Chủ nghĩa tả khuynh - Chương 6: Nguồn gốc lịch sử của tả phái
Các Tổ phụ Hành hương (Pilgrim Fathers) và những người Thanh giáo (Puritans) chắc chắn không phải là những người theo chủ nghĩa dân chủ hay chủ nghĩa tự do. John Winthrop đã tuyên bố rằng dân chủ là “hình thức chính quyền thấp hèn và tồi tệ nhất.” Ông cho rằng phần tốt đẹp nhất của nhân dân luôn luôn là phần ít nhất, và trong cái phần tốt đẹp nhất đó, những người thông thái hơn lại càng ít hơn nữa. John Cotton cũng thẳng thắn không kém: “Dân chủ, tôi không cho rằng Chúa từng ban định nó như một hình thức cai trị phù hợp cho cả giáo hội lẫn quốc gia. Nếu nhân dân là những kẻ cai trị, vậy thì ai sẽ là người bị cai trị? Còn về chế độ quân chủ và chế độ quý tộc, cả hai hình thức này đều được phê chuẩn và chỉ dẫn rõ ràng trong Kinh Thánh.”
Chính quyền của người Hà Lan tại New Amsterdam (New York) cũng không hề có bất kỳ đặc tính dân chủ nào. Hiến pháp Pennsylvania (Các Nhượng bộ của William Penn) có đôi chút tính chất dân chủ, nhưng chỉ những công dân tự do và những người sở hữu tài sản mới có quyền bỏ phiếu. Mặt khác, chỉ có Hiến pháp Pennsylvania mới có thể được gọi là mang tính tự do và nó đã duy trì được đặc tính đó. (Sự khoan dung tôn giáo ở Maryland, sau khi bị rúng động vào năm 1692, đã đi đến hồi kết vào năm 1715 khi những người Công giáo bị tước quyền bầu cử.) Chủ nghĩa dân chủ chắc chắn không có sức hút nào ở khu vực phía nam sông Potomac, và sau khi Mười ba Thuộc địa giành được độc lập, chỉ có duy nhất một bang có quyền bầu cử mang tính cào bằng – đó là Vermont, một bang mãi đến năm 1791 mới được sáp nhập vào Liên bang.
Dẫu vậy, không thể nghi ngờ rằng chính cuộc chiến tranh giành độc lập của Mỹ (vốn không phải là một cuộc cách mạng!) đã cung cấp động lực tâm lý chủ đạo cho Cách mạng Pháp. Tất nhiên, cũng có những trào lưu trí thức và chính trị khác góp phần làm nên Cách mạng Pháp. Trước hết, phải kể đến “tấm gương” của nước Anh, nơi thường xuyên được Voltaire viện dẫn một cách không biết mệt mỏi – người đã mang ơn rất nhiều từ quốc gia láng giềng phương bắc này của nước Pháp. Sau đó là tấm gương của Thụy Sĩ, một nơi cực kỳ phù hợp với khí chất lãng mạn của thời đại bấy giờ: một cộng đồng xinh đẹp, mộc mạc, được quản lý tốt, mang tính cộng hòa và tiến bộ nằm ngay trước ngưỡng cửa nước Pháp. Còn có những nhà bách khoa toàn thư (encyclopedists). Còn có Rousseau (đến từ Geneva!) và cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, Hầu tước de Sade, “Người ông” của nền dân chủ hiện đại.
Dẫu vậy, chúng ta phải nhớ rằng hình ảnh nước Anh, như cách Voltaire nhìn nhận và thấu hiểu, cũng như bức chân dung đậm chất đa cảm về Thụy Sĩ, có rất ít mối liên hệ với thực tế của hai quốc gia này. Liên bang Thụy Sĩ chỉ trở thành một nền dân chủ nhờ vào Hiến pháp năm 1878 của họ, và có thể lập luận rằng một số bang (canton) nhất định của Thụy Sĩ vẫn duy trì cơ cấu quả đầu – quý tộc (oligarchic-aristocratic) cho đến tận bình minh của thế kỷ này. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi “bức tranh lý tưởng hóa” (Image d’Épinal) thứ ba – Hợp chủng quốc Hoa Kỳ – lại là sự cám dỗ mê hoặc nhất trong tất cả, bởi vì chính sự xa xôi về mặt địa lý lại khiến nó trở thành một mồi nhử lớn hơn đối với những nhà cách mạng so với các nước láng giềng sát vách của Pháp. Việc diễn dịch về một quốc gia, một nền văn hóa và văn minh ngoại quốc, và trên hết, về một phong trào chính trị ngoại quốc, luôn chứa đầy những cạm bẫy.
Nói cách khác, mối liên hệ phả hệ (filiation) giữa cuộc Chiến tranh giành Độc lập của Mỹ và cuộc Cách mạng Pháp tồn tại về mặt hình thức, nhưng xét về khía cạnh tư tưởng và nội dung, chúng ta đang phải đối mặt với một sự hiểu lầm khổng lồ và thảm khốc.
Cần phải nhớ rằng cấu trúc chính trị và Hiến pháp của Hoa Kỳ có được là do nguyện vọng hàng đầu của Mười ba Thuộc địa: muốn thoát khỏi sự giám hộ và thống trị của “London” – cụ thể là của hai thiết chế nằm ở một thành phố cách đó xa xôi: Nghị viện và Vương quyền. Tại thời điểm đó, có lẽ không có một khả năng thực tế nào để [các thuộc địa] có được sự đại diện đích thực tại “Người mẹ của các Nghị viện”. Vị quân vương (người mà lúc đó thỉnh thoảng lại rơi vào trạng thái mất trí) rõ ràng có rất ít sự đồng cảm đối với những bất bình chính đáng của các thần dân bên kia đại dương. Thực tế là, về tổng thể, người dân nước Anh – ngoại trừ một số đảng viên Whig cấp tiến và một vài người Ireland (trong đó có Burke) – đều không hiểu người Mỹ, cũng chẳng đặc biệt quan tâm đến họ. Trong cuộc xung đột với các thuộc địa, người Anh đã thất bại về mặt thu phục nhân tâm và làm rất ít để trình bày những đòi hỏi tài chính (chắc chắn không hề bị phóng đại) của họ dưới góc độ hợp lý và công bằng. Tình hình trở nên thực sự nguy ngập khi khẩu hiệu “Không đóng thuế nếu không có đại diện!” vang lên.
Cả hai đòi hỏi này có lẽ đều chính đáng: khao khát của người Anh nhằm bù đắp một phần chi phí cho cuộc chiến vốn đã dẫn đến việc sáp nhập Canada, và sự đòi hỏi khăng khăng của người Mỹ về quyền được làm công dân đầy đủ của vương quốc. Những nguyện vọng xung đột này gần như chắc chắn – dù không phải là một điều tất yếu tuyệt đối – đã dẫn đến sự ly khai. Tuy nhiên, khi xem xét vấn đề một cách kỹ lưỡng hơn, người ta còn phát hiện ra những yếu tố khác. Đương nhiên, người ta có thể lập luận rằng nếu một vùng lãnh thổ muốn ly khai khỏi một vùng lãnh thổ khác đang nằm dưới sự cai trị của chế độ quân chủ, và không có một gia tộc địa phương nào đủ sức tuyên bố quyền thừa kế đối với một ngai vàng chưa từng tồn tại, thì việc thiết lập chính quyền cộng hòa là giải pháp duy nhất. Lập luận này thoạt nghe có vẻ hợp lý, nhưng lịch sử của 150 năm qua lại cho chúng ta thấy rằng thực tế không nhất thiết phải diễn ra như vậy.
Trong suốt thế kỷ mười chín và đầu thế kỷ hai mươi, các hình thức chính quyền cộng hòa – dân chủ nhìn chung bị coi là thấp kém về mặt bản chất – án mạng của Socrates và sự sụp đổ hỗn loạn của nền Cộng hòa La Mã vẫn hiện lên trong tâm trí những người châu Âu được thụ hưởng nền giáo dục cổ điển một cách sống động, y như những nỗi kinh hoàng của cuộc Cách mạng Pháp và tình trạng vô chính phủ đẫm máu ở Mỹ Latinh! – đến mức các cuộc ly khai đều kết thúc bằng việc thiết lập chế độ quân chủ (monarchical instaurations). Khi người Bỉ ly khai khỏi người Hà Lan, họ đã mời một vị vương công theo đạo Luther thuộc gia tộc Saxe-Coburg lên ngôi (và điều này diễn ra bất chấp thực tế rằng cuộc ly khai ấy phần lớn được thúc đẩy bởi những thù hằn tôn giáo). Vị tân vương này, Leopold I, đã đóng một vai trò quan trọng trên bình diện chính trị châu Âu. (Tất cả những điều này cho thấy rằng nền quân chủ Cơ Đốc giáo là một thiết chế mang tính quốc tế, liên chủng tộc và “đa nguyên” [diversitarian], chứ không phải là một thiết chế mang tính quốc gia, như bản chất vốn có của nền cộng hòa).
Khi người Na Uy chấm dứt “liên minh cá nhân” (personal union) với Thụy Điển vào năm 1905, họ đã mời Vương tử Charles của Đan Mạch, người sau đó đã lấy tước hiệu Haakon VII và cai trị đất nước này cho đến năm 1957. Thoát khỏi ách thống trị của người Thổ Nhĩ Kỳ vào thế kỷ mười chín, các quốc gia vùng Balkan trong hai trường hợp đã thiết lập được các vương triều bản địa (gia tộc Petrović-Njegoš ở Montenegro và gia tộc Karađorđević ở Serbia), nhưng người Hy Lạp, người Bulgaria và người Romania lại đi mời các vương công ngoại quốc về cai trị. Người Romania ban đầu đã thử nghiệm với một nhà cai trị bản địa, nhưng sau đó lại “nhập khẩu” gia tộc Hohenzollern theo Công giáo. Như chúng ta đã đề cập trước đó, các vương triều của Serbia và Montenegro là những vương triều bản địa có chủ quyền duy nhất ở châu Âu vào năm 1910.
Nói cách khác, việc thiết lập một nền cộng hòa Mỹ (trên thực tế, dù không phải trên danh nghĩa) không phải là một điều tất yếu. Mãi cho đến năm 1787, Nathan Gorham, Chủ tịch Quốc hội theo bản Hiến pháp cũ, cùng Bá tước von Steuben đã “âm mưu” thuyết phục Vương tử Henry của Phổ, em trai của Frederick II (tức Frederick “Đại đế”), đến Hoa Kỳ để đảm nhận chức vụ “thống đốc thế tập” (hereditary stadholder). Rõ ràng là nền Cộng hòa Hà Lan (chính thức được chuyển thành vương quốc vào năm 1815) đã được dùng làm hình mẫu. Các thống đốc (stadhouder) thuộc Gia tộc Oranje-Nassau phục vụ theo chế độ thế tập và mang tước hiệu “vương công” (prince) – một mô hình chính quyền hỗn hợp (regimen mixtum) thực thụ. Tuy nhiên, Vương tử Henry đã từ chối: ông có lẽ lo sợ rằng một “cuộc phiêu lưu” ở Mỹ như vậy có thể sẽ chết yểu.
Khoảng bốn mươi năm sau, khi Tướng San Martín gặp Simón Bolívar tại Guayaquil, ông đã khẩn khoản cầu xin “Đấng Giải phóng” (El Libertador) tìm kiếm một vương công châu Âu sẵn sàng trở thành người cai trị của châu Mỹ gốc Tây Ban Nha, nhưng Bolívar cự tuyệt thẳng thừng, khiến San Martín phải đi sống lưu vong với cõi lòng tan nát. Bi kịch của Mỹ Latinh bắt đầu từ thời điểm đó và đến nay vẫn chưa đi đến hồi kết. Các giải pháp quân chủ sau khi ly khai thành công không hề hiếm gặp, hoặc ít nhất, đã từng được nỗ lực thực hiện. Tờ The New York Gazette and Weekly Mercury viết vào ngày 23 tháng 4 năm 1770: “Xin Chúa đừng để chúng ta bao giờ phải khốn khổ đến mức sa sút thành một nền Cộng hòa.”
Một trong những tổ phụ lập quốc, Alexander Hamilton – có lẽ là người tài năng nhất trong số họ – đã tiếc nuối rằng Hoa Kỳ không thể trở thành một nền quân chủ. Van Buren nhìn nhận Hamilton là một người ủng hộ quân chủ, và chắc chắn đây là một nhận định hoàn toàn có cơ sở thực tế nếu xét đến những bài phát biểu của Hamilton tại Hội nghị Liên bang năm 1787 và 1788 ở New York. Hơn nữa, Francis Lieber đã chỉ ra rất đúng rằng Tuyên ngôn Độc lập thực chất không phải là một văn kiện chống quân chủ. Câu viết: “Một vị vương công mà tính cách được bộc lộ qua mọi hành vi có thể định nghĩa là của một bạo chúa, thì không xứng đáng làm người cai trị một dân tộc tự do” đơn thuần chỉ lên án George III, nhưng đồng thời, lại nói lên sự tôn trọng sâu sắc đối với vương quyền.
Người Mỹ trung bình ngày nay hẳn sẽ ngạc nhiên khi nghe thấy cụm từ “người cai trị một dân tộc tự do” – điều mà trong mắt họ là một sự nghịch lý tự thân (contradictio in adjecto). Nhưng qua những cách diễn đạt như vậy, chúng ta có thể nhận thấy một vài khía cạnh mang tính mâu thuẫn cao trong tính cách và tâm trí của Jefferson. Ông quả thực đứng gần với dòng chính của tư tưởng cánh tả Mỹ và xứng đáng nhận những lời phê phán gay gắt từ Hamilton. Nhưng mặt khác, ông cũng chính là người, trong một bức thư gửi Mann Page, đã gọi dân chúng là “đám đông bầy lợn” (swinish multitudes). Và Gouverneur Morris, đại diện cho phe cực hữu, đã viết cho Nathanael Green vào năm 1781 rằng: “Tôi sẽ đi xa hơn thế; tôi không có hy vọng nào rằng Liên bang của chúng ta có thể tồn tại ngoại trừ dưới hình thức một nền quân chủ chuyên chế.”
Tới đây, mọi lập luận dường như vẫn xác đáng. Tuy nhiên, chúng ta sẽ tự huyễn hoặc mình nếu cho rằng ở Mười ba Thuộc địa không hề tồn tại tâm lý chống quân chủ hay thậm chí là khuynh hướng cánh tả mạnh mẽ nào. Trước đó, chúng ta đã đề cập đến những truyền thống tôn giáo và chính trị tại các thuộc địa – vốn bắt nguồn rõ rệt từ chủ nghĩa Độc lập (independentism) của nước Anh. Cuộc nội chiến ở Anh và sự đối đầu giữa phe Jacobite và phe Hanover cũng để lại dấu ấn sâu đậm tại Bắc Mỹ. Sự kết tinh chính trị của đời sống nghị viện Anh với hai phe phái là Đảng Tory và Đảng Whig cũng không phải là ngoại lệ. Thuật ngữ “Whig” ban đầu mang sắc thái của người Scotland và Giáo hội Trưởng lão (Presbyterian), ẩn chứa những âm hưởng cộng hòa và đồng thời ngụ ý sự khoan dung đối với những người Bất đồng Giáo kiến (Dissenters). Trong khi đó, từ “Tory” có gốc gác Ireland, biểu thị lòng trung thành với nhà Stuart cũng như những khuynh hướng “thân Giáo hoàng” (Popish). Ban đầu, đây chỉ là những biệt danh, nhưng sau đó chúng đã trải qua một quá trình tiến hóa nhất định. Hơn nữa, phe Whig có mối liên hệ với phái Đầu tròn (Roundheads), còn phe Tory lại có liên hệ với phái Hiệp sĩ Bảo hoàng (Cavaliers).
Tuy nhiên, đến giữa thế kỷ mười tám, có một thực tế rõ ràng là đảng Tory đã trở thành đảng của các đặc quyền vương thất, của tầng lớp quý tộc nhỏ có khuynh hướng nương tựa triều đình (aulic leanings), và của giới tu sĩ thuộc Giáo hội Quốc giáo (Established Church); trong khi đó, đảng Whig đại diện cho tầng lớp quý tộc sở hữu đất đai rộng lớn, giàu có và có tư tưởng độc lập. Do đó, chính đảng Whig, chứ không phải đảng Tory, mới là đảng đại diện cho tinh thần quý tộc. Cách mạng Pháp đã phần nào che khuất thực trạng này khi tạo ra một liên minh kỳ lạ giữa vương quyền và giới quý tộc – những thế lực vốn là đối thủ cạnh tranh của nhau trong suốt phần lớn lịch sử châu Âu. Rõ ràng là một tầng lớp quý tộc đích thực không bao giờ ủng hộ một nền quân chủ chuyên chế hoặc có quyền lực quá mạnh tay, trừ phi vị quân vương ấy, với tư cách là “người đứng đầu trong số những người bình đẳng” (primus inter pares), chỉ đơn thuần đóng vai trò là người thực thi ý chí của giới quý tộc. “Und der König absolut, wenn er unsren Willen tut!” (Nhà vua có thể chuyên chế ,miễn là ngài làm theo ý chúng ta!)
Các nhà quý tộc thường mang tinh thần cộng hòa một cách triệt để: Trong một chế độ quân chủ, giới quý tộc chỉ có thể đóng vai trò thứ yếu dưới trướng nhà vua, trong khi các nền cộng hòa lại thường mang đặc tính quý tộc độc tôn. Điều này đặc biệt đúng với các nền cộng hòa cổ đại như Venice và Genoa, cũng như với một số bang-thành phố (city-cantons) của Thụy Sĩ. Liên quan đến điều này, cần nhớ rằng các quân vương, thông qua đặc quyền phong tước quý tộc (power to nobilitate), luôn luôn (hoặc đúng hơn là đã từng) có khả năng thúc đẩy quá trình dịch chuyển xã hội, và trên thực tế, họ đã hành động để chống lại tính khép kín độc quyền của giới quý tộc. Do đó, các nền cộng hòa quý tộc (đôi khi bị chi phối bởi một tầng lớp danh gia vọng tộc không có tước vị [patriciate], và thậm chí tính khép kín của họ còn cao hơn cả nhiều tầng lớp quý tộc có tước vị!) thường là những quốc gia mang tính trì trệ và bảo thủ cao độ. Không cần phải bàn cãi, Geneva thuở xưa là một thành phố hẹp hòi và bảo thủ (hidebound) hơn rất nhiều so với, chẳng hạn, Munich, Berlin, hay thậm chí là St. Petersburg.
Vào khoảng cuối thế kỷ mười tám, chúng ta chứng kiến sự chia rẽ giữa phe Whig Mới (New Whigs) và phe Whig Cũ (Old Whigs) tại Anh, một sự tiến hóa không hề diễn ra ở Bắc Mỹ. Rõ ràng là ở Tây Bán cầu, những người phái Whig chính là những kẻ chỉ trích vương quyền và, do đó, chