập pháp bỏ phiếu cho phương án chi tiêu tiền của người khác. Các cử tri bỏ phiếu bầu chọncho các nhà lập pháp theo một nghĩa nào đó cũng chính là bỏ phiếu tán thành với phương án tiêu tiền của họ vì lợi ích của chính họ, nhưng không tương ứng trực tiếp với ý nghĩa của loại hình chi tiêu I. Mối quan hệ giữa các loại thuế mà các cá nhân phải trả và loại hình chi tiêu mà người đó bầu chọn cho là cực kỳ lỏng lẻo. Trên thực tế, các cử tri, cũng giống như các nhà lập pháp, có xu hướng nghĩa rằng người khác mới là người chi trả cho các chương trình mà các nhà lập pháp trực tiếp bỏ phiếu tán thành và các cử tri gián tiếp bỏ phiếu tán thành. Các quan chức điều hànhnhững chương trình này cũng đang tiêu tiền của người khác. Không có gì ngạc nhiên khi ngân sách chi tiêu bùng nổ.

Các công chức tiêu tiền của người khác vì người khác. Chỉ có lòng tốt của con người, chứ không phải sự thúc đẩy mạnh mẽ, vốn dĩ đáng tin cậy hơn, của lợi ích cá nhân, mới đảm bảo rằng các công chức này sẽ chi tiêu số tiền đó theo cách lợi nhất cho những người nhận. Và đó là lý do dẫn tới tình trạng lãng phí và thiếu hiệu quả của chi tiêu công.

Nhưng đó chưa phải là tất cả. Sự quyến rũ của việc tiêu tiền của người khác mới mạnh mẽ làm sao. Nhiều người, bao gồm cả các công chức điều hành những chương trình này, sẽ cố gắng vơ vét tiền vào túi của mình thay vì để nó rơi vào túi người khác. Sức cám dỗ của hành vi tham nhũng, gian lận thật sự rất lớn và không lúc nào chúng ta cũng có thế kháng cự hay vượt qua được. Những người mà kháng cự được sự cám dỗ của hành vi gian lận sẽ sử dụng các cách thức hợp pháp để hướng số tiền chảy về phía mình. Họ sẽ vận động để có hành lang pháp lý thuận lợicho bản thân, để thiết lập các quy tắc mà họ có thể hưởng lợi từ đó. Các công chức điều hành các chương trình sẽ gây sức ép đòi tăng lương và bổng lộc cho họ - đấy là hệ quả từ các chương trình càng lớn.

Nỗ lực của các bên trong việc hướng các khoản chi tiêu chính phủ về phía có lợi cho họ gây ra hai hậu quả không dễ nhận ra. Thứ nhất, nó lý giải tại sao rất nhiều chương trình có xu hướng mang lại lợi ích cho các nhóm có thu nhập ở mức trung bình và mức cao thay vì cho tầng lớp người nghèo vốn là mục tiêu hướng tới của các chương trình này. Người nghèo thường không chỉ thiếu các kỹ năng có giá trị trên thị trường mà còn cả những kỹ năng cần thiết trong cuộc đấu tranh chính trị để giành được tiền từ các quỹ. Tên thực tế, điểm bất lợi của họ trên chính trường có lẽ còn lớn hơn cả điểm bất lợi trên đấu trường kinh tế. Một khi các nhà cải cách với thành ý tốt đẹp – những người có thể đã góp phần để biện pháp phúc lợi được ban hành – bước tiếp với chương trình cải cách tiếp theo của họ, sẽ chỉ còn lại một mình người nghèo phải tự bảo vệ bản thân mình và họ thường bị thôn tính bởi các nhóm mà đã chứng tỏ là có khả năng lớn hơn trong việc tận dụng các cơ hội có sẵn.

Hậu quả thứ hai là lợi ích ròng mà người nhận nhận được từ giao dịch chuyển nhượng sẽ thấp hơn tổng số tiền được chuyển nhượng. Nếu người nào đó cho đi $100, bạn sẽ phải trả một cái giá có thể lên tới $100 tiền túi của bạn để có được số tiền kia. Các chi phí phát sinh để vận động hành lang các nhà lập pháp và cơ quan quản lý, để đóng góp vào các chiến dịch chính trị, và vô số các mục khác nữa nhưng chúng đơn thuần chỉ là một sự lãng phí – chúng làm tổn hại đến người nộp thuế vì họ chính là người trả tiền, trong khi không ai được lợi cả. Chúng được trừ đi từ tổng giá trị khoản cắt chuyển để cho ra lợi ích ròng – và tất nhiên nhiều khi chúng có thể vượt quá tổng giá trị khoản cắt chuyển, khi đó kết quả thu được là một khoản lỗ ròng, chứ không phải khoản thu ròng.

