Tự do lựa chọn: Một bản tuyên ngôn cá nhân - Chương 3: Giải phẫu cuộc đại khủng hoảng (Phần 2)

Tự do lựa chọn: Một bản tuyên ngôn cá nhân - Chương 3: Giải phẫu cuộc đại khủng hoảng (Phần 2)

NHỮNG NĂM ĐẦU CỦA CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG

Cục Dự trữ Liên bang (Fed) bắt đầu hoạt động vào cuối năm 1914, vài tháng sau khi chiến tranh bùng nổ ở châu Âu. Cuộc chiến này đã thay đổi một cách mạnh mẽ vai trò và tầm quan trọng của Fed.

Khi Fed mới được thành lập, Anh Quốc là trung tâm tài chính thế giới. Người ta nói rằng thế giới áp dụng chế độ bản vị vàng, song nói thế giới đi theo chế độ bản vị đồng Sterling cũng đúng. Về cơ bản, có thể hình dung Fed là phương tiện để tránh các cơn hoảng loạn ngành ngân hàng và tạo thuận lợi cho thương mại; sau đó có thể hình dung nó giống như ngân hàng của chính phủ. Người ta mặc nhiên cho rằng Fed hoạt động dựa trên chế độ bản vị vàng của thế giới, phản ứng với các sự kiện bên ngoài nhưng không định hình hay tạo ra chúng.

Khi chiến tranh kết thúc, Hoa Kỳ đã thay thế Anh Quốc là trung tâm tài chính của thế giới. Thế giới áp dụng chế độ bản vị đồng đô la một cách hiệu quả và vẫn duy trì chế độ này ngay cả khi chế độ bản vị vàng trước chiến tranh được tái lập theo một phiên bản yếu hơn. Fed không còn là một cơ quan thứ yếu phản ứng thụ động với các sự kiện bên ngoài. Nó trở thành một thế lực độc lập lớn mạnh định hình cấu trúc tiền tệ thế giới.

Những năm chiến tranh đã chứng minh quyền lực của Fed có cả những mặt tốt và xấu, đặc biệt sau khi Hoa Kỳ can dự vào cuộc chiến. Như trong mọi cuộc chiến từ trước đó cũng như về sau này, người ta đều phải huy động máy in tiền để tài trợ cho chiến tranh. Thế nhưng Fed đã áp dụng biện pháp này một cách tinh vi và tinh tế hơn so với các cuộc chiến trước đó. Máy in tiền theo nghĩa đen đã được dùng ở một mức độ nhất định khi các Ngân hàng Dự trữ Liên bang mua trái phiếu từ Bộ tài chính Hoa Kỳ và thanh toán bằng các Giấy bạc của Fed để Bộ Tài chính có thể đáp ứng phần nào các chi tiêu của họ. Tuy nhiên, Fed chủ yếu thanh toán cho các trái phiếu đã mua bằng cách ghi Có cho Bộ Tài chính vào khoản mục tiền gửi tại các Ngân hàng Dự trữ Liên bang. Bộ tài chính thanh toán cho các khoản mua hàng bằng séc rút từ tài khoản tiền gửi này. Khi người hưởng thụ gửi séc tại ngân hàng của mìnhvà các ngân hàng này lại gửi chúng tại một Ngân hàng Dự trữ Liên bang, mục tiền gửi của Bộ Tài chínhtại Fed được chuyển khoản sang các ngân hàng thương mại, làm tăng lượng dự trữ của các ngân hàng này lên. Sự gia tăng này cho phép hệ thống ngân hàng thương mại mở rộng qui mô tín dụng tại thời điểm đó chủ yếu bằng cách mua vào các trái phiếu chính phủ hoặc cho khách hàng vay để họ có thể mua những trái phiếu này. Thông qua quá trình xoay vòng này, Bộ Tài chính đã tạo ra lượng tiền mới để chi trả cho chiến tranh, tuy nhiênsố lượng tiền mới gia tăng chủ yếu dưới dạng tiền gửi tại các ngân hàng thương mại, thay vì dưới dạng tiền mặt.  Sự tinh tế của quá trình tạo tiền này tuy không ngăn chặn được lạm phát, song nó giúp quá trình diễn ra trơn tru bằng cách che giấu đi những gì thực sự xảy ra, làm giảm hoặc trì hoãn những quan ngại từ phía công chúng về lạm phát.

