Tự do lựa chọn: Một bản tuyên ngôn cá nhân - Chương 3: Giải phẫu cuộc đại khủng hoảng (Phần 1)

Tự do lựa chọn: Một bản tuyên ngôn cá nhân - Chương 3: Giải phẫu cuộc đại khủng hoảng (Phần 1)

Cuộc đại suy thoái bắt đầu từ giữa năm 1929 là một thảm họa có quy mô chưa từng thấy đối với Hoa Kỳ. Thu nhập tính theo đồng đô la của quốc gia đã bị giảm một nửa trước khi nền kinh tế chạm đáy vào năm 1933. Tổng sản lượng giảm một phần ba, và tỷ lệ thất nghiệp đạt mức kỷ lục 25% trên tổng lực lượng lao động. Cuộc suy thoái cũng chính là một thảm họa cho phần còn lại của thế giới. Khi nó lây lan sang các nước khác, sản lượng sản xuất tại các nước này sụt giảm, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, cảnh khốn cùng, nghèo đói diễn ra khắp nơi. Tại Đức, cuộc suy thoái tạo điều kiện cho Adolf Hitler leo lên cầm quyền, mở đường cho Thế chiến II. Tại Nhật Bản, nó củng cố quyền lựccho các phe phái quân sự có tham vọng tạo dựng khối Thịnh Vượng Chung Đại Đông Á. Ở Trung Quốc, nó dẫn đến những thay đổi trong lĩnh vực tiền tệ, đẩy nhanh tình trạnglạm phát phi mã, rốt cục đánh dấu sự diệt vong của chế độ Tưởng Giới Thạch và đưa những người cộng sản lên nắm quyền.

Xét trên bình diện lý luận, cuộc đại suy thoái thuyết phục công chúng rằng chủ nghĩa tư bản là một hệ thống bất ổn và dễ gặp phải những khủng hoảng nghiêm trọng. Công chúng đã chuyển hướng đi theo những quan điểm ngày càng được giới trí thức chấp nhận: chính phủ cần đóng vai trò tích cực hơn; cần can thiệp để cân bằng sự bất ổn do khối doanh nghiệp tư nhân nằm ngoài tầm kiểm soát tạo ra; cần hoạt động như một bánh xe cân bằng để thúc đẩy sự ổn định và đảm bảo an ninh. Sự thay đổi trong nhận thức của công chúng về vai trò phù hợp của doanh nghiệp tư nhân và của chính phủ đã chứng tỏ nó là chất xúc tác quan trọng cho sự mở rộng nhanh chóng của chính phủ, đặc biệt là chính quyền trung ương kể từ đó đến nay.

Cuộc đại suy thoái cũng tạo ra một sự thay đổi sâu rộng trong quan điểm của giới kinh tế chuyên nghiệp. Sự sụp đổ của nền kinh tế đã phá vỡ niềm tin bấy lâu, niềm tin vốn còn được tăng cường trong những năm 1920, rằng chính sách tiền tệ là một công cụ mạnh để thúc đẩy sự ổn định kinh tế. Quan điểm gần như chuyển sang thái cực đối lập, đó là "tiền tệ không phải là vấn đề." John Maynard Keynes, một trong những nhà kinh tế vĩ đại của thế kỷ XX, đã đưa ra một học thuyết thay thế. Cuộc cách mạng Keynesian không chỉ thu hút được giới kinh tế chuyên nghiệp, mà còn đưa ra một lối biện minh hấp dẫn và một đơn thuốc cho tình trạng can thiệp rộng rãi của chính phủ.

Sự thay đổi trong quan điểm của cả công chúng và giới kinh tế chuyên nghiệp là kết quả của một sự hiểu lầm về những điều thực sự diễn ra. Ở thời điểm đó, chỉ có một số người nhận ra, nhưng đến nay tất cả chúng ta đều biết rằng cuộc đại suy thoái không được sinh ra từ thất bại của khối doanh nghiệp tư nhân, mà là thất bại của chính phủ trong một lĩnh vực mà chính phủ phải là người nhận trách nhiệm đầu tiên – đó là "Quyết định việc đúc và in tiền, qui định giá trị của đồng tiền trong nước và đồng tiền nướcngoài", theo Khoản 8, Điều 1, Hiến pháp Hoa Kỳ. Thật không may, như chúng ta sẽ thấy trong Chương 9, thất bại của chính phủ trong việc quản lý tiền tệ không đơn thuần chỉ diễn ra trong quá khứ mà còn tiếp diễn như một thực tế ngày nay.

NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG

Thứ hai ngày 21 tháng 10 năm 1907, khoảng năm tháng sau khi một cuộc suy thoái kinh tế bắt đầu diễn ra, Công ty tín thác Knickerbocker – công ty tín thác lớn thứ ba ở New York – bắt đầu vấp phải những khó khăn về mặt tài chính. Ngày hôm sau, một cuộc "rút tiền ồ ạt" tại một ngân hàng đã buộc họ phải đóng cửa (mặc dù cuối cùng đó chỉ là tình trạng đóng cửa tạm thời, công ty tiếp tục trở lại kinh doanh vào tháng 3 năm 1908). Việc đóng cửa Công ty Tín thác Knickerbocker  đã dẫn đến tình trạng phá sản nhiều công ty tín thác khác ở New York và sau đó là ở nhiều địa phương khác trên khắp nước Mỹ – một cuộc "hoảng loạn" mà ngành ngân hàng chưa từng phải đối mặt trong thế kỷ XIX.

Chỉ trong vòng một tuần, các ngân hàng trên khắp cả nước đã phản ứng với tình trạng "hoảng loạn" bằng cách "hạn chế các khoản thanh toán", họ thông báo rằng họ sẽ không thanh toán cho các yêu cầu rút tiền của người gửi tiền. Ở một số bang, thống đốc hay tổng chưởng lý của bang đã tiến hành một số biện pháp xử phạt đối với các trường hợp hạn chế các khoản thanh toán; ở các bang còn lại, luật pháp chỉ đơn thuần là bỏ quavới các trường hợp này và các ngân hàng được phép hoạt động thoải mái mặc dù xét về mặt kỹ thuật thì họ đang vi phạm các đạo luật ngân hàng của nhà nước.

Việc hạn chế các khoản thanh toán đã giảm thiểu được những thiệt hại trong ngành ngân hàng và chấm dứt tình trạng rút tiền ồ ạt. Tuy nhiên nó lại đặt ra những bất lợi nghiêm trọng cho hoạt động kinh doanh. Nó đã dẫn đến tình trạng thiếu tiền xu và tiền mặt, và khiến người dân phải lưu thôngnhững đồng xu gỗ mạ kẽm và các phương tiện thanh toán tạm thời khác để thay thể cho đồng tiền pháp định. Vào thời điểm cao trào của tình trạng thiếu hụt tiền mặt thanh toán, người ta phải mất 104USD tiền gửi để mua 100USD tiền mặt.Cuộc hoảng loạn ngành ngân hàng cộng thêm tình trạng hạn chế thanh toán,thông qua các tác động đối với lòng tin cũng như khả năng hoạt động kinh doanh hiệu quả, và gián tiếp thông qua sức ép làm giảm lượng tiền lưu thông,đã trực tiếp biến cuộc suy thoái trở thành một trong những sự kiện đen tối nhất nước Mỹ từng trải qua tính tới thời điểm đó.

Tuy nhiên, giai đoạn nghiêm trọng của cuộc suy thoái đã nhanh chóng qua đi. Các ngân hàng tiếp tục hoạt động thanh toán vào đầu năm 1908. Một vài tháng sau đó, nền kinh tế bắt đầu phục hồi. Cuộc suy thoái diễn ra trong mười batháng, và giai đoạn nghiêm trọng chỉ kéo dài khoảng một nửa thời gian đó.

Sự kiện đầy biến động này được xem như là nguyên nhân chính dẫn đến việc ban hành Đạo luật Dự trữ Liên bang năm 1913. Đạo luật cho phép tiến hành một số hành động chính trị can thiệp vào lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng trong trường hợp cần thiết. Trong thời kỳ Đảng Cộng Hòa của Theodore Roosevelt cầm quyền, Ủy ban Tiền tệ Quốc gia đã được thành lập và do một thượng nghị sĩ nối bật trong Đảng Cộng hòa đứng đầu đó là Nelson W. Aldrich. Trong thời kỳ chính quyền Dân chủ của Woodrow Wilson lên điều hành, một nghị sĩ nổi bật của Đảng Dân chủ, sau này là thượng nghị sĩ Carter Glass đã sửa đổi và quy định lại các hoạt động của Ủy ban. Kết quả là Cục Dự trữ Liên bang (Fed) trở thành cơ quan tiền tệ quan trọng của quốc gia kể từ đó.

Các thuật ngữ "rút vốn ồ ạt", "tình trạng hoảng loạn" và "các hạn chế thanh toán" thực sự có nghĩa là gì? Tại sao chúng lại có thể tạo ra những ảnh hưởng sâu rộng mà chúng ta thường nhắc tới? Và các soạn giả của Đạo luật Dự trữ Liên bang đã đưa ra các biện pháp gì để ngăn chặn tình trạng tương tự lặp lại như thế nào?

Tình trạng rút tiền ồ ạt xảy ra với một ngân hàng khi nhiều khách hàng gửi tiền tại ngân hàng đó yêu cầu "rút" khoản tiền gửi bằng tiền mặt cùng một lúc. Hiện tượng rút tiền ồ ạt bắt nguồn từ các tin đồn hoặc sự kiện khiến người gửi tiền lo ngại rằng ngân hàng mất khả năng thanh toán và không thể thực hiện được các nghĩa vụ của mình. Tình trạng này thể hiện nỗ lực của mọi người muốn cứu vãn khoản tiền "của mình" trước khi tất cả biến mất.

Chúng ta có thể dễ dàng hiểu tại sao một cuộc rút tiền ồ ạt có thể khiến một ngân hàng mất khả năng thanh toán sụp đổ nhanh chóng hơn bình thường. Nhưng tại sao một cuộc rút tiền ồ ạt lại có thể đẩy một ngân hàng uy tín và có khả năng thanh khoản vào tình thế nguy hiểm? Câu trả lời liên quan đến một trong những từ ngữ dễ gây hiểu lầm nhất trong tiếng Anh - "tiền gửi", khi được sử dụng để chỉ việc nắm giữ một quyền đòi (claim) đối với ngân hàng. Khi bạn "gửi" tiền vào ngân hàng, thật hấp dẫn khi nghĩ rằng ngân hàng sẽ thu những đồng bạc xanh của bạn rồi "cất" (deposit) chúng vào một két tiền của ngân hàng để đảm bảo an toàn cho đến khi bạn yêu cầu lấy lại những đồng bạc này. Tuy nhiên, mọi chuyện không diễn ra như vậy. Bởi nếu thế, ngân hàng sẽ lấy thu nhập ở đâu để trả cho các chi phí, chứ chưa nói gì đến khoản lãi trên món tiền gửi? Ngân hàng có thể sẽ để lại một ít đồng bạc trong két làm khoản “tiền mặt dự trữ”. Phần còn lại họ sẽ cho người khác vay, thu lãi từ khách vay, hoặc dùng để mua một chứng khoán sinh lãi.

Thông thường, nếu bạn không gửi tiền mà gửi séc vào các ngân hàng khác, ngân hàng của bạn thậm chí không có tiền mặt trong tay để gửi vào két. Họ chỉ nắm trong tay một quyền thu đòi đối với các ngân hàng khác, và thường thì mệnh lệnh này sẽ không được thực hiện bởi các ngân hàng khác cũng nắm giữ những quyền thu đòi tương tự đối với ngân hàng của bạn. Với mỗi 100 USD tiền gửi, tất cả các ngân hàng đều chỉ giữ một ít tiền mặt trong két của họ. Chúng ta có một "hệ thống ngân hàng dự trữ mộtphần." Hệ thống này hoạt động rất hiệu quả, miễn là tất cả mọi người đều tin tưởng rằng họluôn luôn có thể rút khoản tiền gửi của mình và do vậyhọ chỉ rút tiền khi họ thực sự cần tiền mặt. Thông thường, các khoản tiền gửi mới tương đương với khoản tiền rút, do đó chỉ cần một lượng nhỏ tiền mặt dự trữ trong két là đủ để đáp ứng những chênh lệch tức thời. Tuy nhiên, nếu như tất cả mọi người đều muốn rút tiền mặt cùng một lúc, tình hình sẽ khác hoàn toàn, tình trạng hoảng loạn có thể diễn ra, chẳng khác nào tình huống khi một ai đó kêu "cháy" trong rạp hát đông đúc và tất cả mọi người đổ xô để thoát ra ngoài.

Một ngân hàng có thể đáp ứng nhu cầu rút hàng loạt bằng cách vay mượn từ các ngân hàng khác, hoặc yêu cầu khách vay của họ hoàn trả các khoản nợ. Khách vay có thể hoàn trả khoản cho vay bằng cách rút tiền từ các ngân hàng khác. Nhưng nếu tình trạng rút tiền ồ ạt lan rộng ra nhiều ngân hàng, tất cả các ngân hàng đều không thể đáp ứng được nhu cầu của khách hàng theo cách này. Đơn giản là không có đủ tiền trong két của ngân hàng để đáp ứng nhu cầu của tất cả người gửi tiền. Hơn nữa, bất kỳ nỗ lực nào nhằm đáp ứng nhu cầu rút tiền ồ ạt lan rộng bằng cách vét cạn két dự trữ - trừ khi ngân hàng nhanh chóng khôi phục lại được lòng tin và chấm dứt nhu cầu rút tiền ồ ạt và tiền được gửi trở lại ngân hàng – đều càng làm giảm lượng tiền gửi. Tính trung bình trong năm 1907, các ngân hàng chỉ có $12 tiền mặt để trả cho mỗi $100 tiền gửi. Mỗi đô la tiền gửi chuyển đổi thành tiền mặt và chuyển từ két của các ngân hàng sang gối đầu giường của người gửi tiền sẽ làm giảm thêm $7 tiền gửi nếu các ngân hàng duy trì tỷ lệ dự trữ tính trên lượng tiền gửi như trước đây.Đó là lý do tại sao tình trạng rút tiền ồ ạtsẽ làm tăng tỷ lệ nắm giữ tiền mặt trong người dân, từ đó có xu hướng làm giảm tổng lượng cung tiền. Đó cũng là lý do tại sao, nếu như không chấm dứt kịp thời, tình trạng này sẽ kéo theo nhiều vấn đề đau đầu khác. Các ngân hàng cố gắng thuvề tiền mặt để đáp ứng nhu cầu của người gửi tiền bằng cách thúc ép khách vay của họ hoàn trả khoản cho vay đồng thời từ chối gia hạn các khoản cho vay hoặc mở rộng thêm các khoản vay khác. Các khách vay nói chung không có nơi nào để xoay sở, khi đó các ngân hàng sẽ sụp đổ và các doanh nghiệp sẽ thất bại.

Làm sao có thể chấm dứt cơn hoảng loạn khi mà nó đã diễn ra, hoặc tốt hơn là ngăn chặn nó ngay từ đầu? Một cách để chấm dứt cơn hoảng loạn đã được áp dụngtừ năm 1907: các ngân hàng đồng loạt hạn chế các khoản thanh toán. Các ngân hàng vẫn mở cửa song họ thỏa thuận với nhau rằng họ sẽ không thanh toán cho yêu cầu rút tiền mặt của người gửi. Thay vào đó, họ hoạt động thông qua các bút toán kế toán. Họ giao séc do một người gửi tiền đứng tên cho một người hưởng thụ là người gửi tiền khác bằng cách giảm lượng tiền gửi, đồng thời ghi tăng lượng tiền nợ tương ứngtrong sổ kế toán của họ, đối với người gửi tiền nàyvà ghi tăng lượng tiền gửi của người gửi khác. Đối với các loại séc do người gửi tiền của ngân hàng này viết cho người hưởng thụ là người gửi tiền của ngân hàng khác, hoặc do người gửi tiền của ngân hàng khác cho người gửi tiền tại ngân hàng của họ, họ thực hiện các bút toán thông thường "thông qua trung tâm thanh toán bù trừ", có nghĩa là lấy các séc mà ngân hàng khác nhận được dưới mục tiền gửi trừ đi các séc mà ngân hàng của họ gửi tại các ngân hàng khác. Điểm khác biệt đó là chênh lệch giữa số tiền họ nợ các ngân hàng khác và số tiền các ngân hàng khác nợ họ được giải quyết bằng một lời hứa thanh toán thay vì chuyển khoản tiền mặt như thông thường. Các ngân hàng dùng một phần tiền mặt để thanh toán, không phải theo yêu cầu, mà chonhững khách hàng thường xuyên cần tiền để trảlương cho nhân viên hay phục vụ những mục đích cấp bách, và họ cũng nhận được một lượng tiền từ những khách hàng thường xuyên này. Dưới hệ thống này, các ngân hàngvẫn có thể và thực tế là đã sụp đổ bởi họ là các ngân hàng "không lành mạnh". Họ không sụp đổ chẳng qua là nhờ họ không phải chuyển đổi các tài sản có giá trị thực sự thành tiền mặt. Thời gian trôi qua, cơn hoảng loạn lắng xuống, niềm tin đối với các ngân hàng được phục hồi, và các ngân hàng có thể tiếp tục thanh toán tiền mặt theo yêu cầu mà không thổi bùng lên một cuộc rút tiền ồ ạt mới. Đó là cách thức gột rửa mạnh để chấm dứt một cơn hoảng loạn song nó có tác dụng.