Những hậu quả của việc tìm kiếm trợ cấpnhư thế này giúp giải thích áp lực của hành động chi tiêu nhiều hơn, và ngày càng có thêm nhiều chương trình khác ra đời.Các biện pháp ban đầu không đạt được các mục tiêu của các nhà cải cách đầy thiện ý, đồng thời cũng là những người bảo trợ cho các chương trình này. Họ kết luận rằng nỗ lực vẫn chưa đủ và tìm kiếm nhiều chương trình hơn nữa. Họ vừa trở thành đồng minh của những người muốn theo đuổi sự nghiệp trở thành các công chức điều hành các chương trình, vừa trở thành đồng minh của những người tin rằng họ có thể kiếm chác từ số tiền được chi ra.

Loại hình chi tiêu IV cũng có xu hướng tha hóa những người liên quan. Tất cả các chương trình thuộc loại này đặt một số người vào cương vị phải quyết định điều gì sẽ tốt cho người khác. Hệ quả là nó sẽ cho nhóm số ít người kia cảm giác về một quyền lực giống như quyền năng của Chúa; và cho những người còn lại cảm giác phụ thuộc giống như con trẻ.Khả năng độc lậpvà tự đưa ra quyết định cho riêng mình của những người hưởng lợi sẽ hao mòn dần khi không sử dụng tới. Bên cạnh sự lãng phí về tiền bạc, và bên cạnh thất bại trong việc đạt được các mục tiêu dự kiến, kết quả cuối cùng thu được sẽ làm sói mòn một nền đạo đức giữ cho cả xã hội đối xử tốt đẹp với nhau.

Một sản phẩm phụ của loại hình chi tiêu III hoặc IV cũng có tác dụng tương tự. Bên cạnh những món quà tự nguyện, bạn chỉ có thể tiêu tiền của người khác bằng cách chiếm đoạt chúng như cách chính phủ làm vậy. Như vậy, sử dụng vũ lực là bản chất cốt lõi của nhà nước phúc lợi – một phương tiện xấu có xu hướng tha hóakết cục tốt đẹp. Đó cũng là lý dotại sao nhà nước phúc lợi đe dọa sự tự do của chúng ta một cách nghiêm trọng.

 

ĐIỀU CẦN LÀM

Hầu hết các chương trình phúc lợi hiện nay lẽ ra không nên được ban hành. Giá như chúng chưa từng được ban hành, giờ đây nhiều người phụ thuộc vào chúng sẽ trở thành các cá nhân tự lực thay vì trông cậy vào nhà nước. Trong ngắn hạn, phương án này có thể tàn nhẫn với một số người vì họ không có lựa chọn nào khác ngoài việc làm lương thấp và thiếu hấp dẫn. Nhưng về lâu dài, nó mang lại kết quả nhân đạo hơn nhiều. Nhưng thực tế là các chương trình phúc lợi xã hội đã được ra đời, và chúng không thể bị bãi bỏ một cách đơn giản chỉ sau một đêm. Chúng ta cần một biện pháp để quá trình chuyển đổi từ tình trạng của chúng ta hiện nay đến tình trạng chúng ta dự kiến trong tương lai trở nên dễ chịu hơn, khi mà vừa cung cấp sự hỗ trợ cho những người phụ thuộc vào phúc lợi như hiện nay, vừa khuyến khích một cuộc chuyển đổi có trình tự để người dân dịch chuyển từ khu vực sống nhờ phúc lợi sang khu vực sống bằng tiền công.

Một chương trình chuyển đổi đã từng được đề xuất nhằm nâng cao trách nhiệm cá nhân, kết thúc tình trạng phân chia đất nướcthành hai tầng lớp như hiện tại, làm giảm cả chi tiêu chính phủ lẫn bộ máy quan liêu khổng lồ hiện nay, đồng thời đảm bảo một mạng lưới an sinh cho mọi người dân trong nước, và không ai sẽ phải chịu đựng đau khổ quá nhiều nữa. Thật không may, việc ban hành một chương trình như vậy ở thời điểm hiện tại có vẻ chỉ là một giấc mơ không tưởng. Quá nhiều lợi ích bất di bất dịch – về tư tưởng, về chính trị và về tài chính – chắn ngang con đường đó.

