Tổng luận thần học - Quyển 1 tập 1 (Vấn đề 12)
Trên đây chúng ta đã tìm hiểu xem Thiên Chúa đích thị là gì, bây giờ phải tìm hiểu xem Người là gì trong nhận thức của ta, nghĩa là Người được các thụ tạo nhận biết như thế nào. Về vấn đề này, mười ba điểm được đặt ra:
1. Có trí khôn thụ tạo nào có thể nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa chăng?
2. Phải chăng yếu tính Thiên Chúa được trí khôn nhìn thấy qua hình ảnh thụ tạo?
3. Phải chăng yếu tính Thiên Chúa có thể được mắt phàm nhìn thấy?
4. Có bản thể thụ tạo có lý trí nào, với năng lực tự nhiên, đủ sức để nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa chăng?
5. Để nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa, trí khôn thụ tạo có cần ánh sáng thụ tạo nào chăng?
6. Trong những người nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa, người nọ có nhìn thấy cách hoàn bị hơn người kia chăng?
7. Có trí khôn thụ tạo nào thấu hiểu yếu tính Thiên Chúa chăng?
8. Khi nhìn thấy tính Thiên Chúa, trí khôn có nhìn thấy mọi điều trong yếu tính ấy chăng?
9. Những chi trí khôn nhìn thấy trong yếu tính của Thiên Chúa, có nhìn qua ảnh niệm nào chăng?
10. Những chi trí khôn nhìn thấy trong yếu tính Thiên Chúa có nhìn thấy tất cả một trật chăng?
11. Trong lúc sinh thời, có ai nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa được chăng?
12. Ở đời này chúng ta có thể nhờ lý trí tự nhiên mà biết Thiên Chúa chăng?
13. Trong cuộc sống hiện tại, có sự nhận biết nào khác bởi ân sủng vượt trên sự nhận biết của lý trí tự nhiên chăng?
MỤC 1
Có trí khôn thụ tạo nào có thể nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa chăng?
NGHI VẤN. Hình như không trí khôn thụ tạo nào có thể nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa.
1. Khi chú giải Tin Mừng thánh Gioan: “không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ”, thánh Gioan Kim khẩu viết: “Chính Thiên Chúa là chi, thì chẳng những các ngôn sứ, lại cả thiên thần hay tổng lãnh thiên thần cũng không thấy; thực vậy, bản tính thụ tạo làm sao có thấy được điều tự hữu”. Khi bàn về Thiên Chúa, Dionysio cũng viết: “Cả giác quan, cả óc tưởng tượng, cả sự phỏng đoán, hay lý trí và khoa học cũng không biết được”.
2. Vả lại, phàm điều gì là vô hạn, xét như vô hạn, thì không người nào biết. Nhưng Thiên Chúa là Đấng vô hạn, như đã chứng minh (vđ.7, m.1). Cho nên chính Thiên Chúa thì không ai biết.
3. Trí hiểu thụ tạo chỉ biết được những vật hiện hữu: thực vậy, điều trí tuệ thâu nhận trước tiên là hữu thể. Nhưng Thiên Chúa không phải là vật hiện hữu, mà là siêu hiện hữu, như Dionysio đã nói. Cho nên Thiên Chúa không phải là điều khả hội, nhưng vượt trên mọi trí tuệ.
4. Giữa người nhận biết và điều được nhận biết phải có một tỷ lệ tương ứng nào đó, vì điều được nhận biết kiện toàn chủ thể nhận biết. Nhưng giữa trí khôn thụ tạo và Thiên Chúa không có tỷ lệ nào hết: cả hai xa cách nhau vô hạn. Cho nên trí khôn thụ tạo không thể nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa.
NHƯNG. Thánh Gioan tông đồ viết: “Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy”.
LUẬN GIẢI. Phàm chi càng ở trong hiện thể càng khả tri. Mà Thiên Chúa là hiện thể thuần túy, không pha trộn mảy may tiềm thể, vì thế chính Thiên Chúa là Đấng khả trị nhất. Nhưng điều nguyên nó là khả tri nhất lại không khả tri đối với trí khôn nào đó, vì điều khả hội vượt trên năng lực của trí khôn đó: như mặt trời thì rất sáng láng, nhưng vì ánh sáng quá chói chang nên chim cú không thể nhìn thấy. Căn cứ vào điều đó có người cho rằng không một trí khôn thụ tạo nào có thể nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa.
Nhưng không thể chấp nhận lập trường đó. Thực vậy, hạnh phúc tuyệt đỉnh của con người hệ tại hoạt động tối cao của con người, tức là hoạt động của trí khôn. Nếu trí khôn thụ tạo không bao giờ có thể nhìn thấy yếu tính của Thiên Chúa, thì hoặc con người không bao giờ đạt được hạnh phúc, hoặc hạnh phúc này hệ tại điều gì khác, chứ không phải Thiên Chúa. Nhưng đó là điều nghịch với đức tin. Sự hoàn bị tối hậu của con người hệ tại chính điều là uyên nguyên hiện hữu của nó: thực vậy sự hoàn bị tối hậu của thụ tạo có lý trí là đạt tới nguyên khởi của mình. Lập trường này còn nghịch với lý trí: vì phàm ai đã nhận ra công hiệu cũng đều muốn biết nguyên nhân, và do đó phát sinh ra sự ngạc nhiên nơi con người. Vậy nếu trí khôn con người không thể đạt tới căn nguyên đệ nhất của mọi vật, thì ước muốn của tính tự nhiên là hão huyền. Cho nên, phải công nhận cách tuyệt đối là các phúc nhân nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa.
GIẢI ĐÁP.
1. Cả hai thế giá được viện dẫn đều nói về thị kiến thấu triệt. Vì ngay trước khi đưa ra những lời ấy Dionysio nói: “Người là Đấng mọi người hết thảy không thể thấu hiểu, dù bằng cả giác quan.,”. Sau những lời đã viện dẫn, thánh Gioan Kim khẩu thêm: “Ở đây thánh Gioan gọi thị kiến là sự chiêm ngưỡng và thấu hiểu Chúa Cha một cách thật chắc chắn, cũng như Chúa Cha thấu hiểu Chúa Con”.
2. Vô hạn về phía chất thể, không được hạn định bởi mô thể, thì nguyên nó là bất khả tri: vì mọi nhận thức đều do mô thể. Nhưng vô hạn về phía mô thể không được giới hạn bởi chất thể thì nguyên nó là khả tri. Vậy theo những điều đã nói trên (vđ.7, m.1) Thiên Chúa thì vô hạn theo kiểu thứ hai, chứ không theo kiểu thứ nhất.
3. Khi nói Thiên Chúa không hiện hữu thì không có ý hiểu là tuyệt nhiên không hiện hữu cách nào cả, nhưng là vượt trên mọi niện hữu, vì Người là chính hiện hữu của mình. Do đó không thể kết luận Người là Đấng tuyệt nhiên không ai biết, nhưng là Đấng trổi vượt trên mọi nhận biết, nghĩa là không ai thấu triệt được Người.
4. Có hai thứ tỷ lệ: Một là tương quan nhất định giữa lượng nọ với lượng kia, như gấp đôi, gấp ba hoặc bằng nhau là những loại tỷ lệ. Hai là, bất cứ một tương quan nào giữa lượng nọ với lượng kia cũng được gọi là tỷ lệ. Và theo nghĩa này, có thể có tỷ lệ giữa vật thụ tạo với Thiên Chúa, vì thụ tạo tương quan với Thiên Chúa như công hiệu với căn nguyên, và như tiềm thể với hiện thể. Như thế trí khôn thụ tạo có khả năng để nhận biết Thiên Chúa.
MỤC 2
Phải chăng yếu tính Thiên Chúa được trí khôn thụ tạo nhìn thấy qua ảnh niệm nào đó?
NGHI VẤN. Hình như yếu tính Thiên Chúa được lý trí thụ tạo nhìn thấy qua ảnh niệm nào đó.
1. Thánh Gioan viết: “Chúng ta biết rằng khi Đức Kitô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy”.
2. Thánh Augustino nói: “Khi chúng ta biết Thiên Chúa thì hình ảnh của Người được kiến tạo trong ta”.
3. Hễ trí khôn đã ở trong hiện thể thì điều khả hội cũng ở trong hiện thể, cũng như giác quan ở trong hiện thể thì điều khả giác cũng ở trong hiện thể. Nhưng để được như thế thì giác quan phải được mô thể hoá bởi giác tượng của vật khả giác, và trí khôn bởi ảnh niệm của vật được hiểu biết. Cho nên, để yếu tính của Thiên Chúa được nhìn thấy trong hiện thể, thì cần phải nhìn qua ảnh niệm nào đó.
NHƯNG. Khi giải thích lời Thánh Kinh: “Bây giờ chúng ta thấy như trong một tấm gương, trong tình trạng bí ẩn” thánh Augustino viết: những từ “gương” và “bí ẩn” có thể hiểu về bất cứ hình ảnh nào thích hợp giúp chúng ta hiểu biết Thiên Chúa. Nhưng nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa không phải là nhìn cách bí ẩn hay trong gương, mà ngược lại. Cho nên yếu tính Thiên Chúa không được nhìn thấy qua ảnh niệm.
LUẬN GIẢI. Để nhìn thấy, bằng giác cảm cũng như bằng lý trí, cần phải có hai điều, ấy là tài năng trông nhìn và sự phối hợp của vật được nhìn thấy với thị giác: không có sự nhìn thấy thực sự nếu vật được nhìn thấy không ở cách nào đó trong kẻ trông nhìn. Khi bàn về những vật hữu chất thì hiển nhiên là vật được nhìn thấy không ở trong kẻ nhìn thấy bằng yếu tính, mà chỉ bằng giác tượng nào đó thôi; như giác tượng của phiến đá ở trong con mắt, làm cho sự nhìn thấy được thực hiện, chứ không phải chính bản thể của phiến đá. Nhưng nếu cũng một vật, vừa là căn nguyên của thị lực vừa là chính vật được nhìn thấy, thì người trông nhìn phải lãnh nhận bởi vật ấy cả tài năng để trông nhìn lẫn mô thể qua đó người ấy trông thấy.