Sau chiến tranh, Fed tiếp tục gia tăng lượng tiền một cách nhanh chóng, từ đó thúc đẩy lạm phát. Tuy nhiên, ở giai đoạn này, lượng tiền gia tăng không được dùng để chi trả cho các chi tiêu của chính phủ mà để tài trợ cho hoạt động kinh doanh tư nhân. Một phần ba tổng số lạm phát thời kỳ chiến tranh của chúng ta không chỉ diễn ra sau khi chiến tranh kết thúc mà kể cả sau khitình trạng thâm hụt ngân sách của chính phủ do chi trả cho chiến tranh đã chấm dứt. Fed đã phát hiện ra sai lầm của mình một cách muộn màng. Sau đó, cơ quan này đã phản ứng mạnh mẽ và chấp nhận đưa đất nước vào một giai đoạn suy thoái nghiêm trọng song chỉ diễn ra trong khoảng thời gian ngắn 1920-1921.

Thời kỳ dậy sóng của Fed chắc chắn là khoảng thời gian còn lại thập kỷ1920. Trong những năm này nó đóng vai trò như một bánh xe cân bằng hiệu quả, làm tăng tốc độ tăng trưởng tiền tệ khi nền kinh tế có dấu hiệu chững lại và giảm tốc độ tăng trưởng tiền tệ khi nền kinh tế bắt đầu phát triển nhanh chóng hơn. Cơ quan này không thể ngăn chặn những dao động ngành trong nền kinh tế nhưng đã góp phần giữ những daođộng này diễn ra ở mức độ nhẹ nhàng. Hơn nữa, nó hoạt động cân bằng đủ để tránh xảy ra lạm phát. Kết quả của một nền kinh tế và tiền tệ ổn định là tăng trưởng kinh tế nhanh. Người dân loan truyền rộng rãi rằng một kỷ nguyên mới đã mở ra, rằng chu kỳ kinh doanh đã kết thúc, tất cả nhờ có Fed nhạy bén.

Có thể nói phần lớn thành công trong những năm 1920 có được là nhờ Benjamin Strong, ông chủ một ngân hàng tại New York và cũng là người lãnh đạo đầu tiên của Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York, ông giữ chức vụ này cho đến khi qua đời sớm vào năm 1928. Cho đến khi ông mất, Ngân hàng New York đã trở thành động lực tiên phong trong chính sách của Fed ở cả trong và ngoài nước, và không có gì nghi ngờ khi Benjamin trở thành nhân vật nổi bật. Ông là một nhân vật đáng chú ý, được mô tả bởi một thành viên của Hội đồng quản trị Fed là "một thiên tài– một Hamilton xuất chúng trong số các chủ nhà băng." Hơn bất kỳ cá nhân nào trong Fed, ông có sự tự tin và nhận được ủng hộ từcả các nhà lãnh đạo tài chính bên trong và bên ngoài Fed, thế lực cá nhân giúp quan điểm của ông nổi bật, và lòng can đảm để hành động theo những quan điểm đó.

Sự ra đi của Strong đã làm nảy sinh một cuộc tranh chấp quyền lực bên trong Fed và để lại những hậu quả sâu rộng. Như trong tiểu sử của Strong có nhắc tới, "Cái chết của Strong đã khiến hệ thống mất đi một đầu não lãnh đạo mạnh dạn và hợp lý. Hội đồng quản trị [ở Washington] quyết định rằng Ngân hàng New York không đóng vai trò là cánh chim đầu đàn nữa. Bản thân Hội đồngnày cũng không thể năng nổ thực hiện vai trò của mình. Nó vẫn còn non yếu và chia rẽ.... Hơn nữa, hầu hết các Ngân hàng Dự trữ khác, cũng như Ngân hàng Dự trữ New York, đều miễn cưỡng tuân theo sự chỉ đạo của Hội đồng.... Vì vậy, Fed dễ dàng trượt vào tình trạng do dự và bế tắc. "1

Không ai tại thời điểm đó có thể tưởng tượng rằng cuộc tranh chấp quyền lực này đã trở thành bước khởi đầu trong một cuộc chuyển giao quyền lực với tốc độ chóng mặt từ thị trường tư nhân sang chính phủ, và từ chính quyền địa phương và chính quyền tiểu bang sang chính quyền Washington.

KHỞI ĐẦU CỦA THỜI KÌ SUY THOÁI

Nhiều người chung quan điểm là cuộc đại suy thoái bắt đầu vào ngày thứ Năm đen tối, ngày 24 tháng 10 năm 1929, khi thị trường chứng khoán New York sụp đổ. Sau nhiều giai đoạn lên – xuống, thị trường đã khép lại năm 1933 ở mức điểm chỉ bằng 1/6 ngưỡng cao kỷ lục năm 1929.

Cú bổ nhàocủa thị trường chứng khoán là một sự kiện quan trọng, tuy nhiên đó chưa phải là khởi đầu của cuộc đại suy thoái. Hoạt động kinh doanh đạt đỉnh vào tháng Tám năm 1929, hai tháng trước khi thị trường chứng khoán sụp đổ, và đã giảm đáng kể sau đó. Thị trường chứng khoán sụp đổ phản ánh những khó khăn kinh tế đang gia tăng cộng thêm lỗ thủng của một bong bóng đầu cơ không bền vững. Tất nhiên, khi tình trạng đổ vỡ diễn ra, nó sẽ lây lan tâm lý không chắc chắn trong các doanh nhân và những người từng bị sửng sốt bởi những hy vọng cao vời vợi vào một kỷ nguyên mới. Nó khiến cả người tiêu dùng lẫn các doanh nghiệp kinh doanh ngại chi tiêu và tăng ham muốn gia tăng các tài sản dự trữ thanh khoản để đề phòng cho các tình huống khẩn cấp của họ.

Những hiệu ứng suy thoái từ sự đổ vỡ của thị trường chứng khoán lại càng được gia tăng mạnh mẽ bởi ứng xử sau đó của Fed. Tại thời điểm xảy ra sự sụt giảm, Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York, gần như theo phản xạ có điều kiện thấm nhuần trong thời kỳ Strong tại vị, ngay lập tức hành động để đệm cho cú sốc bằng cách mua vào trái phiếu chính phủ, từ đó làm tăng dự trữ ngân hàng. Điều này cho phép các ngân hàng thương mại đỡcho cú sốc bằng cách cung cấp các khoản cho vay bổ sung cho các công ty trên thị trường chứng khoán đồng thời mua các chứng khoán từ những công ty này cũng như các đối tượng khác bị ảnh hưởng bởi vụ sụp đổ. Nhưng Strong đã mất, và Hội đồng quản trị Fed muốn bổ nhiệm lãnh đạo mới. Cơ quan này nhanh chóng áp đặt kỷ luật lên New York, và New York cam chịu chấp nhận. Sau đó Fed đã hành động khác hoàn toàn so với những gì họ làm trong các thời kỳ suy thoái kinh tế trước đó vào những năm 1920. Thay vì tích cực mở rộng cung tiền nhiều hơn lượng bình thường để bù đắp tình trạng co lại của nền kinh tế, Fed đãcắtgiảm lượng tiền lưu thông trong suốt năm 1930. So với mứcsuy giảm gần một phần ba lượng tiền kể từ cuối năm 1930 đến đầu năm 1933, mứcsuy giảm lượng tiền tính đến tháng 10 năm 1930 có vẻ nhẹ hơn- chỉ khoảng 2,6%. Tuy nhiên, so với các thời kỳ trước đó, con số nàytương đối lớn. Thậm chí, nó còn lớn hơn tỷ lệ suy giảm của một vài cuộc suy thoái trước đó gộp lại.

Ảnh hưởngcủasự kiện thị trường chứng khoán sụp đổkết hợp với việc cắt giảm lượng tiền từ từtrong năm 1930 dẫn đến một cuộc suy thoái nghiêm trọng hơn. Ngay cả nếu cuộc suy thoái kinh tế chấm dứt vào khoảng cuối năm 1930 hay đầu năm 1931, như lẽ ra phải thếnếu không xảy ra sự sụp đổ thị trường tiền tệ, thìnó vẫn được xem là một trong những cuộc suy thoái kinh tế nghiêm trọng nhất trong lịch sử.