Tuy nhiên, chúng ta vẫn nên điểm qua những ý chính của một chương trình như vậy, không phải với hy vọng rằng nó sẽ được thông qua trong tương lai gần, mà để đưa ra tầm nhìn định hướng cho chúng ta, một tầm nhìn có thể dẫn tới nhiều thay đổi to lớn.

Chương trình có hai thành phần chính: đầu tiên, cải cách hệ thống phúc lợi hiện nay bằng cách thay thế một loạt các chương trình cụ thể bằng một chương trình toàn diện duy nhất hỗ trợ thu nhập dưới dạng tiền mặt – một loại thuế thu nhập âm gắn với chương trình bù thuế thu nhập (positve income tax); thứ hai, tháo gỡ chương An Sinh Xã Hội nhưng vẫn đảm bảo các cam kết hiện tại và dần dần yêu cầu người dân tự có các phương án sắp xếp của riêng mình cho thời kỳ hưu trí.

Những mặt mà hệ thống phúc lợi hiện tại làm thiếu hiệu quả và vô nhân đạo thì một cuộc cải cách toàn diện như thế này sẽ giải quyết chúng hiệu quả và nhân đạo hơn. Nó sẽ cung cấp một mức đảm bảo tối thiểu cho toàn bộ những người khó khăn không phân biệt nguyên nhân dẫn đến khó khăn của họ đồng thời gây ra thiệt hại ít nhất có thể tới nhân cách, tính độc lập, cũng như động cơ của họ trong việc cải thiện điều kiện bản thân tốt hơn.

Ý tưởng cơ bản của chính sách thuế thu nhập âm vô cùng đơn giản một khi chúng ta vén được màn sương mù che giấu các tính năng thiết yếu của chương trình thuế thu nhập dương. Theo chính sách thuế thu nhập dương hiện tại, bạn được phép nhận về một khoản thu nhập nhất định mà không cần nộp bất kỳ loại thuế nào. Số tiền nhận được cụ thể phụ thuộc vào qui mô gia đình bạn, tuổi tác của bạn, và vào việc bạn có liệt kê các khoản khấu trừ hay không. Số tiền này bao gồm một số mục - miễn trừ cá nhân, trợ cấp đối tượng thu nhập thấp, khấu trừ tiêu chuẩn (khoản mục mới đây được đôi tên từ khoản mục phần thu nhập miễn thuế (zero bracket amount)), tổng số tiền tương ứng với tín thuế nói chung, và còn các khoản mà chúng ta đều biết là đã được thêm vào bởi những phát hiện thiên tài của Rube Goldberg[1], người đã có một ngày trải nghiệm đáng nhớ với thuế thu nhập cá nhân. Để đơn giản hóa cuộc thảo luận, chúng ta sẽ sử dụng thuật ngữ đơn giản hơn của Anh "các khoản phụ cấp cá nhân" (personal allowance) để chỉ số tiền cơ bản này.

Nếu thu nhập của bạn vượt quá các khoản phụ cấp, bạn sẽ phải trả một khoản thuế tính trên phần dư với tỷ lệ tăng dần theo quy mô của phần vượt dư. Giả sử thu nhập của bạn thấp hơn các khoản phụ cấp? Theo hệ thống hiện tại, các khoản phụ cấp không được sử dụng tới như thế này nhìn chung không có giá trị gì cả. Bạn chỉ đơn giản là không phải nộp thuế.23

Nếu thu nhập của bạn vô tình bằng giá trị của các khoản phụ cấp hằng năm trong khoảng thời gian hai năm liên tiếp, bạn sẽ không phải nộp thuế năm nào cả. Giả sử tổng mức thu nhập của bạn trong hai năm gộp lại vẫn không đổi, nhưng hơn nửa trong số đó nhận được trong năm đầu tiên. Bạn sẽ đạt mức thu nhập phải chịu thuế, tức là thu nhập vượt quá các khoản phụ cấp trong năm đó, và sẽ phải nộp thuế tính trên phần dư. Trong năm thứ hai, bạn sẽ có khoản thu nhập chịu thuế âm, nghĩa là các khoản phụ cấp của bạn vượt quá thu nhập của bạn, nhưng nói chung bạn sẽ chẳng được hưởng lợi gì từ các khoản phụ cấp không dùng tới của bạn. Tổng số thuế bạn phải nộp cho hai năm sẽ tăng lên so với trường hợp thu nhập chia đều cho mỗi năm. 24

Với thuế thu nhập âm, bạn sẽ nhận được từ chính phủ một phần của các khoản phụ cấp không được sử dụng. Nếu phần bạn nhận được tương đương với tỷ lệ thuế tính trên thu nhập dương, tổng số thuế bạn nộp trong hai năm sẽ bằng nhau bất kể thu nhập của bạn được phân bổ như thế nào cho mỗi năm.