Một cách khác để chấm dứt một cơn hoảng loạn là cho phép các ngân hàng lành mạnh nhanh chóng chuyển đổi các tài sản có giá trị của họ thành tiền mặt, không phải là lấy từ các ngân hàng khác mà thông qua việc in thêm tiền mặt – in trong trường hợp khẩn cấp, như cách người ta thường gọi. Phương pháp này đượcnêu trong Đạo Luật Dự trữ Liên bang. Mục đích của nó là nhằm ngăn chặn những gián đoạn tạm thời do chính sách hạn chế các khoản thanh toán gây ra. Mười hai ngân hàng khu vực được thành lập theo quyết định trong Đạo Luật, hoạt động dưới sự giám sát của Hội đồng quản trị Fed tại Washington, được phép hoạt động với vai trò "người cho vay cuối cùng" cho các ngân hàng thương mại. Họ được phép cấp các khoảnvay dưới dạng tiền mặt – chính là các Giấy nợ của Fed mà họ có quyền in,hoặc dưới hình thức tín dụng tiền gửi ghi trên sổ sách kế toán mà họ có quyềnlập các bút toán – sự kỳ diệu của bút toán sổ sách. Họ có chức năng là ngân hàng của các ngân hàng, là cơ quan tương nhiệm của Mỹ giống như Ngân hàng Anh Quốc và các ngân hàng trung ương khác.

Ban đầu, người ta dự kiến ​​rằng Các Ngân hàng Dự trữ Liên bang sẽ chủ yếu cung cấp các khoản cho vay trực tiếp cho các ngân hàng thương mại, dựa trên đảm bảo chính là tài sản của các ngân hàng thương mại, đặc biệt là các hối phiếu tương ứng với các khoản cho vay của các ngân hàng này cho các doanh nghiệp. Trong nhiều khoản cho vay như thế này, các ngân hàng thương mạiđã "chiết khấu" các hối phiếu – tức là họ cho vay với số tiền thấp hơn mệnh giá, giá trị chiết khấu chính là phần lãi mà các ngân hàng thương mạitính phí. Đến lượt, Fed lại "tái chiết khấu" các hối phiếu này, tức làthutiền lãi đối vớicác khoản cho các ngân hàng thương mại vay.