CÁC CUỘC KHỦNG HOẢNG NGÂN HÀNG

Tuy nhiên, điều tồi tệ nhất vẫn chưa diễn ra. Đến mùa thu năm 1930, mức độ suy giảm của nền kinh tế dù diễn ra ở mức nghiêm trọng nhưng vẫn chưa xuất hiện những khó khăn hay các cuộc rút tiền ồ ạt xảy ra ở các ngân hàng. Tính chất của suy thoái thay đổi đáng kể khi hàng loạt các các ngân hàng sụp đổ ở Trung Tây và phía Nam làm suy yếu niềm tin đối với các ngân hàng,dẫn đến những làn sóng chuyển các khoản tiền gửi thànhtiền mặt.

Tình trạng này cuối cùng cũng lây lan đến New York, trung tâm tài chính của đất nước. Ngày 11 Tháng 12 năm 1930 đã trở thành một ngày trọng đại khi Ngân hàng Hoa Kỳ (Bank of United States) đóng cửa. Đây là ngân hàng thương mại lớn nhất từng thất bại trong lịch sử Hoa Kỳ tính đến thời điểm bấy giờ. Ngoài ra, mặc dù đây cũng chỉ là một ngân hàng thương mại bình thường, song cái tên của nó khiến nhiều người trong và ngoài nước lầm tưởng rằng đây là một ngân hàng nhà nước. Vì thế, sự sụp đổ của nó là một đòn chí mạng vào lòng tin của công chúng.

Ngân hàng Hoa Kỳ đã tình cờ đóng một vai trò quan trọng như vậy. Trong bối cảnh hệ thống ngân hàng Mỹ có cấu trúc phân táncộng thêm chính sách mà Fed thực hiện đó là cho phép lượng cung tiền sụt giảm đồng thời không phản ứng mạnh mẽ trước sự sụp đổ của các ngân hàng, không sớm thì muộn nhiều thất bại nhỏ sẽ dẫn tới tình trạng rút tiền ồ ạt tại các ngân hàng lớn khác. Nếu như không phải là Ngân hàng Hoa Kỳ thì vẫn sẽ có một ngân hàng lớn khác sụp đổ và cũng sẽ trở thành viên sỏi khởi đầu cho trận tuyết lở. Đây từng là một ngân hàng lành mạnh. Mặc dù bị giải thể trong những năm tồi tệ nhất của cuộc suy thoái, nhưng ngân hàng này vẫn có thể trả người gửi tiền 92,5 cent trên một đô la. Hầu như không nghi ngờ gì rằng nếu ngân hàng nàycó thể vượt qua được cuộc khủng hoảng ngắn, thì người gửi tiền sẽ không bị mất một xu nào.

Khi những tin đồn về Ngân hàng Hoa Kỳ bắt đầu lan rộng, Thống Đốc Ngân hàng Bang New York, Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York, và Hiệp hội các Ngân hàng tham gia thanh toán bù trừ của New York đã cố gắng đưa ra kế hoạch giải cứu Ngân hàng Hoa Kỳ, thông qua việc cung cấp một quỹ đảm bảo hoặc sáp nhập ngân hàng này với các ngân hàng khác. Đây là đường lối điển hình trong các cuộc hoảng loạn trước đó. Cho đến hai ngày trước khi ngân hàng đóng cửa, những nỗ lực này dường như vẫn đảm bảo thành công.

Tuy nhiên, kế hoạch đã thất bại chủ yếu là do tính chất đặc thù của Ngân hàng Hoa Kỳ cộng thêm những định kiến ​​của cộng đồng ngân hàng. Cái tên của ngân hàng này thực sự thu hút những người dân nhập cư và đã khiến các ngân hàng khác phẫn nộ. Quan trọng hơn, ngân hàng này thuộc sở hữu và được điều hành bởi người Do Thái, đồng thời chủ yếu phục vụ cộng đồng người Do Thái. Đó là một trong số ít các ngân hàng thuộc sở hữu của người Do Thái trong một ngành công nghiệp vốn là nơi lưu trữ tài sản của giới quyền quý,có địa vị trong xã hội. Không phải ngẫu nhiên mà kế hoạch giải cứu lại liên quan đến việc sáp nhập Ngân hàng Hoa Kỳ với một ngân hàng lớn duy nhất khác củaThành phố New York mà phần lớn thuộc sở hữu và được điều hành bởi người Do Thái, cùng với hai ngân hàng nhỏ hơn cũng của người Do Thái.