Khi thu nhập của bạn lớn hơn các khoản phụ cấp, bạn sẽ phải nộp thuế, số tiền tùy theo mức thuế tính cho các phần khác nhau của thu nhập. Khi thu nhập của bạn thấp hơn các khoản phụ cấp, bạn sẽ nhận được một khoản trợ cấp, số tiền tùy thuộc vào tỷ lệ trợ cấp tương ứng với phần khác nhau của phụ cấp không được sử dụng.

Chính sách thuế thu nhập âm sẽ cho phép có hiệu lực với thu nhập biến động, như trong ví dụ của chúng ta, nhưng đó không phải là mục đích chính của chính sách này. Mục đích chính của nó đúng hơn là cung cấp một phương tiện đơn giản cho việc đảm bảo mỗi gia đình được hưởng một mức thu nhập tối thiểu, trong khi đồng thời tránh được một bộ máy quan liêu khổng lồ, duy trì được một tinh thần trách nhiệm tương đối lớn cho các cá nhân, và duy trì động cơ làm việc cũng như kiếm đủ thu nhập để nộp thuế thay vì nhận trợ cấp.

Hãy xem một ví dụ cụ thể bằng những con số. Năm 1978 các khoản phụ cấp lên tới $7.200 cho một gia đình bốn người, không ai trên 65 tuổi. Giả sử, thuế thu nhập âm tồn tại với mức trợ cấp 50% tính trên các khoản phụ cấp không sử dụng. Trong trường hợp đó, một gia đình bốn người mà không có nguồn thu nhập nào sẽ đủ điều kiện hưởng mức trợ cấp $3.600. Nếu các thành viên trong gia đình tìm được việc làm và kiếm được một khoản thu nhập, số tiền trợ cấp sẽ giảm xuống, nhưng tổng thu nhập của gia đình, bao gồm trợ cấp và thu nhập, sẽ tăng lên. Nếu các khoản thu nhập là $1.000, trợ cấp sẽ giảm xuống còn $3.100 và tổng thu nhập tăng lên $ 4.100. Các khoản thu nhập vừa tạo ra ảnh hưởng làm giảm trợ cấp và làm tăng thu nhập của gia đình. Khi thu nhập của gia đình đạt mức $7.200, trợ cấp sẽ giảm xuống bằng 0. Đó sẽ là điểm hòa vốn mà tại đó các gia đình không nhận trợ cấp cũng không nộp thuế. Nếu thu nhập tăng cao hơn nữa, các gia đình bắt đầu sẽ phải nộp thuế.

Ở đây, chúng ta không cần đi sâu vào các chi tiết hành chính – như kiểu các khoản trợ cấp được thanh toán hàng tuần, nửa tháng một lần, hay hàng tháng; làm sao để có thể kiểm tra được tình hình tuân thủ,v.v.... Những câu hỏi này đã được mổ xẻ triệt để; và các kế hoạch chi tiết đã được xây dựng và đệ trình lên Quốc hội – chúng ta sẽ trở lại với vấn đề này sau.

Thuế thu nhập âm sẽ là một phương án cải cách thỏa đáng cho hệ thống phúc lợi hiện nay của chúng ta chỉ khi nó thay thế toàn bộ các chương trình phúc lợi cụ thể khác mà chúng ta có hiện nay. Nó sẽ gây hại hơn là có lợi nếu chỉ đơn thuần là một miếng giẻ trong đống rẻ rách các chương trình phúc lợi.