Vậy hiển nhiên Thiên Chúa là tác giả của tài năng hiểu biết và Người cũng có thể được trí tuệ nhìn thấy. Mà vì chính tài năng hiểu biết của vật thụ tạo không phải là yếu tính của Thiên Chúa, cho nên nó chỉ là hình ảnh được thông dự từ Đấng là trí tuệ đệ nhất. Vì thế tài năng hiểu biết nơi thụ tạo được gọi là thứ ánh sáng hiểu biết, như phát xuất từ ánh sáng đệ nhất: chẳng kỳ tài năng này là năng lực tự nhiên, hay là sự hoàn bị nào của ân sủng, hoặc của vinh quang thêm vào. Cho nên để nhìn thấy Thiên Chúa, về phía tài năng thị kiến cần phải có hình ảnh của Thiên Chúa làm cho trí khôn đủ sức để nhìn thấy Thiên Chúa.
Nhưng về phía vật được nhìn thấy, là vật phải phối hợp với chủ thể trông nhìn cách nào đó, thì yếu tính của Thiên Chúa không thể được nhìn thấy qua hình ảnh thụ tạo. Trước hết, như Dionysio đã nói, tuyệt nhiên ta không thể nhờ những hình ảnh của vật hạ cấp mà biết được những vật thượng cấp: như không thể nhờ ảnh niệm của vật hữu hình mà biết được yếu tính của vật vô hình. Vì thế càng không thể nhờ bất cứ ảnh niệm thự tạo nào để nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa. Hai là, vì yếu tính của Thiên Chúa cũng là chính hiện hữu của Người, như đã chứng minh trên đây (vđ.3, m.4); điều đó không phù hợp với bất cứ mô thể thụ tạo nào. Vì thế bất cứ mô thể thụ tạo nào cũng không thể là hình ảnh biểu thị yếu tính của Thiên Chúa cho ta nhìn. Ba là, vì yếu tính Thiên Chúa là một thực tại vô hạn, hàm chứa trong mình một cách trác tuyệt tất cả những chị có thể được biểu thị và có thể hiểu đối với trí khôn thụ tạo. Và đó là điều không một hình ảnh thụ tạo nào có thể biểu thị: mọi mô thể thụ tạo đều được hạn định về một khía cạnh nào đó, như sự thông tuệ, đức hạnh, hay chính hiện hữu v.v. Cho nên quyết rằng Thiên Chúa được nhìn thấy qua hình ảnh là quyết rằng yếu tính của Người không được nhìn thấy: mà quyết thế là sai.
Cho nên phải nói rằng, để nhìn thấy yếu tính, về phía tài năng trông nhìn cần phải có hình ảnh nào đó, ấy là ánh vinh quang, tăng cường trí khôn để nhìn thấy Thiên Chúa, như nói trong Thánh vịnh: “nhờ ánh sáng của Ngài chúng con được nhìn thấy ánh sáng”. Nhưng không thể nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa nhờ hình ảnh thụ tạo nào khả dĩ phô diễn chính yếu tính của Thiên Chúa.
GIẢI ĐÁP.
1. Thế giá được viện dẫn bàn về hình ảnh có được do thông dự ánh vinh quang.
2. Ở đây thánh Augustino bàn về sự nhận biết Thiên Chúa mà ta có ở đời này.
3. Yếu tính của Thiên Chúa là chính sự hiện hữu của Người. Vậy như các hình ảnh khác, không phải là hiện hữu của chúng, phối hiệp với trí khôn theo một cách thức hiện hữu nào đó, nhờ vậy chúng mô thể hoá và hiện thể hoá trí khôn, thì yếu tính Thiên Chúa cũng phối hợp với trí khôn thụ tạo như điều được hiểu biết trong hiện thể, và tự mình làm cho trí khôn hiểu biết trong hiện thể.
MỤC 3
Phải chăng yếu tính Thiên Chúa có thể được mắt phàm nhìn thấy?
NGHI VẤN. Hình như yếu tính Thiên Chúa có thể được mắt phàm nhìn thấy.
1. Sách Gióp chép: “Trong thân xác tôi, tôi sẽ nhìn thấy Thiên Chúa”; “Trước kia con chỉ được nghe biết về Ngài; giờ đây chính con mắt con nhìn thấy Ngài”.
2. Thánh Augustino nói: “Đôi mắt của họ (nghĩa là của những vị hiển thánh) được kiện cường, không phải để nhìn một cách nhạy bén hơn loài rắn hay phượng hoàng, như có người nghĩ thế (dù thị giác của những động vật này tinh anh đến đâu cũng không thể nhìn thấy chi khác ngoài những vật hữu hình), mà còn để nhìn thấy cả những vật vô hình. Nhưng phàm ai có thể trông thấy vật vô hình đều có thể được cất nhắc lên để nhìn thấy Thiên Chúa. Cho nên mắt hiển vinh có thể nhìn thấy Thiên Chúa.
3. Với cái nhìn tưởng tượng, con người có thể nhìn thấy Thiên Chúa, vì sách ngôn sứ Isaia viết: “Tôi đã nhìn thấy Đức Chúa ngự trên ngai...”. Nhưng cái nhìn tưởng tượng bắt nguồn từ giác quan: vì tưởng tượng là chuyển động phát xuất từ giác quan đang hoạt động, như Aristốt nói. Cho nên Thiên Chúa có thể được thị giác nhìn thấy.
NHƯNG. Thánh Augustino viết: “Chưa ai thấy Thiên Chúa bao giờ: dù ở đời này, cũng không ai có thể nhìn thấy đích thị Thiên Chúa, dù trong đời sống các thiên thần, Thiên Chúa cũng không được thấy như những vật khả thị được thị giác nhìn thấy”.
LUẬN GIẢI. Thiên Chúa không thể được thị giác hay bất cứ giác quan hoặc tài năng cảm giác nào nhìn thấy. Thực vậy mọi tài năng như thế là hiện thể của cơ quan hữu chất, như sẽ nói sau (m.4; vđ.78, m.1). Mà hiện thể thì tương ứng với bản tính của điều nó hiện thể hóa. Cho nên không tài năng nào như thế có thể vươn ra ngoài những vật hữu hình. Nhưng Thiên Chúa là Đấng vô hình, như đã chứng minh (vđ.3, m.1). Cho nên Thiên Chúa không thể được nhìn thấy bởi giác quan hay óc tưởng tượng, nhưng chỉ bởi trí khôn mà thôi.
GIẢI ĐÁP.
1. Khi ông Gióp nói: “trong thân xác tôi, tôi sẽ nhìn thấy Thiên Chúa, Đấng Cứu độ tôi” thì lời ấy không có nghĩa là với con mắt xác thịt ông sẽ nhìn thấy Thiên Chúa: nhưng là sống trong thân xác, sau khi phục sinh, ông sẽ nhìn thấy Thiên Chúa. Cũng vậy “giờ đây chính mắt con nhìn thấy Ngài” được hiểu về con mắt trí khôn, như thánh Tông Đồ nói: “Xin Thiên Chúa ban cho anh em tinh thần khôn ngoan để nhận biết Người, và cho con mắt tâm hồn anh em được soi sáng”.
2. Thánh Augustino nói những lời ấy theo lối tìm hiểu và có điều kiện. Vì trước đó người đã nói: “nếu với những con mắt ấy (mắt hiển vinh) mà nhìn thấy bản tính vô hình thì quả là có một năng lực rất khác lạ”. Sau đó thánh nhân xác định và nói: “Điều đáng tin là lúc đó chúng ta sẽ nhìn thấy thế giới hữu hình của trời mới đất mới như thể nhìn thấy minh bạch Thiên Chúa hiện diện khắp nơi, quản trị cả vũ trụ hữu hình; không phải như hiện nay những gì không thể nhìn thấy nơi Thiên Chúa lại có thể nhìn thấy được qua những công trình của Người; nhưng như ở giữa những người đang sống, đang thực hiện những sinh hoạt, thoạt nhìn là chúng ta thấy, chứ không phải tin là họ sống”. Do đó hiển nhiên là những con mắt hiển vinh sẽ nhìn thấy Thiên Chúa, như hiện nay con mắt chúng ta nhìn thấy sự sống của ai đó. Sự sống không do mắt phàm nhìn thấy như điều khả thị cách tự thể, mà như điều khả giác cách ngẫu trừ: đó là điều không được thu nhận bởi giác quan, nhưng được nhận ra ngay lập tức bởi một tài năng khác đi theo cảm giác. Thực vậy, thoạt khi được nhìn thấy, những vật hữu hình làm cho trí khôn nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa hai cách: ấy là do sự sắc sảo của trí khôn và do ánh rạng ngời của Thiên Chúa phản chiếu trên các vật thể đã được đổi mới.
3. Yếu tính Thiên Chúa không được nhìn thấy trong thị kiến tưởng tượng, nhưng một hình ảnh được hình thành trong óc tưởng tượng, biểu thị Thiên Chúa theo họa ảnh nào đó, như trong Thánh Kinh điều thần linh được mô tả cách bóng bẩy bằng những vật khả giác.
MỤC 4
Có lý trí thụ tạo nào, với năng lực tự nhiên, đủ sức để nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa chăng?
NGHI VẤN. Hình như có lý trí thụ tạo, với năng lực tự nhiên, có thể nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa.