Kế hoạch đã không thành công vì Trung tâm Thanh toán Bù trừ New York đã quyết định rút khỏi kế hoạch đề xuất vào phút cuối – và thừa nhận nguyên do phần lớn là bởi tinh thần chống Do Thái của một số thành viên đứng đầu trong cộng đồng ngân hàng. Tại cuộc họp chủ cuối cùng của chủ các nhà băng, Joseph A. Broderick, sau nàylà Thống đốc Ngân hàng Bang New York, đã cố gắng nhưng cuối cùng vẫn không thể thuyết phục những người khác theo đuổi kế hoạch. Và đây là lời làm chứng tại một phiên tòa sau đó của ông "Tôi đã nói rằng,"

Ngân hàng này [Ngân hàng Hoa Kỳ] có hàng ngàn khách vay, rằng nó tài trợ cho các thương gia nhỏ, đặc biệt là các thương gia người Do Thái, và việc đóng cửa ngân hàng này có thể gần như chắc chắn sẽ dẫn đến tình trạng phá sản lan rộng trong số các khách hàng của họ. Tôi đã cảnh báo rằng sự kiện đóng cửa Ngân hàng Hoa Kỳ sẽ dẫn đến ít nhất 10 ngân hàng khác trong thành phố cũng phải đóng cửa theo và nó thậm chí có thể ảnh hưởng đến các ngân hàng tiết kiệm. Ảnh hưởng của việc đóng cửa Ngân hàng Hoa Kỳ thậm chí có thể lanrộng ra ngoài thành phố, tôi đã nói với họ như vậy.

Tôi nhắc họ rằng chỉ mới hai hay ba tuần trước đó thôi họ đã giải cứu hai trong số các ngân hàng tư nhân lớn nhất của thành phố và sẵn sàng bỏ ra số tiền cần thiết. Tôi nhắc lại rằng chỉ mới bảy hay tám năm trước đó họ đã cứu trợ một trong những công ty tín thác lớn nhất ở New York, bỏ ra số tiềnlớn hơn nhiều lần so với con số cần thiết để giải cứu Ngân hàng Hoa Kỳ nhưng sau đó chỉ một vài người đứng đầu trong số họ gật đầu đồng ý.

Tôi hỏi họ rằng quyết định từ bỏ kế hoạch này có phải là quyết định cuối cùng của họ không. Họ nói với tôi đó là quyết định cuối cùng. Tôi đã cảnh báo họ rằng họ đang đưa ra sai lầm lớn nhất trong lịch sử ngành ngân hàng của New York. 2

Sự kiện đóng cửa Ngân hàng Hoa Kỳ là thảm kịch cho cảchủ sở hữu và người gửi tiền của nó. Hai trong số các chủ sở hữu đã phải hầu tòa, bị kết án, và ngồi tùvì những tội danh mà tất cả mọi người đều đồng ý là vi phạm pháp luật về mặt kỹ thuật. Người gửi tiền bị kẹt một phần tiền tại các quỹ đầu tư mà rốt cuộc họ cũng đã thu hồi lại trọn vẹn sau nhiềunăm. Xét trên tầm quốc gia nói chung, các tác động thậm chí còn sâu rộng hơn. Người gửi tiền trên khắp cả nước lo ngại về sự an toàn cho khoản tiền gửi của mình và hùa theo các cuộc rút tiền ồ ạt lẻ tẻ diễn ra trước đó. Các ngân hàng lũ lượt sụp đổ - chỉ tính riêng trong tháng 12 năm 1930 đã có 352 ngân hàng ra đi.