Nếu được sử dụng để thay thế toàn bộ các chương trình phúc lợi hiện tại, thuế thu nhập âm có thể mang lại những lợi ích to lớn. Cụ thể, nó trực tiếp hướng tới vấn đề đói nghèo. Nó mang đến sự trợ giúp ở dạng tiện ích nhất cho người nhận, đó là tiền mặt. Nó hướng đến hỗ trợ đối tượng nói chung – nó không giang tay hỗ trợ bởi vì người nhận già yếu hoặc tàn tật hoặc bị bệnh hoặc sống trong một khu vực đặc biệt, hay mang một đặc điểm bất kỳ nào khác khiến họ được hưởng phúc lợi theo các chương trình hiện hành. Nó trợ giúp người nhận bởi anh ta có thu nhập thấp. Nó phân định rõ chi phí mà người nộp thuế phải chịu. Giống như các biện pháp xóa đói giảm nghèo khác, nó làm giảm động lực của những người được nhận hỗ trợ tự vượt khó nhằm cứu giúp chính họ. Tuy nhiên, nếu tỷ lệ trợ cấp được duy trì ở mức hợp lý, nó sẽ không loại bỏ hoàn toàn động cơ này. Kiếm thêm được một đồng đô la luôn có nghĩa là có thêm tiền để tiêu dùng.

Một điều không kém phần quan trọng là chính sách thuế thu nhập âm không cần tới bộ máy quan liêu khổng lồ đang quản lý một loạt các chương trình phúc lợi hiện nay. Thuế thu nhập âm sẽ tương thích ngay với hệ thống thuế thu nhập hiện tại của chúng ta và có thể được quản lý song hành cùng với nó. Thuế thu nhập âm sẽ làm giảm tình trạng trốn thuế dưới hệ thống thuế thu nhập hiện tại bởi tất cả mọi người đều sẽ được yêu cầu kê khai thuế. Có thể chúng ta sẽ phải bổ sung nhân sự, nhưng sẽ chẳng là gì so với số lượng nhân viên mà hiện nay chúng ta đang thuê để điều hành các chương trình phúc lợi.

Bằng cách không sử dụng tới bộ máy quan liêu cồng kềnh và tích hợp hệ thống trợ cấp vào hệ thống thuế, thuế thu nhập âm sẽ xóa bỏ tình trạng suy đồi đạo đức hiện nay của một số quan chức quản lý các chương trình o ép đời sống của nhân dân. Nó sẽ giúp xóa bỏ tình trạng phân hóa hiện tại chia tách người dân thành hai nhóm - những người đóng tiền vào ngân sách và những người sống dựa vào ngân sách. Tại các mức hòa vốn và thuế suất hợp lý, chính sách này sẽ đỡ tốn kém hơn rất nhiều so với hệ thống hiện tại của chúng ta.

Chúng ta vẫn cần sự hỗ trợ cá nhân đối với một số gia đình mà vì lý do này hay lý do khác không thể quản lý các vấn đề của họ. Tuy nhiên, nếu gánh nặng duy trì thu nhập được giải quyết thông qua chính sách thuế thu nhập âm, thì sự hỗ trợ đó nên được cung cấp bởi các hoạt động từ thiện tư nhân. Chúng tôi tin rằng một trong những chi phí lớn nhất của hệ thống phúc lợi xã hội hiện nay của chúng ta là nó không chỉ làm suy yếu và phá hủy các gia đình, mà còn làm thui chột hoạt động từ thiện tư nhân.

Hệ thống An Sinh Xã Hội có thể nằm ở đâu trong giấc mơ tươi đẹp này, nếu như nó không khả thi về mặt chính trị?

Giải pháp tốt nhất theo quan điểm của chúng tôi đó là kết hợp việc ban hành chính sách thuế thu nhập âm với hệ thống An Sinh Xã Hội giảm dần trong khi vẫn thực hiện các nghĩa vụ cam kết hiện tại. Cách để làm được điều đó là:

1. Bãi bỏ ngay lập tức thuế tiền lương (payroll tax).

2. Tiếp tục thanh toán cho toàn bộ những người thụ hưởng chương trình An Sinh Xã Hội hiện tại khoản tiền mà họ được hưởng theo pháp luật hiện hành.

3. Cung cấp cho mọi người lao động đã được bảo đảm bởi hệ thống An Sinh Xã hội quyền hưởng đối với các phúc lợi như hưu trí, khuyết tật, và người còn sống mà các khoản nộp thuế và thu nhập đến nay của anh ta cho phép anh ta được hưởng theo pháp luật hiện hành, trừ đi giá trị hiện tại của khoản khấu trừ các mức thuế trong tương lai của anh ta khi bãi bỏ thuế tiền lương. Người lao động có thể chọn nhận các phúc lợi của mình theo hình thức niên kim tương lai hoặc nhận trái phiếu chính phủ có trị giá tương đương giá trị hiện tại của các khoản phúc lợi mà anh ta được quyền hưởng.