1. Ông Dionysio nói: “Thiên thần là tấm gương trong sáng, rất trong sáng, tiếp nhận toàn thể vẻ hoàn mỹ của Thiên Chúa, nếu được phép nói như thế”. Nhưng hễ đã thấy ảnh phản chiếu của vật nào trong gương tức là nhìn thấy vật ấy. Vậy nhờ những năng lực tự nhiên của mình mà thiên thần hiểu biết mình, cho nên xem ra thiên thần cũng nhờ năng lực tự nhiên của mình mà hiểu biết yếu tính Thiên Chúa.
2. Do sự khiếm khuyết của thị lực nơi chúng ta, thể xác cũng như lý trí, mà điều vốn dĩ khả thị tột mức lại không dễ thấy đối với chúng ta. Nhưng trí khôn thiên thần thì không khiếm khuyết hết. Vậy Thiên Chúa tự Người là Đấng khả hội tột mức, nên cũng rất dễ được thiên thần hiểu biết. Cho nên, nếu cứ sức tự nhiên thiên thần có thể hiểu biết những điều khả hội khác, thì càng có thể hiểu biết Thiên Chúa hơn.
3. Giác quan hữu hình không thể vươn mình lên để hiểu biết bản thể vô hình, vì bản thể này vượt trên bản tính của nó. Vậy nếu nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa là điều vượt trên bản tính của bất cứ trí khôn thụ tạo nào, thì hình như không trí khôn thụ tạo nào có thể nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa: đây là điều sai lầm, như đã chứng minh ở trên (m.1). Cho nên xem ra nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa là điều tự nhiên đối với trí khôn thụ tạo.
NHƯNG. Thánh Tông đồ nói: “Ân huệ của Thiên Chúa là sự sống đời đời”. Nhưng sự sống đời đời hệ tại nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa, theo lời thánh Gioan: “Mà sự sống đời đời đó là họ nhận biết Ngài, Thiên Chúa chân thật duy nhất...”. Như thế, việc trí khôn thụ tạo có thể nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa là nhờ ân sủng, chứ không phải nhờ sức tự nhiên.
LUẬN GIẢI. Không trí khôn thụ tạo nào có thể, nhờ sức tự nhiên của mình, nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa. Sự nhận biết được thể hiện khi điều được nhận biết ở trong chủ thể nhận thức. Mà điều được nhận biết ở trong chủ thê nhận thức theo cách thức của chủ thể đó. Cho nên, đối với mỗi chủ thể nhận thức, sự nhận thức thì tùy theo cách thức hiện hữu tự nhiên của đương sự. Nếu cách thức hiện hữu của vật được nhận biết nào vượt quá cách thức hiện hữu tự nhiên của chủ thể nhận thức, thì sự nhận biết vật ấy sẽ vượt quá năng lực tự nhiên của chủ thể ấy.
Vậy cách thức hiện hữu của các vật thì nhiều. Có những vật mà bản tính của chúng chỉ hiện hữu trong chất thể cá biệt: đây là tất cả những vật hữu hình. Lại cũng có những vật mà bản tính của chúng thì tự lập hữu, chứ không phải nơi chất thể nào; những vật này có hiện hữu, chứ không phải là hiện hữu của mình: đây là các bản thể vô hình, mà chúng tôi gọi là các thiên thần. Nhưng chỉ một mình Thiên Chúa có cách hiện hữu riêng biệt, đến độ là hiện hữu của mình.
Vậy việc nhận biết những chi chỉ có hiện hữu nơi chất thể cá biệt là điều tự nhiên đối với chúng ta, vì linh hồn mà nhờ đó chúng ta nhận biết, là mô thể của một chất thể. Nhưng linh hồn có hai tri năng. Một là như hiện thể của một cơ quan thế xác nào đó. Đối với tri năng này, điều tự nhiên là nhận biết những vật hiện hữu nơi chất thể cá biệt: vì thế giác quan chỉ có thể biết những vật riêng lẻ.
Còn tri năng kia là trí khôn, không phải là hiện thể của cơ quan thể xác nào. Vì thế, điều tự nhiên đối với chúng ta là nhờ trí khôn mà nhận biết những bản tính chỉ hiện hữu trong chất thể cá biệt; nhưng không nhận biết chúng như hiện hữu trong chất thể cá biệt, mà như được trí khôn suy tư trừu xuất khỏi chất thể cá biệt. Bởi đó, nhờ trí khôn chúng ta có thể biết những vật ấy trong quan niệm phổ quát, là điều vượt quá tài năng của giác quan.—Đối với trí khôn thiên thần, điều tự nhiên là biết những vật không hiện hữu trong chất thể. Đây là điều vượt quá trí năng của linh hồn nhân loại, theo tình trạng hiện tại, sống phối hợp với thân thể.
Thành thử việc nhận biết chính hữu thể lập hữu là điều tự nhiên đối với một mình trí khôn Thiên Chúa, và là điều vượt quá mọi tài năng tự nhiên của bất cứ trí khôn thụ tạo nào: vì không thụ tạo nào là hiện hữu của mình, nhưng do thông dự mà có hiện hữu. Cho nên trí khôn thụ tạo chỉ có thể nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa khi Người dùng ân sủng để phối hợp chính Mình, như điều khả hội, với trí khôn thụ tạo
GIẢI ĐÁP.
1. Cách thức nhận biết Thiên Chúa như thế là điều tự nhiên đối với thiên thần, nghĩa là nhận biết Thiên Chúa bằng hoạ ảnh của Người phản chiếu nơi chính thiên thần. Nhưng biết Thiên Chúa bằng hoạ ảnh thụ tạo nào đó thì không phải là biết yếu tính Thiên Chúa, như đã chứng minh trên (m.2). Như thế không kết luận được là, do năng lực tự nhiên, thiên thần có thể nhận biết yếu tính Thiên Chúa.
2. Trí khôn thiên thần không có khuyết điểm, nếu hiểu khuyết điểm theo nghĩa khuyết phạp, tức là thiếu điều mình phải có. Nhưng nếu hiểu cách tiêu cực, thì so sánh với Thiên Chúa mọi thụ tạo đều thiếu thốn, vì chúng không có điều trác tuyệt vốn có nơi Thiên Chúa.
3. Thị giác vì hoàn toàn là vật chất, tuyệt nhiên không thể vô vật chất nào hết. Nhưng trí khôn của chúng ta vươn đến thần, theo bản tính, có phần trổi vượt trên vật chất, và của thiên thần có thể nhờ ân sủng mà được cất nhắc lên đến chỗ cao thượng hơn, vượt trên bản tính của mình. Bằng chứng là thị giác không tài nào biết cách trừu tượng điều mà nó biết cách cụ thể: vì không tài nào biết được bản tính trừu tượng, mà chỉ biết bản tính cụ thể này. Nhưng trí khôn ta có thể suy cứu trong trạng thái trừu tượng điều nó biết trong cụ thể. Dù nó biết những vật có mô thể trong chất thể, những có thể phân tách phức thể thành hai, và suy cứu nguyên mô thể. Cũng vậy, trí khôn thiên thần, dù theo bản tính thì nhận biết hiện hữu cụ thể của bản tính nào đó, nhưng có thể lấy trí khôn phân tách chính hiện hữu ấy, bằng cách nhận thức rằng mình thì khác với hiện hữu của mình. Vậy như trí khôn thụ tạo, với năng lực tự nhiên, có thể nhờ phân tách mà biết cách trừu tượng mô thể cụ thể và hiện hữu cụ thể, thì cũng có thể nhờ ân sủng cất nhắc mà biết được những bản thể lập hữu tách biệt, và hiện hữu lập hữu tách biệt.
MỤC 5
Để nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa
trí khôn thụ tạo có cần ánh sáng thụ tạo nào chăng?
NGHI VẤN. Để nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa hình như trí khôn thụ tạo không cần ánh sáng thụ tạo nào khác.
1. Quả thực trong các vật khả cảm, vật nào nguyên nó đã đủ sáng thì không cần ánh sáng khác để được xem thấy: cho nên trong các vật khả hội cũng không cần. Nhưng Thiên Chúa là ánh sáng khả hội. Cho nên hình như Người không cần ánh sáng thụ tạo nào khác để được nhìn thấy.
2. Nếu Thiên Chúa được nhìn thấy qua trung gian thì Người không được nhìn thấy trong yếu tính. Mà khi được nhìn thấy qua ánh sáng thụ tạo là được nhìn thấy qua trung gian. Cho nên Thiên Chúa không được nhìn thấy trong yếu tính của Người.
3. Điều gì đã được tác tạo thì không có chi cản trở để nó là điều tự nhiên đối với thụ tạo nào đó. Nếu yếu tính Thiên Chúa được nhìn thấy qua ánh sáng thụ tạo nào đó thì ánh sáng ấy có thể trở thành điều tự nhiên đối với thụ tạo ấy. Và như vậy thụ tạo này không cần ánh sáng nào khác để nhìn thấy Thiên Chúa: Đó là điều không thể có. Cho nên để nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa, không nhất thiết là mọi thụ tạo đều cần phải có ánh sáng tăng cường.
NHƯNG. Thánh vịnh có câu: “trong ánh sáng của Ngài chúng con nhìn thấy ánh sáng”.