Nếu như Fed không được thiết lập, và khi hàng loạt các cuộc rút tiền ồ ạt diễn ra, chắc chắn các biện pháp tương tự như trong năm 1907 cũng sẽ được thực hiện – đó là chính sách hạn chế thanh toán. Các biện pháp đó có lẽ còn quyết liệt hơn những gì thực sự diễn ra trong những tháng cuối cùng của năm 1930. Nếu áp dụng chính sách ngăn chặn tình trạng chảy máu khoản mục dự trữ của các ngân hàng lành mạnh, thì lẽ ra hàng loạt ngân hàng đã tránh được sụp đổ dây chuyền trong các năm 1931, 1932, và 1933, giống như biện pháp hạn chế trong năm 1907 đã nhanh chóng chấm dứt các vụ sụp đổ ngân hàng sau đó. Bản thân Ngân hàng Hoa Kỳ lẽ ra đã có thể mở cửa trở lại, như Công ty Tín thác Knickerbocker đã hoạt động trở lại trong năm 1908. Cơn hoảng loạn qua đi, niềm tin trở lại, nền kinh tế có khả năng phục hồi kể từ đầu năm 1931, như nó đã từng hồi phục vào đầu năm 1908.

Sự ra đời của Fed đã ngăn chặn liệu pháp quyết liệt này. Fed đã trực tiếp làm xoa dịu nỗi lo lắng của các ngân hàng mạnh hơn;các ngân hàng này tin tưởng rằng khoản vay từ Fed cho họ một lối thoát đáng tin cậy trong trường hợp gặp khó khăn, nhưng cuối cùng hóa ra họ đã nhầm tưởng. Fed còn gián tiếpru ngủ toàn thể cộng đồng nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng, khiến mọi người tin rằng các biện pháp quyết liệt như vậy không còn cần thiết nữa bởi đã có Fed đứng ra xử lý những vấn đề này.

Fed lẽ ra đã có thể cung cấp một giải pháp tốt hơn bằng cách tham gia vào hoạt động thị trường mở với quy mô lớn hơn để thu muacác trái phiếu chính phủ. Hành động này sẽ cung cấp cho các ngân hàng thêm tiền mặt để đáp ứng nhu cầu của người gửi tiền. Việc này có thể đã giúp chấm dứt – hoặc ít nhất là làm giảm mạnh – tình trạng sụp đổ của hàng loạt các ngân hàng và ngăn chặn công chúng chuyển đổi các khoản tiền gửi sang tiền mặttrong bối cảnh lượng tiền lưu thông giảm. Thật không may, Fed đã do dự khi hành động và chỉ thực hiện trên quy mô nhỏ. Trong khoản thời gian cao trào, Fedđã đứng yên và bỏ mặc cuộc khủng hoảng hoành hành – lỗi ứng xử nàycòn lặp đi lặp lại nhiều lần trong hai năm tiếp theo.

Đầu tiên là vào mùa xuân năm 1931, khi cuộc khủng hoảng ngân hàng thứ hai diễn ra. Một chính sách ngoan cố hơn đã được theo đuổi kể từ tháng 9 năm 1931, khi Anh từ bỏ chế độ bản vị vàng. Fed đã phản ứng lại – ở thời điểm sau hai năm xảy ra suy thoái nghiêm trọng – bằng cách mạnh tay nâng lãi suất (lãi suất chiết khấu) cho các khoản vay của các ngân hàng thương mại một cách quyết liệt chưa từng thấy trong lịch sử của mình. Họ thực hiện hành động này nhằm ngăn chặn tình trạng thất thoát kho vàng dự trữ vào tay những người nước ngoài nắm giữ đồng đô la mà họ e ngại sẽ thực hiện lệnh hoán chuyển do ảnh hưởng bởi quyết định từ bỏ chế độ bản vị vàng của nước Anh. Tuy nhiên, chính sách này đã dẫn đến tình trạng giảm phát diễn ra ở mức cao ở trong nước,gây thêm sức ép đối với cả khối ngân hàng thương mại lẫn các doanh nghiệp kinh doanh. Fed lẽ ra đã có thể, bằng cách mua các chứng khoán chính phủ thông qua thị trường mở, bù đắp cho cú sốc tiền tệ đáng kể này và không đẩy nền kinh tế vào tình thế khó khăn; tuy nhiên họ đã không làm vậy.

Năm 1932, dưới áp lực mạnh mẽ từ Quốc hội, Fed cuối cùng đã tiến hành các lệnh mua quy mô lớn trên thị trường mở. Những tác động thuận lợi chỉ bắt đầu cảm nhận được khi Quốc hội động đậy và Fed đã nhanh chóng chấm dứt chương trình của mình.

