Chủ nghĩa tả khuynh - Chương 2: Bình đẳng và Tự do
Vì cuốn sách này được viết bởi một tín đồ Cơ Đốc giáo, trước tiên chúng ta hãy giải quyết một câu sáo ngữ quen thuộc cho rằng: mặc dù chúng ta không hoàn toàn giống nhau hay bình đẳng về mặt thể chất hoặc trí tuệ, nhưng ít nhất chúng ta “bình đẳng trong mắt Thiên Chúa”. Tuy nhiên, điều này hoàn toàn không đúng. Không một giáo phái Cơ Đốc nào dạy rằng tất cả chúng ta đều được Thiên Chúa yêu thương như nhau. Kinh Thánh ghi chép lại rằng Chúa Jesus yêu thương một số môn đệ của Người nhiều hơn những người khác. Cũng không có bất kỳ tôn giáo Cơ Đốc nào khẳng định rằng ân sủng được ban phát với một lượng ngang bằng cho mọi con người.
Giáo lý Công giáo, vốn mang cái nhìn lạc quan hơn so với Luther hay Calvin, chỉ nói rằng mỗi người đều được ban cho một lượng ân sủng đủ để có thể tự cứu rỗi chính mình, mặc dù không ở cùng một mức độ. Những nhà cải cách giáo, vốn là những người theo thuyết quyết định, thậm chí còn không thừa nhận mức tối thiểu đó. Rõ ràng là Hầu tước de Sade, so với Thánh Jean Vianney hay Mục sư von Bodelschwingh chẳng hạn, không hề “bình đẳng trong mắt Thiên Chúa”. Nếu họ bình đẳng, Cơ Đốc giáo sẽ không còn bất kỳ ý nghĩa nào nữa, bởi vì khi đó tội đồ sẽ ngang hàng với thánh nhân, và việc làm kẻ xấu cũng chẳng khác gì việc làm người tốt.
Tuy nhiên, thật thú vị khi quan sát xem tư duy “dân chủ” thế tục đã thâm nhập sâu đến mức nào vào trong giới thần học. Rõ ràng, sự bình đẳng không hề xuất hiện trong Kinh Thánh. Tự do được nhắc đến nhiều lần, nhưng bình đẳng thì không. Ấy vậy mà có quá nhiều bộ óc trong số các nhà tư tưởng tôn giáo lại muốn thu hẹp khoảng cách giữa tôn giáo (tức là đức tin Cơ Đốc của họ) với những quan niệm chính trị đương thời. Do đó, họ nói về sự bình đẳng dưới dạng trạng từ (adverbial equality) – và không thực sự nhận ra rằng họ đang giở một trò ngụy biện. Họ sẽ bắt đầu bằng cách nói rằng mọi con người đều có linh hồn, rằng họ đều được kêu gọi để cứu rỗi linh hồn mình, rằng họ đều được tạo ra theo hình ảnh của Thiên Chúa, v.v. Nhưng việc hai người đều sở hữu một chiếc mũi hay một tài khoản ngân hàng không có nghĩa là họ có những chiếc mũi giống hệt nhau hay những tài khoản ngân hàng bằng nhau. Trong khi những khác biệt, sự kém cỏi và sự vượt trội về thể chất cũng như trí tuệ của chúng ta có thể khá hiển nhiên, thì trạng thái tâm linh của chúng ta lại khó xác định hơn rất nhiều. Chúng ta không biết ai trong số chúng ta gần gũi với Thiên Chúa hơn, và bởi vì chúng ta không biết sự thật cực kỳ quan trọng này, chúng ta đành đối xử với nhau như những người bình đẳng.
Tuy nhiên, điều này chỉ mang tính thủ tục hành xử. Chúng ta ở trong một tình thế tương tự như người đưa thư phân phát hai bức thư được niêm phong mà không hề phân biệt, trong đó một bức chứa tờ quảng cáo vô giá trị và bức kia mang đến một niềm vui lớn lao. Anh ta không biết bên trong có gì. Sự so sánh này không hoàn toàn hoàn hảo, bởi vì mọi con người đều có chung một Người Cha, và do đó chúng ta là anh em – ngay cả khi chúng ta ở những cấp độ tâm linh khác nhau và đảm nhiệm những chức năng khác nhau trong xã hội loài người. (Từ quan điểm xã hội, hiển nhiên là một người có thể quan trọng hơn một người khác; tuy nhiên, vì mỗi cá nhân là độc nhất, nên mọi người đều không thể thiếu.) Khẳng định điều ngược lại chính là chủ nghĩa hư vô dân chủ.