LUẬN GIẢI. Để một vật được cất nhắc vượt trên bản tính của nó thì vật ấy phải được chuẩn bị trước bằng thứ chỉnh bị vượt trên bản tính của nó: ví dụ, nếu không khí phải đón nhận mô thể của lửa thì phải được chuẩn bị trước để đón nhận mô thể ấy. Vậy khi trí khôn thụ tạo nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa, thì yếu tính Thiên Chúa trở thành mô thể khả hội của trí khôn. Cho nên cần phải có chỉnh bị siêu nhiên thêm vào để đưa nó lên cấp độ cao sang ấy. Mà vì sức tự nhiên của trí khôn thụ tạo không đủ để nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa, như đã chứng minh ở trên (m.4), cho nên sức hiểu biết của nó cần phải được tăng cường bởi ân sủng của Thiên Chúa. Và chúng tôi gọi sự tăng cường sức hiểu biết này là sự soi sáng trí khôn; cũng như chính điều khả hội được gọi là ánh sáng. Và đây cũng là ánh sáng được nhắc đến trong sách Khải huyền: “có vinh quang Thiên Chúa chiếu soi thành”, nghĩa là cộng đoàn các phúc nhân đang hưởng kiến Thiên Chúa. Nhờ ánh sáng này mà các ngài được thần hoá, nghĩa là nên giống như Thiên Chúa, theo lời thánh Gioan: “Khi Đức Ki-tô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy”.
GIẢI ĐÁP.
1. Nếu ánh sáng thụ tạo cần thiết để nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa, thì không phải là ánh sáng này làm cho yếu tính Thiên Chúa trở nên khả hội, vì yếu tính ấy vốn đã khả hội rồi; nhưng là để cho trí khôn đủ sức để hiểu biết, cũng một cách như nhờ tập quán mà tài năng trở nên cường tráng hơn; hoặc như ánh sáng thể lý cần thiết để nhìn thấy những vật bên ngoài, vì làm cho môi trường trở nên trong suốt thực sự, để thị giác được màu sắc tác động.
2. Để nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa thì ánh sáng ấy không cần thiết như ảnh niệm biểu thị Thiên Chúa, mà như sự hoàn bị nào đó của trí khôn, kiện cường nó để nhìn thấy Thiên Chúa. Vì thế có thể nói, không phải như trung gian trong đó, mà như trung gian nhờ đó Thiên Chúa được nhìn thấy. Và điều đó không hủy diệt sự trực tiếp thị kiến Thiên Chúa.
3. Như sự chỉnh bị để tiếp nhận mô thể của lửa chỉ có thể là tự nhiên đối với chủ thể có mô thể của lửa, thì ánh vinh quang cũng chỉ có thể là tự nhiên đối với thụ tạo có bản tính Thiên Chúa. Điều đó không thể có. Thực ra, do ánh sáng ấy vật thụ tạo có lý trí được thần hoá, như đã nói trên (lg).
MỤC 6
Trong những người nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa,
người nọ có nhìn thấy cách hoàn bị hơn người kia chăng?
NGHI VẤN. Hình như trong những người nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa, người nọ không nhìn thấy cách hoàn bị hơn người kia.
1. Thánh Gioan viết: “Người thế nào chúng ta sẽ thấy Người như vậy”. Cho nên Người sẽ được mọi người nhìn thấy như nhau. Bởi vậy, không có mức độ hoàn bị hơn kém.
2. Thánh Augustino nói: Đối với cũng một vật, người nọ không thể hiểu biết hơn người kia. Nhưng phàm ai xem thấy yếu tính Thiên Chúa thì hiểu biết yếu tính ấy: Thiên Chúa được nhìn thấy bằng trí khôn, chứ không phải bằng giác quan, như đã nói trên (m.3). Cho nên trong những người nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa, người nọ không nhìn thấy minh bạch hơn người kia.
3. Việc một điều nào đó được người này nhìn thấy cách hoàn bị hơn người kia có thể xảy ra theo hai cách: hoặc do phía đối tượng, hoặc do thị lực của người nhìn. Do phía đối tượng, vì đối tượng được thâu nhận vào người nhìn cách hoàn bị hơn, nghĩa là theo hoạ ảnh hoàn bị hơn. Nhưng ở đây không xảy ra điều đó: thực vậy, Thiên Chúa hiện diện trong trí khôn nhìn thấy yếu tính của Người không bằng ảnh niệm nào cả, mà bằng chính yếu tính của Người. Thành thử nếu người nọ nhìn thấy Thiên Chúa cách hoàn bị hơn người kia, thì hẳn là tại sự khác biệt của khả năng hiểu biết. Nhiên hậu, khả năng hiểu biết tự nhiên của ai trác tuyệt hơn, thì nhìn thấy Thiên Chúa minh bạch hơn. Nhưng đây là điều bất tiện, vì hạnh phúc được hứa cho con người và hạnh phúc của các thiên thần thì ngang nhau...
NHƯNG. Sự sống đời đời hệ tại nhìn thấy Thiên Chúa, như lời thánh Gioan: “sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha”. Vậy nếu mọi người đều nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa như nhau thì trong cuộc sống đời đời mọi người sẽ bằng nhau. Nhưng thánh Tông đồ nói ngược lại: “Ánh sáng tinh tú này khác với ánh sáng tinh tú kia”.
LUẬN GIẢI. Trong số những người nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa, người này nhìn thấy cách hoàn bị hơn người kia. Tuy nhiên điều đó không phải bởi ảnh niệm của Thiên Chúa nơi người này thì hoàn hảo hơn nơi người kia: vì sự nhìn thấy đó không thể hiện bằng ảnh niệm, như đã chứng minh (m.2). Điều đó sẽ xảy ra vì trí khôn của người này sẽ có nghị lực hay khả năng trổi vượt hơn người kia để nhìn thấy Thiên Chúa. Nhưng trí khôn thụ tạo có khả năng để nhìn thấy Thiên Chúa như thế, không do bản tính tự nhiên mà do ánh vinh quang, là điều làm cho trí khôn được thần hoá cách nào đó, như đã chứng minh trên (m.5). Cho nên trí khôn nào càng thông dự ánh vinh quang nhiều hơn thì càng nhìn thấy Thiên Chúa cách hoàn bị hơn. Mà ai càng có đức ái thì càng thông dự ánh vinh quang nhiều hơn: vì ở đâu bác ái càng nhiều thì lòng ước muốn càng lớn; và một cách nào đó, lòng ước muốn làm cho chủ thể được thích hợp và sẵn sàng để lãnh nhận điều mình ước mong. Vì thế ai càng có đức ái nhiều hơn thì càng nhìn thấy Thiên Chúa cách hoàn bị hơn, và càng được hạnh phúc hơn.
GIẢI ĐÁP.
1. Trong câu: “Người thế nào chúng ta sẽ được thấy Người như vậy”, kiểu nói “như vậy” xác định cách thức thị kiến về phía đối tượng được nhìn thấy; và nghĩa là chúng ta sẽ thấy Người hiện hữu, đích thị như Người là, vì chúng ta sẽ trông thấy chính hiện hữu của Người, sự hiện hữu vốn đồng nhất với yếu tính của Người. Nhưng không xác định cách thức thị kiến về phía chủ thể nhìn; và không có nghĩa là cách thức nhìn thấy cũng hoàn bị như cách thức hiện hữu hoàn bị nơi Thiên Chúa.
2. Và do đó nghi vấn thứ hai đã được giải đáp. Vậy khi nói: người nọ không hiểu biết cũng một vật cách hoàn hảo hơn người kia thì điều đó đúng khi qui chiếu với cách thức của vật được hiểu biết: vì nếu ai hiểu một vật khác với thực tại của nó, tức là không hiểu đúng. Nhưng điều đó lại sai khi qui chiếu với cách thức hiểu biết: vì sự hiểu biết của người nọ thì hoàn bị hơn sự hiểu biết của người kia.
3. Sự khác biệt trong cách trông nhìn không hệ tại phía đối tượng, vì cũng một đối tượng, ấy là yếu tính Thiên Chúa, được tỏ bày cho mọi người; cũng không hệ tại sự thông dự đối tượng cách khác nhau bởi những ảnh niệm khác nhau; mà hệ tại sự khác biệt về tài năng của trí khôn, không phải tài năng tự nhiên, nhưng đã được vinh quang, như đã nói (lg).
MỤC 7
Những người nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa có thấu hiểu Người chăng?
NGHI VẤN. Hình như những người nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa thì thấu hiểu Người.
1. Thánh Tông đồ viết: “Nhưng tôi đang cố gắng chạy tới mong chiếm đoạt”. Mà thánh nhân không theo đuổi cách luống công, vì người nói: “tôi cũng chạy như thế, nhưng không phiêu lưu”. Cho nên chính thánh Tông đồ đã chiếm đoạt, và cả những người khác cũng vậy, những người mà thánh nhân kêu mời: “Anh em hãy chạy thế nào để chiếm cho được phần thưởng”.
2. Thánh Augustino nói: “Điều được chiếm đoạt là điều được trông thấy toàn diện, đến nỗi không còn chi ẩn khuất đối với kẻ trông nhìn”. Vậy nếu Thiên Chúa được nhìn thấy theo yếu tính, là Người được nhìn thấy toàn diện, và không có chỉ ẩn khuất đối với người nhìn: vì Thiên Chúa là Đấng đơn thuần. Vì thế phàm ai nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa thì nhìn thấy Người toàn diện. Cho nên người ấy thấu hiểu Thiên Chúa.
3. Gián hoặc có ai nói: được trông thấy toàn diện, nhưng không phải cách trọn vẹn thì xin đáp lại: “trọn vẹn” có thể hiểu về cách thức của người nhìn thấy, hay của vật được nhìn thấy. Nếu hiểu về cách thức của vật được nhìn thấy thì ai nhìn thấy Thiên Chúa theo yếu tính là nhìn thấy Người cách trọn vẹn: vì Người thế nào cũng được nhìn thấy như thế, như đã nói trên (m.6 gđ.1). Nếu hiểu về cách thức của người nhìn thấy, thì chủ thể trông nhìn cũng nhìn thấy Người trọn vẹn: vì trí khôn, với tất cả năng lực của mình, nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa. Bởi đó phàm ai nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa là nhìn thấy Người cách trọn vẹn. Cho nên thấu hiểu Người.
NHƯNG. Ngôn sứ Giêrêmia viết: “Thiên Chúa vĩ đại và uy hùng, danh Ngài là Đức Chúa các đạo binh. Ngài vĩ đại trong ý định, và khôn thấu trong tư tưởng”. Cho nên không ai có thể thấu hiểu Người.
LUẬN GIẢI. Không trí khôn thụ tạo nào có thể thấu hiểu Thiên Chúa, nhưng hiểu biết Thiên Chúa đôi chút, đã là hạnh phúc lớn lao, như thánh Augustino nói.
Để hiểu rõ điều đó, nên biết rằng, một điều được thấu hiểu là được nhận biết hoàn bị. Nhưng một điều được nhận biết hoàn bị là khi điều đó khả tri ngần nào thì được nhận biết ngần ấy. Vì thế, nếu một điều là khả tri bằng chứng minh, mà chỉ được công nhận theo kiểu ý kiến hay do lý lẽ cái nhiên nào đó, thì chưa phải là được thấu hiểu. Thí dụ, người nào biết bằng chứng minh khoa học rằng, ba góc của tam giác bằng hai góc vuông, thì người ấy đã hiểu rõ tam giác là gì; còn ai chỉ công nhận điều đó như ý kiến cái nhiên, căn cứ trên lời quả quyết của những nhà thông thái hay của nhiều người thì người ấy không thấu hiểu, vì không đạt tới cách nhận biết hoàn bị như cách thức khả tri của nó.
Nhưng không một trí khôn thụ tạo nào có thể đạt tới cách thức nhận biết yếu tính Thiên Chúa theo mức độ hoàn bị như cách thức khả tri của yếu tính ấy. Quả vậy, phàm chi càng ở trong hiện thể chừng nào thì càng khả tri chừng ấy. Vậy Thiên Chúa là Đấng khả tri vô hạn, vì hiện hữu của Người thì vô hạn, như đã chứng minh (vđ.7, m.1). Mà không trí khôn thụ tạo có thể nhận biết Thiên Chúa cách vô hạn. Trĩ khôn thụ tạo nhận biết Thiên Chúa cách hoàn bị nhiều hay ít là tùy theo nó được ánh vinh quang thấu nhập nhiều hay ít. Nhưng vì ánh vinh quang thụ tạo, được tiếp nhận vào trí khôn thụ tạo, không thể là vô hạn, thành thử trí khôn thụ tạo không thể nhận biết Thiên Chúa cách vô hạn. Cho nên không thể thấu hiểu Thiên Chúa.
GIẢI ĐÁP.
1. Từ comprehensio có hai nghĩa: Một là nghĩa hẹp và nghĩa đen, nói lên việc một vật bị gồm thâu trong vật thâu gồm nó. Theo nghĩa này, tuyệt nhiên Thiên Chúa không thể do trí khôn hay điều chi khác thấu hiểu: vì Người là Đấng vô hạn, không thể bị gồm thâu trong vật hữu hạn nào hết, chẳng vậy vật hữu hạn lại vây bọc Người cách vô hạn, vì chính Người hiện hữu cách vô hạn. Ở đây chúng tôi hiểu tiếng comprehensio theo nghĩa này. – Tiếng comprehensio còn có nghĩa khác, rộng hơn, như thể đối lập với sự theo đuổi. Quả thực, ai đuổi kịp người nào và đã chiếm lấy người ấy, thì được coi là chiếm đoạt người ấy. Theo nghĩa này Thiên Chúa được những phúc nhân chiếm đoạt, theo lời sách Diễm ca: “tôi níu lấy chàng và chẳng chịu buông ra”. Phải hiểu những lời của thánh Tông đồ theo nghĩa này. — Như thế chiếm đoạt là một trong ba ân huệ của linh hồn và tương ứng với đức cậy; cũng như sự thị kiến tương ứng với đức tin, và sự vui hưởng tương ứng với đức mến. Thực ra nơi chúng ta, không phải mọi điều chúng ta thấy là chúng ta đã chiếm hữu hay đã có: vì đôi khi chúng ta thấy những vật xa cách hay không thuộc quyền của chúng ta. Đàng khác, chúng ta cũng chẳng vui hưởng mọi thứ ta có, vì hoặc chúng ta không hoan lạc trong những thứ ấy, hoặc vì chúng không phải là cùng đích tối hậu ta ước mong, đến độ làm ta được toại nguyện và an nghỉ. Nhưng các phúc nhân được ba thứ đó nơi Thiên Chúa: vì các ngài nhìn thấy Người; mà khi nhìn thấy tức là có Người hiện diện, và có thể nhìn thấy Người luôn mãi; và vì chiếm hữu Người nên vui hưởng Người như cứu cánh làm thoả mãn mọi ước vọng
2. Khi nói Thiên Chúa là Đấng khôn thấu, thì không phải là nơi Người có điều chi không được nhìn thấy; nhưng vì không được nhìn thấy cách hoàn bị như có thể được nhìn thấy. Chẳng hạn, một mệnh đề có thể chứng minh lại được nhận biết bằng lẽ cái nhiên nào đó, thì không có chi trong mệnh đề ấy không được nhận biết, dù là chủ từ, túc từ, hay mối liên kết; nhưng toàn thể mệnh đề không được nhận biết cách hoàn bị như có thể được nhận biết. Vì thế thanh Augustino đã định nghĩa sự thấu hiểu khi nói: “Toàn thể một đối tượng được ta thấu hiểu khi trông thấy, và được trông thấy cách tường tận đến độ không còn chi ẩn khuất đối với người trông nhìn, hay khi toàn thể biên giới của nó có thể được nhìn thấy”. Thực vậy, toàn thể biên giới của một vật được nhìn thấy khi ta đạt tới chỗ khả tri cuối cùng của nó.
3. Trọn vẹn ám chỉ cách thức của đối tượng: không phải vì toàn thể cách thức của đối tượng không được nhận biết; nhưng vì cách thức hiện hữu của đối tượng không phải là cách thức hiện hữu của người nhận biết. Vậy ai nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa, sẽ nhận thấy Người, là Đấng hiện hữu vô hạn và khả tri vô hạn; nhưng cách thức vô hạn này không phù hợp với người nhận biết, như thể chính người ấy nhận biết một cách vô hạn: chẳng hạn một người biết một cách cái nhiên rằng có thể chứng minh mệnh đề nào đó, dù đương sự không biết bằng cách chứng minh.
MỤC 8
Người nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa có nhìn thấy mọi sự trong Thiên Chúa chăng?
NGHI VẤN. Hình như những người nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa thì nhìn thấy mọi sự trong Thiên Chúa.
1. Thánh Gregorio nói: “Kẻ nhìn thấy Đấng trông thấy mọi sự thì còn gì mà không nhìn thấy”? Nhưng Thiên Chúa là Đấng trông thấy mọi sự. Cho nên ai nhìn thấy Thiên Chúa thì nhìn thấy mọi sự.
2. Ai nhìn vào tấm gương cũng nhìn thấy mọi sự phản chiếu trong gương. Nhưng mọi vật được tạo thành hay có thể được tạo thành đều phản chiếu trong Thiên Chúa như trong tấm gương: vì Thiên Chúa biết mọi sự nơi chính Mình. Cho nên phàm ai trông thấy Thiên Chúa thì trông thấy mọi vật hiện hữu và có thể được tạo thành.
3. Ai hiểu biết điều hơn ắt có thể biết những điều kém, như nhà Hiền triết đã nói. Nhưng mọi vật Thiên Chúa đã làm ra hay có thể làm ra đều kém yếu tính của Người. Cho nên ai hiểu biết Thiên Chúa cũng có thể hiểu biết những gì Thiên Chúa đã làm ra hay có thể làm ra.
4. Theo tính tự nhiên, thụ tạo có lý trí muốn biết mọi sự. Nếu khi nhìn thấy Thiên Chúa mà vật thụ tạo không biết mọi sự thì ước vọng tự nhiên của nó chưa toại nguyện: và như vậy có nhìn thấy Thiên Chúa cũng chưa được hạnh phúc. Đó là điều vô lý. Cho nên nhìn thấy Thiên Chúa là biết hết mọi sự.
NHƯNG. Thiên thần trông thấy yếu tính Thiên Chúa, nhưng không biết hết mọi sự. Thực vậy, thiên thần cấp dưới được thiên thần cấp trên thanh luyện cho khỏi u minh, như Dionysio nói. Chính các thiên thần cũng không biết những tương lai bất tất và những ý nghĩ trong tâm khảm: Đây là điều chuyên biệt của Thiên Chúa. Cho nên không phải hễ ai nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa là thấy hết mọi sự.
LUẬN GIẢI. Dù trông thấy yếu tính Thiên Chúa, thì trong yếu tính ấy trí khôn thụ tạo cũng không trông thấy mọi sự Thiên Chúa đã tạo thành hay có thể tạo thành. Hiển nhiên là những vật được trông thấy trong Thiên Chúa đều được nhìn thấy như chúng có trong đó. Nhưng các vật khác không phải là Thiên Chúa thì có nơi Người như công hiệu trong tiềm lực của căn nguyên. Vậy các vật khác được nhìn thấy trong Thiên Chúa như công hiệu trong căn nguyên của nó. Nhưng hiển nhiên là ta càng nhận biết một căn nguyên cách hoàn bị hơn, thì ta càng nhận biết nhiều công hiệu trong căn nguyên ấy hơn. Thực vậy, khi một nguyên lý để chứng minh được trình bày, thì từ nguyên lý ấy người có trí khôn linh lợi lập tức suy diễn ra nhiều kết luận; còn người có trí khôn yếu kém chỉ có thể nhận biết bằng cách luận giải từng điều một. Cho nên chỉ trí khôn nào thấu hiểu một căn nguyên cách trọn vẹn mới có thể biết trong căn nguyên ấy những công hiệu và mọi lý do của chúng. Nhưng không trí khôn thụ tạo nào có thể thấu hiểu Thiên Chúa cách trọn vẹn, như đã chứng minh (m.7). Cho nên, dù nhìn thấy Thiên Chúa cũng không trí khôn thụ tạo nào có thể biết được mọi vật Thiên Chúa đã làm ra hay có thể làm ra: biết như thế là thấu hiểu năng lực của Thiên Chúa. Tuy nhiên trong các vật Thiên Chúa đã làm ra hay có thể làm ra, trí khôn nào càng nhìn thấy Thiên Chúa cách hoàn bị hơn càng nhận biết những vật ấy cách hoàn bị hơn.