4. Trả cho mỗi người lao động chưa được hưởng từ hệ thống An Sinh Xã hội một khoản vốn gộp (cũng dưới dạng trái phiếu) tương đương với giá trị tích lũy của số tiền thuế tiền lương mà anh ta hoặc chủ lao động của anh ta đã thay mặt trả.

5. Chấm dứt mọi hoạt động tích lũy phúc lợi, để các cá nhân tự lo liệu cho thời kỳ hưu trí theo ý họ muốn.

6. Tài trợ cho các khoản thanh toán theo mục 2, 3, và 4 bằng các nguồn thuế chung cộng thêm nguồn phát hành trái phiếu chính phủ.

Chương trình chuyển đổi này không làm gia tăng gánh nợ thực tế của chính phủ Mỹ. Ngược lại, nó còn làm giảm khoản nợ bằng cách chấm dứt những hứa hẹn cho người thụ hưởng trong tương lai. Nó chỉ đơn thuần mang đến các nghĩa vụ mở mà hiện tại thì vẫn đang ở dạng tiềm ẩn. Nó tài trợ cho các mục đích mà hiện nay không có nguồn tài trợ. Các bước này sẽ cho phép cùng một lúc tháo dỡ hầu hết các bộ máy hành chính của chương trình An Sinh Xã Hội hiện nay.

Việc giảm dần chương trình An Sinh Xã Hội sẽ loại bỏ ảnh hưởng không khuyến khích làm việc hiện nay của nó và điều đó có nghĩa là thu nhập quốc dân hiện tại sẽ cao hơn. Nó sẽ làm gia tăng tiết kiệm cá nhân và từ đó dẫn đến tỷ lệ hình thành vốn cao hơn và tốc độ tăng trưởng thu nhập nhanh hơn. Nó sẽ kích thích sự phát triển và mở rộng các các kế hoạch hưu trí tư nhân và do đó tăng thêm sự an toàn cho nhiều người lao động.

CHÍNH SÁCH NÀO KHẢ THI VỀ MẶT CHÍNH TRỊ?

Đây là một giấc mơ đẹp, nhưng đáng tiếc là, không có cơ hội nào để nó trở thành hiện thực ở thời điểm hiện tại. Ba vị Tổng thống – Tổng thống Nixon, Ford, và Carter - đã từng cân nhắc hay đề xuất một chương trình bao gồm các yếu tố của một chính sách thuế thu nhập âm. Trong từng trường hợp, các áp lực chính trị đã khiến họ đưa ra các chương trình như một phần bổ sung của các chương trình hiện có, chứ không phải là một phương án thay thế. Trong mỗi trường hợp, tỷ lệ trợ cấp cao đến nỗi chương trình tạo ra rất ít động lực để người thụ hưởng đi kiếm thêm thu nhập. Các chương trình méo mó này chỉ khiến toàn bộ hệ thống tệ đi, chứ không hề tốt hơn. Mặc dù chúng tôi là những người đầu tiên đề xuất về việc áp dụng chính sách thuế thu nhập âm để thay thế cho hệ thống phúc lợi hiện tại, một người trong số chúng tôi đã điều trần trước Quốc hội chống lại phiên bản mà Tổng thống Nixon đã đề xuất, đó là Kế Hoạch Hỗ Trợ Gia Đình.26

Những trở ngại chính trị đối với một chính sách thuế thu nhập âm khả dĩ chủ yếu thuộc hai loại. Trở ngại dễ nhận thấy đó là sự tồn tại của các nhóm lợi ích trong những chương trình hiện nay: những người nhận phúc lợi, các quan chức chính quyền tiểu bang và địa phương, những người cho rằng mình đáng được hưởng lợi từ các chương trình, và trên hết bộ máy hành chính quan liêu điều hành các chương trình phúc lợi. Trở ngại khó nhận ra hơn là mâu thuẫn giữa các các mục tiêu mà những người ủng hộ cải cách hệ thống phúc lợi, bao gồm cả những nhóm lợi ích hiện có, cố gắng  tìm cách đạt được.

Như Martin Anderson tóm gọn trong một chương tuyệt vời về "Sự bất khả thi của giải pháp cải cách phúc lợi triệt để"

Tất cả các chương trình cải cách phúc lợi triệt để đều có ba phần cơ bản đặc biệt nhạy cảm về mặt chính trị. Thứ nhất là mức độ phúc lợi căn bản mà nó cung cấp, chẳng hạn cho một gia đình bốn người được hưởng phúc lợi. Thứ hai là mức độ ảnh hưởng của chương trình đối với động lực tìm kiếm việc làm hoặc kiếm thêm thu nhập của một người nằm trong chương trình phúc lợi. Thứ ba là chi phí tăng lên đối với người nộp thuế.

. . . Để trở thành hiện thực về mặt chính trị, kế hoạch phải đưa ra một mức hỗ trợ tươm tắt cho những người nằm trong chương trình phúc lợi, nó phải chứa các động lực mạnh mẽ thúc đẩy người thụ hưởng lao động, và nó chỉ đòi hỏi một mức chi phí hợp lý. Và nó phải đồng thời làm được cả ba việc trên cùng lúc.27

Mâu thuẫn nảy sinh từ những từ ngữ "tươm tất" (decent), "mạnh mẽ" và "hợp lý", nhưng đặc biệt vẫn là từ "kha khá." Nếu một mức hỗ trợ "tươm tắt" mang nghĩa là chỉ có vài người nhận phúc lợi hiện tại nhận được ít hơn từ các chương trình cải cách so với những gì họ nhận được từ một loạt các chương trình hiện có, khi đó chương trình cải cách sẽ không thể đạt được đồng thời cả ba mục tiêu, dẫu cho những từ "mạnh mẽ" và "hợp lý" được hiểu ra sao. Tuy nhiên, như Anderson nói: "Không bao giờ có chuyện Quốc hội, ít nhất là trong tương lai gần, sẽ thông qua bất kỳ cải cách phúc lợi nào mà thực sự làm giảm chi trả cho hàng triệu người nhận phúc lợi."

Xem xét một chương trình thuế thu nhập âm đơn giản mà chúng tôi đã đưa ra làm ví dụ minh họa trong phần trước: điểm hòa vốn  cho một gia đình bốn người là $7.200, tỷ lệ trợ cấp là 50%, điều đó  có nghĩa là gia đình này sẽ nhận được khoản tiền $3.600 khi không có nguồn hỗ trợ nào khác. Tỷ lệ trợ cấp ở mức 50% sẽ mang đến một động lực làm việc tương đối mạnh mẽ. Chi phí cho chương trình có thể sẽ thấp hơn rất nhiều so với chi phí của một mớ các chương trình hiện tại. Tuy nhiên, hiện tại mức hỗ trợ này là không thể thể chấp nhận được về mặt chính trị. Như Anderson nói: "Một gia đình điển hình gồm bốn người nằm trong chương trình phúc lợi của Hoa Kỳ hiện nay [đầu năm 1978] đủ điều kiện được hưởng khoảng $6.000 mỗi năm dưới dạng các dịch vụ và tiền chu cấp. Ở các bang trả mức phúc lợi cao hơn, như New York, có rất nhiều gia đình nhận mức phúc lợi hàng năm vào khoảng $7.000 đến $12.000 và thậm chí nhiều hơn thế.”28

Ngay cả con số “ở mức điển hình” $6.000 đã đòi hỏi một tỷ lệ trợ cấp lên tới 83,3% nếu  như điểm hòa vốn được giữ nguyên là $7.200. Tỷ lệ này vừa làm suy yếu nghiêm trọng cả động lực làm việc vừa khiến chi phí gia tăng đáng kể. Tỷ lệ trợ cấp có thể được giảm bằng cách nâng điểm hòa vốn, nhưng cách nào cũng sẽ làm gia tăng chi phí lên rất nhiều. Đây là một vòng luẩn quẩn không có lối thoát. Cho đến khi nào việc giảm các khoản chi trả cho phần lớn người dân – những người hiện đang nhận được những khoản phúc lợi cao từ nhiều chương trình hiện nay – còn chưa khả thi về mặt chính trị, thì lời của Anderson sẽ vẫn luôn đúng: "Không có cách nào để cùng lúc đạt được tất cả các điều kiện cần thiết về mặt chính trị cho chương trình cải cách phúc lợi triệt để. "2s

Tuy nhiên, những điều không khả thi về mặt chính trị ngày hôm nay có thể khả thi về mặt chính trị vào ngày mai. Các nhà khoa học chính trị và kinh tế đã lập một kỷ lục đáng buồn trong việc dự báo những điều kiện khả thi về mặt chính trị. Các dự báo của họ đã nhiều lần mâu thuẫn với kinh nghiệm thực tiễn.

Người thầy vĩ đại và đáng kính của chúng tôi Frank H. Knight rất thích minh họa các hình thức lãnh đạo khác nhau bằng những chú vịt bay kiểu chữ V trong đó con đầu đàn sẽ ở mũi chữ V. Lúc nào ông cũng nói những con vịt đi sau con đầu đàn sẽ xoay chuyển sang một hướng khác nhau trong khi con đầu đàn vẫn tiếp tục bay về phía trước. Khi con đầu đàn nhìn quanh và phát hiện chẳng còn con nào theo sau, nó sẽ vội vàng lao lại lên mũi chữ V. Đó là một kiểu lãnh đạo – và không có gì nghi ngờ, đây là hình thức biến nhất ở Washington.

Trong khi chúng tôi chấp nhận quan điểm cho rằng các đề xuất của chúng tôi hiện không khả thi về mặt chính trị, chúng tôi đã trình bày chúng một cách đầy đủ nhất có thể, không chỉ như một lý tưởng có thể dẫn lối cho cuộc cải cách triệt để, mà còn với hy vọng rằng một ngày nào đó chúng sẽ khả thi về mặt chính trị.

KẾT LUẬN

Bộ máy hành chính quản lý phúc lợi cho tới gần đây chịu sự điều hành bởi Bộ Y tế, Giáo dục và Phúc lợi đã chi ngày càng nhiều tiền bạc của của chúng ta hàng năm cho sức khỏe của chúng ta. Tác động chính đơn giản là khiến chi phí của các dịch vụ y tế và sức khỏe tăng cao nhưng lại không mang lại bất kỳ cải thiện tương ứng nào trong chất lượng chăm sóc y tế.

Chi tiêu cho giáo dục đã tăng vọt, tuy thế theo nhận định chung thì chất lượng giáo dục lại giảm sút. Số tiền đầu tư lớn hơn và các biện pháp kiểm soát ngày càng cứng nhắc đã được áp đặt lên chúng ta nhằm thúc đẩy hòa nhập chủng tộc, thế nhưng xã hội của chúng ta dường như đang ngày càng rạn nứt hơn.

Hàng tỷ đô la được chi mỗi năm vào phúc lợi, trong khi tiêu chuẩn sống trung bình của công dân Mỹ cao hơn bao giờ hết trong lịch sử từ trước đến nay, danh sách những người nhận phúc lợi cũng gia tăng mạnh. Ngân sách An Sinh Xã Hội khổng lồ, song hệ thống An Sinh Xã Hội vẫn ngập sâu trong những khó khăn tài chính. Những người trẻ phàn nàn vô cùng hợp lý về các mức thuế cao mà họ phải nộp, các loại thuế cần thiết để tài trợ cho các khoản phúc lợi dành cho người già. Trong khi đó, người già phàn nàn, và cũng với rất nhiều lý lẽ chính đáng, rằng họ không thể có được mức sống mà họ mong đợi. Một chương trình từng được ban hành để đảm bảo rằng những người cao tuổi của chúng ta không bao giờ trở thành đối tượng của tổ chức từ thiện đã chứng kiến số lượng người già trong danh sách phúc lợi ngày càng dài ra.

Theo tính toán của HEW, số tiền mà Bộ này mất mát  mỗi năm cho các trường hợp gian lận, lạm dụng, và lãng phí trong có thể đủ xây hơn 100.000 ngôi nhà trị giá hơn $50.000 mỗi căn.

Tình trạng lãng phí thật sự đáng đau buồn, nhưng đó còn là điều ít tệ hại nhất diễn ra trong các chương trình gia trưởng có quy mô phình to khổng lồ như ngày nay. Điều tệ hại nhất là tác động chúng đối với kết cấu xã hội của chúng ta. Nó làm suy yếu các gia đình; giảm động lực lao động, tiết kiệm, và đổi mới sáng tạo; giảm hoạt động tích lũy vốn; và hạn chế tự do của chúng ta. Đây là các tiêu chuẩn cơ bản mà chúng ta cần dựa vào để đánh giá về nó.


[1] Rube Goldberg là một nhà văn sáng tác truyện tranh nổi tiếng người Mỹ. Ông sáng tác một mẩu truyện tranh năm 1921 với tiêu đề “The Spirit of 1921 or Toying with the Income Tax”, liệt kê những trường hợp hài hước về giảm trừ thuế thu nhập cá nhân (ND).

Nguyên tác: Free to choose: A personal statement, Milton & Rose Friedman

Bản dịch: Tự do lựa chọn: một bản tuyên ngôn cá nhân, nhóm dịch giả gồm Đinh Tuấn Minh, Chu Diệu Hiền, Nguyễn Minh Huệ, Nguyễn Thùy Liên