Đây cũng là lúc thích hợp để nói vài lời về một loại bình đẳng khác được rất nhiều người nhắc đến theo một cách vô cùng khẳng định: bình đẳng trước pháp luật. Đôi khi, bình đẳng trước pháp luật có thể là một biện pháp hành chính tiện lợi, giúp tiết kiệm tiền bạc và tránh được áp lực từ những cuộc điều tra kéo dài. Nói cách khác, bình đẳng trước pháp luật mang tính “thực dụng”. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là liệu nó có thực sự đáng mong đợi hay không, liệu có luôn luôn nên tuân thủ nó hay không, và cuối cùng, liệu nó có công bằng hay không. Rõ ràng là một đứa trẻ bốn tuổi phạm tội ngộ sát (điều này thực sự có xảy ra!) nên được xử lý khác với một đứa trẻ mười hai tuổi, một thanh thiếu niên mười bảy tuổi, hay một người đàn ông trưởng thành ba mươi tuổi. Người theo chủ nghĩa quân bình sẽ chấp nhận điều này, nhưng sẽ nói thêm rằng tất cả đàn ông hay phụ nữ ở tuổi ba mươi đều phải chịu hình phạt giống hệt nhau. Ấy vậy mà hầu hết (dù không phải tất cả) các tòa án trong thế giới văn minh đều cân nhắc đến “hoàn cảnh”. Chẳng hạn, Thánh Thomas đã khẳng định rằng ăn cắp trong một trường hợp thực sự khẩn cấp không phải là tội lỗi – ví dụ: một người ăn xin tuyệt vọng không nhận được chút bố thí nào, đành phải ăn cắp một ổ bánh mì cho gia đình mình. Thực tiễn pháp lý của Áo, trong những hoàn cảnh như vậy, sẽ viện dẫn unwiderstehlicher Zwang (sự thôi thúc không thể cưỡng lại) và “tội phạm” sẽ nhận án treo hoặc được trả tự do. Khi người Đức đang chết cóng trong mùa đông năm 1945–1946, Hồng y Frings xứ Cologne đã nói với các tín hữu rằng trong hoàn cảnh đó, việc lấy cắp than không phải là tội lỗi, không phải là tội ác trong mắt Thiên Chúa. (Từ đó sinh ra cụm từ: Kohle fringsen, tức là lấy than theo kiểu của Frings).
Trong những tình huống nhất định, sự khác biệt giữa hai giới sẽ đặt ra những trở ngại trên con đường hướng tới sự bình đẳng trước pháp luật. Ví dụ, phụ nữ có thể quyết định mang thai và qua đó được nghỉ thai sản hưởng lương, trong khi đàn ông không thể làm điều này. Khi bộ bikini ngực trần trở thành một trào lưu vào năm 1964, một tờ báo Đức đã hài hước phản đối sự can thiệp của cảnh sát vì cho rằng đó là sự vi phạm Đạo luật Staatsgrundgesetz (“Luật Cơ bản” của nước Cộng hòa Liên bang) vốn mang đậm tính dân chủ và quân bình, nghiêm cấm mọi sự phân biệt đối xử giữa hai giới: Tại sao phụ nữ lại bị bắt buộc phải che phần thân trên của mình trong khi nam giới thì không? Chẳng phải Thiên Chúa đã tạo ra sự phân biệt về mặt thể chất giữa hai giới đó sao? Bình đẳng trước pháp luật có thể vô cùng bất công: minh chứng là câu ngạn ngữ nổi tiếng: Summum ius, summa iniuria (Luật pháp cứng nhắc tột cùng là sự bất công tột cùng). Thực vậy, công lý sẽ được thực thi tốt hơn nhờ nguyên tắc của Ulpian mà chúng ta đã trích dẫn trước đó: Suum cuique, mỗi người đều nhận được những gì xứng đáng với mình.
Một loại bình đẳng thứ ba được rất nhiều người viện dẫn: bình đẳng về cơ hội. Theo nghĩa hẹp của thuật ngữ này, nó không bao giờ có thể đạt được và thậm chí người ta không nên cố gắng đạt được nó. Sẽ khôn ngoan hơn nhiều nếu chúng ta yêu cầu xóa bỏ những sự phân biệt đối xử bất công, những sự phân biệt đối xử tùy tiện mà không có nền tảng “thực tế” vững chắc. Trong việc sử dụng lao động, chúng ta phải phân biệt được giữa người lành nghề và kẻ thiếu kinh nghiệm, người siêng năng và kẻ lười biếng, kẻ đần độn và người thông minh, v.v. Tuy nhiên, điều thú vị là có một xu hướng ở nhiều tổ chức công đoàn thường lên tiếng phản đối sự phân biệt đối xử chính đáng như vậy và khăng khăng đòi mức lương “không phân biệt” cùng với sự đảm bảo việc làm tuyệt đối. (Mặt khác, các công đoàn lại có một lịch sử tồi tệ về phân biệt chủng tộc – điều hiển nhiên là bất công – đặc biệt là ở Liên minh Nam Phi, nơi những “con người bình dân” có xu hướng phân biệt chủng tộc trong khi giới tư bản và các tập đoàn kinh doanh lớn lại “mù màu” về sắc tộc!)
“Sự phân biệt đối xử chính đáng” (Just discrimination), hay nói cách khác là “sự ưu tiên dựa trên thực tài”, đang vắng bóng một cách rõ rệt trong một quá trình mà ở xã hội chúng ta, nó có sức ảnh hưởng sâu rộng như một tấm gương thiêng liêng – đó là các cuộc bầu cử chính trị. Dù đó là một cuộc bầu cử dân chủ thực sự ở phương Tây hay một vở hài kịch trưng cầu dân ý ở phương Đông, thì nguyên tắc “mỗi người một lá phiếu” giờ đây đều được coi là điều hiển nhiên. Kiến thức, kinh nghiệm, công trạng, địa vị trong cộng đồng, giới tính, của cải, mức đóng thuế, hay hồ sơ quân sự của cử tri đều không có giá trị; điều duy nhất được tính đến chỉ là cái nguyên tắc “sinh học thuần ” về tuổi tác – người đó phải đủ 18, 21, hay 24 tuổi và vẫn còn “đi lại được” (on the hoof).
Một cô gái điếm 21 tuổi bán mù chữ và một vị giáo sư khoa học chính trị 65 tuổi – người đã mất một cánh tay trong chiến tranh, phải nuôi một gia đình lớn, gánh vác một khoản thuế khổng lồ và thực sự am hiểu những vấn đề chính trị mà ông được kỳ vọng sẽ bỏ phiếu – họ hoàn toàn bình đẳng về mặt chính trị với tư cách là những công dân. So với một sinh viên khoa học chính trị 20 tuổi, cô gái điếm nhỏ bé thân thiện của chúng ta thực tế lại được đánh giá cao hơn với tư cách là một cử tri. Do đó, người ta không nên ngạc nhiên nếu ở các “quốc gia mới nổi” – và thậm chí ở cả những quốc gia khác – việc biết chữ không phải là điều kiện bắt buộc để đi bầu. Chính chủ nghĩa quân bình này của cử tri đã sinh ra về mặt tâm lý (như chúng ta sẽ thấy ở phần sau) những quan niệm quân bình khác, và nó đã bị Giáo hoàng Pius XII, cùng nhiều người khác nữa, chỉ trích vô cùng gay gắt.
Hãy quay lại với khái niệm “Bình đẳng về cơ hội”. Theo một ý nghĩa cụ thể, ngay cả một chế độ bạo chúa toàn trị cũng không thể mang lại điều này, bởi vì không một quốc gia nào có thể ban sắc lệnh rằng một đứa trẻ khi chào đời phải có những “bậc cha mẹ bình đẳng”. Họ có thể bình đẳng với tất cả các bậc cha mẹ khác trong nước về mặt tài sản, nhưng liệu họ có trình độ sư phạm ngang nhau không? Họ có mang lại yếu tố di truyền giống nhau không? Họ có cung cấp cho con mình chế độ dinh dưỡng giống hệt như các bậc cha mẹ khác không? Tiếng gọi đòi hỏi một nền giáo dục giống hệt và bình đẳng đã được gióng lên hết lần này đến lần khác ở các nền dân chủ, dù là toàn trị hay hình thức khác, và sự tồn tại của các loại hình trường học khác nhau đã bị coi là “phi dân chủ”. Chính vì các bậc cha mẹ quá khác biệt (mỗi cuộc hôn nhân tạo ra một “chòm sao” khác nhau), những người theo chủ nghĩa quân bình đã ủng hộ không chỉ việc học tập cường độ cao mà còn cả hệ thống trường nội trú cho tất cả mọi người.
Trẻ em nên được đưa ra khỏi nhà và được giáo dục tập thể hai mươi bốn giờ một ngày. Đây hiện tại là xu hướng ở Liên Xô, nơi (nếu mọi thứ thực sự diễn ra theo đúng kế hoạch) hơn 90% trẻ em sau sáu tuổi sẽ vào học ở các trường nội trú sau năm 1980. (Điều này sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ sinh như thế nào lại là một vấn đề hoàn toàn khác.) Thế nhưng, ngay cả tất cả những biện pháp này cũng sẽ không bao giờ dẫn đến sự bình đẳng tuyệt đối về cơ hội trừ phi người ta cũng hoàn toàn phớt lờ đi sự thích hợp và tố chất cá nhân (khả năng, kỹ năng, v.v.). Nếu điều này xảy ra, một sự suy thoái chung trên mọi cấp độ sẽ bắt đầu.
Tuy nhiên, như Friedrich August von Hayek đã chỉ ra, một sự bình đẳng nhất định trong đối xử là điều cần thiết trong một xã hội tự do. Chỉ bằng cách đối xử bình đẳng với mọi người, chúng ta mới tìm ra được ai vượt trội hơn ai. Chúng ta phải đưa ra cùng một bài kiểm tra cho một nhóm để có thể phân loại các thành viên của nó. Chúng ta phải đảm bảo rằng những con ngựa trong một cuộc đua đều xuất phát từ cùng một vạch. Bằng cách đối xử bình đẳng với con người (chúng ta lại quay về với khái niệm trạng từ đã nhắc trước đó), chúng ta không hề biến họ thành những người bình đẳng. Đương nhiên, trong một xã hội tự do và cởi mở, nguyên tắc trọng tài (timocratic principle) sẽ chiếm ưu thế: Những người có năng lực hơn những người khác sẽ tiến thân nhanh hơn. “Danh dự trao cho người xứng đáng.” Không có gì phải nghi ngờ rằng từ góc độ lợi ích chung, vì công ích, một xã hội cởi mở là tốt nhất, bởi vì tài năng có cơ hội phát triển trong đó tốt hơn so với các xã hội bị chia rẽ bởi các đẳng cấp hay ranh giới phong kiến.
Bản chất của các rào cản giai cấp là chúng có thể bị vượt qua. Tuy nhiên, sẽ là một sai lầm lớn nếu nghĩ rằng sự vắng bóng của những trở ngại xã hội cố định sẽ làm tăng thêm hạnh phúc cá nhân. Người tư sản tài năng nhưng thất bại trong xã hội Pháp thời tiền Cách mạng luôn có một niềm an ủi rằng chính một hệ thống bất công (iniquitous) đã cản bước anh ta vươn lên đỉnh cao. Còn con người sống trong một xã hội tự do, nếu vấp ngã thì chỉ có hai con đường: hoặc tự dằn vặt bản thân (để rồi chìm vào nỗi u uất của những kẻ bị mặc cảm tự ti giày vò), hoặc chắc chắn sẽ quy chụp cho những âm mưu hoang tưởng rằng đó là do kẻ xấu và kẻ thù dựng lên.
Về mặt tâm lý, lập trường của anh ta (con người trong một xã hội tự do) giờ đây khó khăn hơn rất nhiều. Một xã hội có tính dịch chuyển cao đương nhiên sẽ mang lại rất nhiều sự mãn nguyện, nhưng theo đúng bản chất của vạn vật, nó còn mang đến nhiều nỗi thất vọng hơn thế. Trên thực tế, chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy rằng số lượng các chứng rối loạn tâm lý, “suy nhược thần kinh”, và tỷ lệ tự tử ở nam giới có xu hướng gia tăng cùng với sự dịch chuyển xã hội (cũng như với một yếu tố hoàn toàn khác: sự xói mòn của đức tin tôn giáo). Tuy nhiên, điều này không hề xóa bỏ đi tính ưu việt nội tại của một xã hội cởi mở so với một xã hội khép kín.
Chủ nghĩa quân bình, như chúng tôi đã từng ngụ ý, không thể tiến triển được bao nhiêu nếu không sử dụng vũ lực: Dĩ nhiên, sự bình đẳng hoàn hảo chỉ có thể tồn tại trong trạng thái nô lệ toàn diện. Vì tự nhiên (và tính tự nhiên, đồng nghĩa với việc không bị ràng buộc bởi các yếu tố nhân tạo) không hề có ác cảm ngay cả đối với những bất bình đẳng thô thiển nhất, nên người ta bắt buộc phải dùng đến vũ lực để thiết lập sự bình đẳng. Hãy tưởng tượng một lớp học bình thường ở một trường nội trú, nơi các học sinh được trời phú cho những tài năng, sở thích và khuynh hướng chăm chỉ khác nhau. Vị hiệu trưởng đầy quyền lực và độc đoán của trường khăng khăng yêu cầu tất cả học sinh trong lớp phải đạt điểm B ở một môn học nhất định. Điều này có nghĩa là những em đạt điểm C, D hay E sẽ bị bắt phải học nhiều hơn; một số em bị ép học nhiều đến mức kiệt sức. Sau đó, lại nảy sinh vấn đề với những học sinh đạt điểm A, những người mà người ta sẽ phải kìm hãm lại, bằng cách cho chúng uống những thứ đồ uống gây say hoặc nhốt chúng lại mỗi ngày cùng với những cuốn tạp chí Playboy hay The New Masses. Cách đơn giản nhất có lẽ là giáng những cú nện vào đầu chúng. Vũ lực sẽ phải được dùng đến, giống như cách mà bạo chúa Procrustes đã từng làm. Nhưng việc sử dụng vũ lực sẽ bị hạn chế và, trong hầu hết các trường hợp, sẽ hủy hoại tự do.
Một cảnh quan “tự do” có đồi núi và thung lũng. Để tạo ra một cảnh quan “quân bình”, người ta sẽ phải san phẳng các đỉnh núi và lấp đầy các thung lũng bằng đất đá. Để có một bờ giậu bằng phẳng, người ta phải cắt tỉa nó thường xuyên. Để cào bằng của cải (điều mà rất nhiều quốc gia “cấp tiến” ở cả hai bên Bức màn Sắt hiện đang làm), người ta sẽ phải trả “tiền công và tiền lương bằng nhau”, hoặc đánh thuế sạch phần thặng dư – cho đến mức những người kiếm được thu nhập cao hơn mức trung bình sẽ từ chối làm thêm việc. Vì đây thường là những người tài năng, có sức bền và giàu ý tưởng, nên sự từ chối của họ sẽ gây ra tác động làm tê liệt toàn bộ công ích.
Nói cách khác, có một sự đối kháng thực sự, một sự không tương thích, một sự loại trừ lẫn nhau giữa tự do và sự bình đẳng bị áp đặt. Đây là một tình huống kỳ lạ nếu chúng ta nhớ rằng trong tâm thức đại chúng, hai khái niệm này luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Liệu điều này chỉ đơn thuần là do Cách mạng Pháp đã chọn khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” – hay còn một lý do nào khác?
Ngoài cách diễn đạt đó ra, thực tế không có cơ sở nào cho tình trạng này ngoại trừ mối liên kết tâm lý mà chúng ta đã đề cập trước đó. Nếu A vượt trội hơn B – mạnh mẽ hơn, đẹp trai hơn, thông minh hơn, có thế lực hơn, giàu có hơn – thì B sẽ cảm thấy kém cỏi, khó chịu, và có lẽ thậm chí là sợ hãi A. Nếu chúng ta tán thành “Bốn Quyền Tự Do” nổi tiếng và chấp nhận khái niệm “Tự do khỏi Sự sợ hãi”, thì chúng ta có thể thấy những sự bất bình đẳng thực sự đã sinh ra nỗi sợ hãi như thế nào – cùng với sự đố kỵ, mặc dù đố kỵ hiếm khi được nhắc đến trong mối liên hệ này. Không cần phải bàn cãi, sợ hãi và đố kỵ là cặp anh em sinh đôi, nhưng thực ra chúng ta nên gọi chúng là anh em sinh ba mới phải, bởi vì sự hận thù luôn là người bạn đồng hành thân thiết của chúng.
Bất chấp mối liên kết tâm lý này, một bên là sự bình đẳng và bên kia là sự tự do lại hoàn toàn thù địch với nhau. Vì bình đẳng là yếu tố mang tính động lực trong nền dân chủ, trong khi tự do lại nằm ở nền tảng của chủ nghĩa tự do chân chính, nên hai khái niệm chính trị này thực chất không hề hòa hợp.
Nguyên tác: Leftism: from de Sade and Marx to Hitler and Marcuse, 1974, Arlington House
Bản dịch: Lê Lam Kiều