GIẢI ĐÁP.
1. Thánh Gregorio nói về sự đầy đủ của đối tượng, nghĩa là của Thiên Chúa, vì về phần Mình, Thiên Chúa gồm thâu và giãi bày mọi sự cách đầy đủ. Do đó, ai nhìn thấy Thiên Chúa không tất nhiên là biết hết mọi vật: vì không ai thấu hiểu Người cách hoàn bị.
2. Ai nhìn tấm gương không nhất thiết nhìn thấy mọi sự phản chiếu trong đó, đừng kể với cái nhìn của mình, người ấy quán triệt tấm gương.
3. Mặc dầu nhìn thấy Thiên Chúa là chuyện cao quí hơn là nhìn thấy mọi vật, nhưng nhìn thấy Thiên Chúa cách nào để trong Người mọi vật được nhận biết, thì càng cao quí hơn là nhìn thấy chính Người, mà trong Người chỉ ít nhiễu vật được nhận biết chứ không phải tất cả. Vậy vừa chứng minh rằng (1g), số các vật được nhận biết trong Thiên Chúa thì nhiều hay ít là hệ tại cách thức nhìn thấy Người hoàn bị hơn kém.
4. Ước muốn tự nhiên của thụ tạo có lý trí là nhận biết tất cả những chi liên can đến sự hoàn bị của trí khôn: như những giống, loại và lý tính của các vật, những điều mà phàm ai nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa sẽ nhìn thấy. Còn việc biết những vật riêng lẻ khác, cũng như những tư tưởng và hành vi của chúng, thì không cần thiết cho sự hoàn bị của trí khôn thụ tạo, ước muốn tự nhiên không hướng đến đó, cũng không hướng đến việc biết các vật chưa hiện hữu nhưng có thể được Thiên Chúa tạo thành. Dù sao, nguyên việc nhận biết một mình Thiên Chúa, là cội nguồn và căn nguyên mọi hữu thể và mọi chân lý, cũng làm thỏa mãn nguyện vọng hiểu biết tự nhiên, đến độ người ta không còn tìm kiếm chi khác để được hạnh phúc. Vì thế thánh Augustino than thở: “Vô phúc cho người biết mọi vật đó (nghĩa là thụ tạo), nhưng không biết Chúa. Trái lại, hạnh phúc cho người biết Chúa, dù không biết mọi vật đó. Còn ai vừa biết Chúa vừa biết những vật đó, thì không phải vì chúng mà được hạnh phúc hơn, nhưng chỉ vì một mình Chúa mà được hạnh phúc”.
MỤC 9
Những vật, mà người nhìn thấyyếu tính Thiên Chúa nhìn thấy, có được nhìn thấy qua ảnh niệm nào chăng?
NGHI VẤN. Hình như những vật, mà người nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa nhìn thấy, được nhìn thấy qua ảnh niệm nào đó.
1. Mọi nhận thức đều được thể hiện bằng sự đồng hoá giữa chủ thể nhận biết và đối tượng được nhận biết: vì thế trí khôn trong hiện thể trở thành điều được hiểu biết trong hiện thể, và giác quan trong hiện thể trở thành điều khả giác trong hiện thể, vì được mô thể hoá bởi ảnh niệm của nó, như con ngươi bởi giác tượng của màu sắc. Vì thế, nếu trí khôn của người nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa, hiểu biết trong Thiên Chúa vật thụ tạo nào, thì phải được mô thể hoá bởi những ảnh niệm của chúng.
2. Chúng ta thường nhớ những điều chúng ta đã biết trước. Vậy thánh Phaolô được nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa trong lúc xuất thần, sau khi không còn nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa, người nhớ lại nhiều điều đã trông thấy trong lúc xuất thần ấy, như thánh Augustino nói; vì thánh Tông đồ quả quyết là đã được nghe thấy những lời khôn tả, mà loài người không được phép nói lại. Cho nên phải quyết rằng một vài ảnh niệm của những điều người nhớ vẫn tính của Thiên Chúa nhãn tiền, hẳn người cũng có những hình ảnh tồn tại trong trí khôn người. Cũng một lẽ, khi người nhìn thấy yếu hay ảnh niệm của những vật đã được nhìn thấy trong yếu tính ấy.
NHƯNG. Gương và những chi hiển hiện trong gương đều được nhận thấy bằng một ảnh niệm. Nhưng mọi sự được nhìn thấy trong Thiên Chúa thì được nhìn thấy như trong tấm gương khả hội nào đó. Vậy nếu chính Thiên Chúa không được nhìn thấy bằng ảnh niệm nào, mà bằng chính yếu tính của Người, thì cả những điều, được nhìn thấy trong Người, cũng không được nhìn thấy bằng ảnh niệm nào cả.
LUẬN GIẢI. Những ai nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa thì nhìn thấy những điều được nhìn thấy trong yếu tính ấy, không bằng ảnh niệm nào cả, mà bằng chính yếu tính Thiên Chúa phối hợp với trí khôn họ. Thực vậy, sở dĩ một vật được nhận biết là vì ảnh niệm của nó ở trong chủ thể nhận biết. Nhưng điều đó được thể hiện hai cách, vì như những vật giống với cũng một vật thì chúng giống nhau, mà tài năng tri thức có thể đồng hoá với cũng một đối tượng khả tri hai cách. Một là cách tự thể, là khi được mô thể hoá trực tiếp bởi ảnh niệm của đối tượng, lúc đó đối tượng ấy được nhận biết cách tự thể. Hai là khi trí khôn được mô thể hoá bởi ảnh niệm của một vật khác giống như đối tượng kia: lúc đó ta không nói rằng sự vật được nhận biết trong chính nó, mà trong vật giống như nó. Thực vậy, nhận biết đích thị một người thì khác với nhận biết chân dung của người ấy. Thế nên, nhận biết các vật bằng ảnh niệm của chúng, hiện có nơi chủ thể nhận biết, là nhận biết các vật trong chính chúng, hay trong chính bản tính của chúng; nhưng nhận biết chúng theo những ảnh niệm của chúng, đã có sẵn trong Thiên Chúa, là nhận thấy chúng trong Thiên Chúa. Hai thứ nhận thức ấy thì khác nhau. Vì thế, theo lối nhận thức mà những người nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa, nhận biết các vật trong chính Thiên Chúa, thì các vật này không được nhận biết bằng ảnh niệm nào khác, mà chỉ bằng yếu tính Thiên Chúa hiện diện trong trí khôn, cũng nhờ yếu tính này mà chính Thiên Chúa được nhận biết.
GIẢI ĐÁP.
1. Trí khôn nhìn thấy Thiên Chúa thì đồng hoá với những vật được nhìn thấy trong Thiên Chúa; vì trí khôn đã phối hợp với yếu tính Thiên Chúa, trong đó đã có sẵn hình ảnh của mọi vật.
2. Có những tài năng tri thức, có thể nhờ những ảnh niệm đã có trước mà kiến tạo những ảnh niệm khác. Như trí tưởng tượng do những giác tượng sẵn có về quả núi và về vàng kiến tạo ý niệm Về núi vàng; và trí khôn do những ảnh niệm sẵn có về giống và dị điểm kiến tạo quan niệm về loại. Cũng vậy, nhờ sự đồng dạng của một hình ảnh chúng ta có thể kiến tạo trong chúng ta hình ảnh của vật được biểu thị trong hình ảnh ấy. Theo cách đó, thánh Phaolô hay bất cứ ai khác đã nhìn thấy Thiên Chúa, do chính việc nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa, có thể kiến tạo trong mình ảnh niệm của những vật đã được nhìn thấy trong yếu tính Thiên Chúa; những ảnh niệm đã tồn tại nơi thánh Phaolô, cả khi người không còn nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa. Nhưng sự nhìn thấy các vật qua những ảnh niệm được kiến tạo như thế là cách nhận thức khác với sự nhìn thấy các vật trong Thiên Chúa.
MỤC 10
Những người nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa có nhìn thấy một trật mọi vật mà họ nhìn thấy trong Thiên Chúa chăng?
NGHI VẤN. Hình như những người nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa không nhìn thấy một trật những điều mà họ nhìn thấy trong đó.
1. Theo nhà Hiền triết, có trường hợp người ta biết nhiều điều, nhưng mỗi lần chỉ hiểu biết một điều. Mà những điều được nhìn thấy trong Thiên Chúa là những điều được hiểu biết: Thiên Chúa được nhìn thấy bằng trí khôn. Cho nên, những người nhìn thấy Thiên Chúa không nhìn thấy trong Thiên Chúa nhiều vật một trật.
2. Thánh Augustino nói: “Thiên Chúa huy động thụ tạo thiêng liêng bằng thời gian”, nghĩa là bằng trí khôn và tình cảm. Mà thụ tạo thiêng liêng là thiên thần, là đấng nhìn thấy Thiên Chúa. Cho nên những ai nhìn thấy Thiên Chúa thì hiểu biết và cảm giác cách tuần tự: vì thời gian hàm súc sự kế tiếp.
NHƯNG. Thánh Augustino nói: “Những tư tưởng của chúng ta sẽ không xoay vần, chuyển đổi từ điều này sang điều kia; nhưng với một cái nhìn chúng ta sẽ thấy một trật mọi điều ta biết”.
LUẬN GIẢI. Những điều được nhìn thấy trong Ngôi Lời thì được nhìn thấy một trật, chứ không tuần tự. Để hiểu rõ điều đó nên suy rằng, sở dĩ chúng ta không thể hiểu biết nhiều điều một trật, là vì nhiều điều được hiểu bằng nhiều ảnh niệm khác nhau; như một thân thể không thể mặc nhiều hình thù một trật, thì một trí khôn cũng không thể được mô thể hoá một trật bởi nhiều ảnh niệm khác nhau, để nhờ chúng mà hiểu biết. Thành thử, khi những đối tượng nào có thể được hiểu biết trong một ảnh niệm, thì được biểu biết một trật: cũng như khi những phần khác nhau của một toàn thể được hiểu biết bằng những ảnh niệm khác nhau, thì được hiểu biết kế tiếp nhau, chứ không phải một trật; nhưng nếu được hiểu biết bằng một ảnh niệm của toàn thể thì được hiểu biết một trật. Vậy đã chứng minh rằng (m.9), không điều nào trong những điều được nhìn thấy nơi Thiên Chúa, được nhìn thấy bằng ảnh niệm riêng, mà tất cả chỉ được nhìn thấy trong yếu tính Thiên Chúa. Cho nên tất cả được nhìn thấy một trật, chứ không kế tiếp nhau.
GIẢI ĐÁP.
1. Sở dĩ chúng ta chỉ hiểu biết một đối tượng là vì hiểu biết bằng một ảnh niệm. Nếu nhiều đối tượng được hiểu biết bằng một ảnh niệm thì được hiểu biết một trật: như trong ảnh niệm con người chúng ta hiểu động vật và có lý trí, và trong giác tượng của ngôi nhà ta biết cả tường lẫn mái nhà.
2. Đối với sự nhận biết tự nhiên, qua đó các thiên thần biết các vật bằng những ảnh niệm phú bẩm khác nhau, các ngài không biết tất cả một trật; theo ý nghĩa này, về mặt hiểu biết, các ngài được huy động qua thời gian. Nhưng về những vật các ngài nhìn thấy trong Thiên Chúa, thì nhìn thấy một trật.
MỤC 11
Trong lúc sinh thời có ai nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa được chăng?
NGHI VẤN. Hình như ở đời này có người có thể nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa.
1. Ông Giacóp đã nói: “Tôi đã thấy Thiên Chúa mặt đối mặt”. Nhưng thấy mặt đối mặt là thấy theo yếu tính, như lời thánh Tông đồ: “Bây giờ chúng ta thấy qua tấm gương, cách ẩn giấu, nhưng lúc đó sẽ mặt giáp mặt”. Cho nên ở đời này yếu tính Thiên Chúa có thể được ai đó nhìn thấy.
2. Về Môsê, Chúa phán: Ta nói với nó trực diện, nó nhìn thấy Thiên Chúa nhãn tiền chứ không qua ẩn dụ và hình bóng. Nhưng đó là nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa. Cho nên ở đời này, có người có thể nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa.
3. Điều trong đó chúng ta biết mọi vật khác và đoán định về các vật khác, là điều được chúng ta nhận biết trong chính nó. Nhưng ngay hiện nay chúng ta biết mọi sự trong Thiên Chúa. Thực vậy, thánh Augustino nói: “Nếu cả hai chúng ta thấy điều bạn nói là chân thật, và cả hai chúng ta thấy điều tôi nói là chân thật, thì tôi xin hỏi chúng ta thấy điều đó ở đâu? Tôi không thấy nơi bạn, và bạn cũng không thấy nơi tôi: nhưng cả hai chúng ta thấy nơi chính chân lý bất khả biến, vượt trên trí khôn chúng ta”.
Cũng vậy, trong sách Về Đạo thật người nói, chúng ta đoán định về mọi sự theo chân lý thần linh. Trong sách Về Chúa Ba Ngôi, thánh nhân nói, nhiệm vụ của lý trí là phán đoán về những vật hữu chất theo những lý lẽ vô chất và trường cửu: những lý lẽ không thể là bất khả biến nếu không vượt trên trí tuệ. Cho nên ngay ở đời này chúng ta nhìn thấy chính Thiên Chúa.
4. Theo thánh Augustino, những chi ở trong linh hồn theo yếu tính thì được nhìn thấy bằng cái nhìn của trí năng. Nhưng chính thánh nhân lại nói, cái nhìn của trí năng về những điều khả hội thì không thể hiện bằng ảnh niệm, mà bằng chính yếu tính của những điều ấy. Cho nên vì Thiên Chúa ngự trong linh hồn chúng ta theo yếu tính, nên được chúng ta nhìn thấy theo yếu tính.
NHƯNG. Trong sách Xuất hành có nói: “con người không thể thấy Ta mà vẫn sống”. Lời chú giải viết: “Bao lâu ta còn sống ở đời tạm này, Thiên Chúa có thể được nhìn thấy bằng những hình ảnh nào đó, nhưng không thể được nhìn thấy bằng chính ảnh niệm của bản tính Thiên Chúa”.
LUẬN GIẢI. Không phàm nhân nào có thể nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa nếu không ra khỏi cuộc sống tạm này. Sở dĩ như thế là vì, như đã nói trên (m.4), cách thức nhận biết thì tương ứng với cách thức hiện hữu của chủ thể nhận biết. Nhưng bao lâu chúng ta còn sống ở đời này, linh hồn chúng ta hiện hữu trong thân thể hữu chất: vì thế linh hồn chỉ có thể biết cách tự nhiên những vật có mô thể trong chất thể, hay những vật mà nó có thể biết được nhờ những vật như thế. Nhưng hiển nhiên là không thể nhờ những vật hữu chất mà biết được yếu tính của Thiên Chúa: thực vậy, như đã chứng minh trên đây (m.2), sự nhận biết Thiên Chúa bằng bất cứ ảnh niệm thụ tạo nào đều không phải là nhìn thấy yếu tính của Người. Vì thế linh hồn phàm nhân, trong khi sống ở đời này, không thể nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa. Bằng chứng về điều đó là, linh hồn ta càng siêu thoát khỏi các vật hữu chất càng có thể nhận biết những điều khả niệm trừu tượng. Vì thế trong giấc mộng và lúc xuất thần thoát ly khỏi giác quan thân thể, người ta nhận được những mặc khải của Thiên Chúa và những dự đoán tương lai cách dễ dàng hơn. Bởi đó, bao lâu còn sống ở đời tạm này, linh hồn không thể được cất nhắc để biết điều khả hội tuyệt đỉnh, là yếu tính Thiên Chúa.
GIẢI ĐÁP:
1. Theo Dionysio, sở dĩ Thánh Kinh nói có người được nhìn thấy Thiên Chúa là có ý nói về những hình thù khả cảm hay tưởng tượng nào đó, đã được kiến tạo để biểu thị điều của thần linh, bằng sự đồng dạng nào đó. Cho nên việc ông Giacóp nói là được nhìn thấy Thiên Chúa mặt đối mặt, không nên hiểu về chính yếu tính Thiên Chúa, mà về hình thù biểu thị Thiên Chúa. Còn sự kiện nhìn thấy Thiên Chúa đích thân phán dạy, dù trong thị kiến tưởng tượng, thì đó là một đặc trưng cao viễn của sứ ngôn, như sẽ nói sau (I-II vđ.174, m.3) khi bàn về các bậc ngôn sứ. — Hoặc ông Giacóp nói thế để chỉ một trạng thái trác tuyệt của trí khôn chiêm niệm, trổi vượt trên bậc thông thường.
2. Như Thiên Chúa hoạt động cách siêu nhiên trên những vật hữu hình bằng phép lạ thể nào, thì ngoài trật tự thông thường, Người cũng cất nhắc cách siêu nhiên trí khôn của người đang sống trong xác thịt, nhưng không dùng giác quan thể ấy, đến độ được hưởng kiến yếu tính của Người, như thánh Augustino nói về ông Môsê, là thầy dạy dân Do thái, và về thánh Phaolô, là thầy dạy Dân ngoại. Điều này sẽ được bàn rộng hơn khi đề cập đến về sự Ngất trí (I-II, vđ.175, a.3).
3. Sở dĩ chúng tôi nói, nhìn thấy mọi sự trong Thiên Chúa, và theo Người mà phán đoán mọi sự, là vì nhờ thông dự ánh sáng của Người chúng ta biết mọi sự và phán đoán về mọi sự: vì chính ánh sáng tự nhiên của lý trí là một thứ thông dự ánh sáng thần linh; như chúng ta nói nhìn thấy và đoán định mọi vật khả cảm dưới mặt trời, nghĩa là nhờ ánh sáng mặt trời. Vì thế thánh Augustino viết: Chỉ có thể nhìn thấy toàn cảnh các khoa học khi chúng được soi sáng bởi cái gì như mặt trời của nó, nghĩa là bởi Thiên Chúa. Vậy, như để nhìn thấy đối tượng nào theo giác quan thì không cần phải trông thấy bản thể mặt trời, thì để nhìn thấy điều gì theo trí khôn cũng không cần phải trông thấy yếu tính Thiên Chúa.
4. Cái nhìn của trí khôn liên quan đến những điều ở trong linh hồn theo yếu tính thì như những điều khả hội ở trong trí khôn. Vậy Thiên Chúa ở như thế trong linh hồn những phúc nhân, chứ không phải trong linh hồn ta; Người hiện hiện trong linh hồn ta theo sự hiện diện, yếu tính và quyền năng.
MỤC 12
Ở đời này chúng ta có thể nhờ lý trí tự nhiên mà biết Thiên Chúa chăng?
NGHI VẤN. Hình như ở đời này chúng ta không thể nhờ lý trí tự nhiên mà biết Thiên Chúa.
1. Boetio nói: “lý trí tự nhiên không thể thâu nhận một mô thể đơn thuần”. Mà Thiên Chúa là mô thể đơn thuần tuyệt vời, như đã chứng minh trên (vđ.3, m.7). Cho nên lý trí tự nhiên không thể nhận biết Người được.
2. Linh hồn, nhờ lý trí tự nhiên và không có giác tượng, không thể hiểu biết chi hết, như nhà Hiền triết đã nói. Nhưng vì Thiên Chúa là Đấng vô chất, chúng ta không thể có giác tượng về Người. Cho nên chúng ta không thể nhận biết Thiên Chúa bằng lý trí tự nhiên.
3. Cũng như bản tính là điều chung thì nhận thức bằng lý trí tự nhiên cũng là điều chung cho cả người thiện lẫn người ác. Mà sự nhận biết Thiên Chúa chỉ thích hợp với những người thiện: thực vậy, thánh Augustino nói, “trí khôn nhân loại không thể chú mục vào ánh sáng trác tuyệt như thế, nếu không được thanh tẩy bởi sự ngay chính của đức tin”. Cho nên Thiên Chúa không thể được nhận biết bằng lý trí tự nhiên.
NHƯNG. Thánh Tông đồ nói: “Những gì người ta có thể biết về Thiên Chúa, thì thật đã hiển nhiên trước mắt họ”, nghĩa là những điều về Thiên Chúa thì khả tri đối với lý trí tự nhiên.
LUẬN GIẢI. Nhận thức tự nhiên của chúng ta khởi diễn từ giác quan: vì thế nhận thức tự nhiên của chúng ta có thể được những vật khả cảm dẫn đưa đến đâu, thì cũng mở rộng đến đấy. Nhưng trí khôn của chúng ta không thể nhờ những vật khả cảm để vươn lên, đến độ nhìn thấy yếu tính Thiên Chúa: vì những tạo vật khả cảm là những công hiệu không toàn ứng với quyền năng của Thiên Chúa. Vì thế không thể nhờ nhận biết những vật khả cảm mà biết được tất cả quyền năng của Thiên Chúa; nhiên hậu cũng không thể nhìn thầy yếu tính của Người. Nhưng vì những vật ấy là những công hiệu lệ thuộc vào Người như căn nguyên, cho nên chúng ta có thể nhờ những công hiệu ấy hướng dẫn để biết là có Thiên Chúa; và biết những gì thiết yếu phù hợp với Người như căn nguyên đệ nhất của mọi vật, trổi vượt trên mọi thụ tạo. Cho nên chúng ta có thể biết tương quan của Người với vật thụ tạo, nghĩa là Người là căn nguyên mọi vật, và sự khác biệt giữa Người và các vật thụ tạo; ấy là Người không phải là bất cứ điều gì Người đã dựng nên, và đây không phải vì sự thiếu thốn của Người, mà vì Người trổi vượt trên hết.
GIẢI ĐÁP.
1. Lý trí không thể nhận biết mô thể đơn thuần, đến nỗi biết nó là gì; nhưng có thể biết là có nó.
2. Thiên Chúa được nhận biết bởi tri thức tự nhiên qua những giác tượng biểu thị công hiệu của Người.
3. Sự nhận biết yếu tính Thiên Chúa vì nhờ ân sủng nên là điều riêng của những người thiện; nhưng sự nhận biết Thiên Chúa bằng lý trí tự nhiên thì thuộc về cả người thiện lẫn người ác. Vì thế thánh Augustino viết: “Tôi không chấp nhận điều tôi đã nói trong lời nguyện: “Lạy Thiên Chúa, Chúa chỉ muốn cho những người trong sạch biết chân lý”. Quả thực, người ta có thể vặn lại rằng, cả những người không trong sạch cũng biết nhiều chân lý, nghĩa là bằng lý trí tự nhiên”.
MỤC 13
Phải chăng có thứ nhận biết Thiên Chúa bằng ân sủng, trổi vượt hơn thứ nhận biết bằng lý trí tự nhiên?
NGHI VẤN. Hình như không có sự nhận biết nào bằng ân sủng, trổi vượt hơn sự nhận biết bằng lý trí tự nhiên.
1. Dionysio nói: Phàm ai ở đời này phối hợp với Thiên Chúa cách hoàn hảo hơn, thì phối hợp với Người như với điều mà mình hoàn toàn không biết; ông áp dụng điều đó vào Môsê, dù Môsê đã đạt được sự trác tuyệt đặc biệt trong nhận thức bằng ân sủng. Nhưng phối hợp với Thiên Chúa đang khi không biết Người là chi, thì nhận thức bằng lý trí tự nhiên cũng có thể đạt được. Cho nên Thiên Chúa không được chúng ta nhận biết đầy đủ bằng ân sủng hơn bằng lý trí tự nhiên
2. Như ta chỉ nhờ những giác tượng mới có thể nhận biết bằng lý trí tự nhiên những điều thuộc về Thiên Chúa, thì nhận biết bằng ân sủng cũng vậy. Quả thực, Dionysio nói: “ánh sáng thần linh chỉ có thể soi chiếu chúng ta trong tình trạng được bao che bởi đủ thứ màn linh thánh”. Cho nên bằng ân sủng chúng ta không nhận biết Thiên Chúa đầy đủ hơn là bằng lý trí tự nhiên
3. Trí khôn chúng ta phối hợp với Thiên Chúa bằng ơn đức tin. Nhưng xem ra đức tin không phải là nhận thức, vì thánh Gregorio nói: “những điều không nhìn thấy là đối tượng của đức tin, chứ không phải của nhận thức”. Cho nên không có sự nhận biết nào trổi vượt hơn về Thiên Chúa do ân sủng bổ sung cho chúng ta.
NHƯNG. Thánh Tông đồ nói: “Chúng ta đã được Thiên Chúa mặc khải cho, nhờ Thánh Thần”, ấy là về những điều, mà không một ai trong các thủ lãnh thế gian này biết được, nghĩa là không nhà hiền triết nào biết, như lời Chú giải nói.
LUẬN GIẢI. Nhận thức mà chúng ta có về Thiên Chúa bằng ân sủng thì hoàn bị hơn là nhận thức bằng lý trí tự nhiên. Điều này có thể lý giải như sau. Nhận thức mà chúng ta có bằng lý trí tự nhiên đòi hai điều: ấy là giác tượng ta nhận được từ những vật khả cảm, và ánh sáng tự nhiên của trí khôn, nhờ đó từ những giác tượng ta trừu xuất ra những quan niệm. Nhận thức nhân loại được sự mặc khải của ân sủng trợ giúp về cả hai điều đó. Vì ánh sáng tự nhiên của trí khôn được kiện cường bởi ánh sáng ban xuống cách nhưng không. Lại đôi khi những giác tượng được kiến tạo cách thần linh, biểu thị những điều thần linh hoàn bị hơn những giác tượng mà ta nhận được cách tự nhiên từ những vật khả cảm, như thấy trong những thị kiến sứ ngôn. Đôi khi cả những vật khả cảm hoặc tiếng nói được hình thành cách thần linh để biểu thị một điều thần linh, như khi Chúa Giêsu chịu phép rửa, Chúa Thánh Thần được nhìn thấy dưới hình chim câu và tiếng Chúa Cha vọng ra: “Đây là Con yêu dấu của Ta” (Mt 3,17).
GIẢI ĐÁP.
1. Mặc dầu nhờ mặc khải của ân sủng, ở đời này chúng ta không biết Thiên Chúa là gì, và như vậy chúng ta phối hiệp với Người như với điều ta không biết; nhưng chúng ta biết Người cách đầy đủ hơn vì những công hiệu vừa nhiều vừa cao trọng được giãi bày cho chúng ta; lại vì nhờ mặc khải chúng ta gán cho Người một vài ưu phẩm mà lý trí tự nhiên không thể biết, như một Thiên Chúa Ba Ngôi.
2. Ánh sáng của trí khôn trong con người càng cao cường, thì nhận thức của trí khôn - được thể hiện bởi những những giác tượng, do giác quan theo đường lối thông thường cung cấp, hoặc do Thiên Chúa kiến tạo trong óc tưởng tượng - càng cao trọng hơn. Vì thế nhờ sự phú ban ánh sáng thần linh qua mặc khải, từ những giác tượng ta đạt được nhận thức đầy đủ hơn.
3. Sở dĩ đức tin cũng là một thứ nhận thức, là vì nhờ đức tin, trí khôn được hạn định vào một điều khả tri nào đó. Nhưng sự hạn định vào một điều khả tri không phát xuất từ sự nhìn thấy của người tin, mà từ sự nhìn thấy của Đấng người ấy tin. Vì thế, xét như thiếu sự nhìn thấy, đức tin thua kém nhận thức khoa học: vì khoa học qui định trí khôn về một đối tượng bởi sự nhìn thấy và bởi thấu triệt những nguyên lý thứ yếu.
Nguồn: Thomas Aquinas. Tổng luận thần học. "Về một Thiên Chúa", Tập 1. Phần I, Vấn đề 1-13. Joachim Nguyễn Văn Liêm và cộng sự phiên dịch và dẫn nhập. Tp. Hồ Chí Minh, 1999.| Xem: Bản dịch tiếng Anh