Chương cuối trong câu chuyện đáng buồn này là cuộc hoảng loạn ngân hàng vào năm 1933, và một lần nữa lại khởi điểm từ sự sụp đổ của hàng loạt ngân hàng. Cuộc hoảng loạn càng như dầu đổ thêm vào lửa trong bối cảnh chuyển giao quyền lực giữa chính quyền Herbert Hoover và Franklin D. Roosevelt. Tổng thống Roosevelt đắc cử vào ngày 08 tháng 11 năm 1932, nhưng mãi đến ngày 04 tháng 03 năm 1933ông mới tuyên thệ nhậm chức. Herbert Hoover không muốn thực hiện các biện pháp quyết liệt mà không có sự hợp tác của vị tổng thống mới đắc cử nhưng chưa nhậm chức, và Tổng thống Roosevelt cũng không sẵn sàng chịu bất kỳ trách nhiệm nào cho đến khi ông nhậm chức.

Khi cuộc hoảng loạn lan rộng trong cộng đồng tài chính New York, bản thân Fed cũng bị khủng hoảng. Người đứng đầu Ngân hàng Dự trữ Liên bang của New York đã cố gắng nhưng không thành công trong việc thuyết phục Tổng thống Hoover tuyên bố kì nghỉ lễ toàn quốc cho ngành ngân hàng vào ngày cuối cùng của Hoover trong cương vị Tổng thống. Sau đó, ông đã cùng với các ngân hàng trong hệ thống thanh toán bù trừ New York và Thống Đốc Ngân hàng của Bang thuyết phục Thống đốc bang New York, ngài Lehman, tuyên bố kỳ nghỉ lễ toàn quốc cho ngành ngân hàng có hiệu lực vào ngày 04 Tháng 03 năm 1933, ngày lễ nhậm chức của Tổng thống Roosevelt. Ngân hàng Dự trữ Liên bangcủa NewYork cũng đóng cửa theo các ngân hàng thương mại. Các thống đốc khác cũng thực hiện những hành động tương tự. Kỳ nghỉ toàn quốc cuối cùng được tuyên bố bởi Tổng thống Roosevelt là vào ngày 06 tháng 03.

Hệ thống ngân hàng trung ương vốn được thành lập chủ yếu để giảm bớt việc thực thi chính sách hạn chế thanh toán không cần thiết của các ngân hàng thương mại; nhưng ở thời điểm đó bản thân Fed lại cùng các ngân hàng thương mại đưa ra một chính sách hạn chế thanh toán trên diện rộng, triệt để, gây thiệt hại về mặt kinh tế chưa từng có trong lịch sử nước Mỹ. Người đời chắc chắn có thể thông cảm với nhận xét của Hoover khi đọc hồi ký của ông: "Tôi kết luậnnó [Cục Dự trữ] thực sự chỉ giống như một cây sậy yếu cho quốc gia dựa vào trong thời điểm khó khăn."

Vào lúc đỉnh điểm khoảng giữa năm 1929, có gần 25.000 ngân hàng thương mại hoạt động tại Hoa Kỳ. Đến đầu năm 1933, con số này thu hẹp xuống 18.000. Khi Tổng thống Roosevelt tuyên bố chấm dứt kỳ nghỉ lễ ngành ngân hàng sau mười ngày kể từ khi bắt đầu, có chưa đầy 12.000 ngân hàng được phép mở cửa, và sau đó chỉ có thêm 3.000 ngân hàng được phép mở cửa. Như vậy, tất cả có khoảng 10.000 trong số 25.000 ngân hàng biến mất trong bốn năm – thông qua đóng cửa, sáp nhập, hoặc giải thể.

Tổng lượng cung tiền cũng sụt giảm mạnh mẽ không kém. Cứ mỗi $3 tiền gửi và tiền mặt trong tay công chúng ở thời điểm năm 1929 thì chỉ còn chưa đầy $2 tính đến năm 1933 - một cuộc sụp đổ tiền tệ chưa có tiền lệ.

Nguyên tác: Free to choose: A personal statement, Milton & Rose Friedman

Bản dịch: Tự do lựa chọn: một bản tuyên ngôn cá nhân, nhóm dịch giả gồm Đinh Tuấn Minh, Chu Diệu Hiền, Nguyễn Minh Huệ, Nguyễn Thùy Liên