Theo thời gian, "các hoạt động thị trường mở" – mua hoặc bán các trái phiếu chính phủ – trở thành phương pháp được sử dụng chính yếu hơn tái chiết khấu, theo đó Hệ thống sẽ cộng thêm hoặc trừ đimột khoản tiền. Khi Ngân hàng Dự trữ Liên bang mua trái phiếu chính phủ, họ có thể thanh toán bằng các Giấy bạc mà Fed ban hành có sẵn trong két của họ hoặc do in mới, hay theo một cách phổ biến hơnđó là ghi nhận thêm bút toán kế toán vào mục các khoản tiền gửi của một ngân hàng thương mại nào đó. Bản thân các ngân hàng thương mại vừa có thể là người bán trái phiếu vừa có thể là ngân hàng mà người bán trái phiếu nắm giữ tài khoản tiền gửi của mình tại đó. Lượng tiền mặtvà tiền gửi tăng lên đóng vai trò là các khoản dự trữ cho các ngân hàng thương mại, cho phép toàn bộ hệ thống ngân hàngmở rộng việc huy động các khoản tiền gửi bằng theo cấp số nhân so với khoản tiền dự trữ, đó là lý do tại sao khoản mục tiền mặt cộng với các khoản tiền gửi tại các Ngân hàng Dự trữ Liên bang được coi là "những đồng tiền cấp số nhân" (high-powered money) hay "cơ sở tiền tệ." Khi Ngân hàng Dự trữ Liên bang bán một trái phiếu, quá trìnhđảo ngược lại. Khoản dự trữ của các ngân hàng thương mại giảm và lượng tiền huy động sẽ bị thu hẹp lại. Cho đến cách đây một thời gian,chức năng tạo tiền mặt và các khoản tiền gửi của các Ngân hàng Dự trữ Liên bang đã bị giới hạn bởi số lượng vàng mà Fed nắm giữ. Đến nay, giới hạn đó đã bịdỡ bỏ, và do đó không còn giới hạn hữu hiệu nào cả, nó hoàn toàn phụ thuộc vào quyết định tùy nghi của những người có thẩm quyền trong Fed.

Sau khi Fed liên tiếp thất bại trong việc thực hiện các nhiệm vụ của mình trong những năm đầu thập niên 1930, một phương pháp được đánh giá là hiệu quả trong việc ngăn chặn một cuộc hoảng loạn rút cục đã được thông qua vào năm 1934. Tổng công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang đã được thành lập để đảm bảo trả cho các khoản tiền gửi trong trường hợp tổn thất lên đến một ngưỡng tối đa. Chính sách Bảo hiểm tiếp thêm lòng tin cho người gửi tiền rằng khoản tiền gửi của họ sẽ được an toàn. Từ đó, nó giúp ngăn chặn nguy cơ một ngân hàng không lành mạnh khi sụp đổ hoặc gặp khó khăn về tài chính sẽ tạo ra hiệu ứng rút tiền ồ ạt ở các ngân hàng khác. Những người trong một rạp hát đông đúc tin rằng đây thực sự là một rạp hát chống cháy. Kể từ năm 1934, vẫn xảy ra việc một sốngân hàng bị sụp đổ và tình trạng rút tiền ồ ạt diễn ra tại một số ngân hàng đơn lẻ. Song không xảy ra bất kỳ một cuộc hoảng loạn ngân hàng nào như trước đó.

Việc bảo hiểm cho các khoản tiền gửi nhằm ngăn chặn tình trạng hoảng loạn đã được chính các ngân hàng sử dụng khá thường xuyêntrước đó theo một cách không toàn diện và kém hiệu quả hơn. Trở về thời gian trước đó, khi một ngân hàng đơn lẻ gặp khó khăn tài chính hoặc bị đe dọa bởi tình trạng rút tiền ồ ạt do những tin đồn về rắc rối, các ngân hàng khác đã tự nguyện liên kết với nhau để thành lập một quỹ đảm bảo cho các khoản tiền gửi tại ngân hàng gặp khó khăn kia. Cách thức này đã giúp ngăn chặn nhiều cuộc hoảng loạn có nguy cơ xảy ra và sớm chấm dứt nhiều cuộc hoảng loạn đã diễn ra khác. Cách thức này thất bại trong một số trường hợp khác, nguyên nhân là bởi các bên không thể đi tới một thỏa thuận đảm bảo lợi ích hài hòa giữa tất cả các bên hoặc lòng tin không thể phục hồi kịp thời. Chúng ta sẽ xem xét một trường hợp đặc biệt ấn tượng và quan trọng về thất bại kiểu này ở phần sau của chương này.

Nguyên tác: Free to choose: A personal statement, Milton & Rose Friedman

Bản dịch: Tự do lựa chọn: một bản tuyên ngôn cá nhân, nhóm dịch giả gồm Đinh Tuấn Minh, Chu Diệu Hiền, Nguyễn Minh Huệ, Nguyễn Thùy Liên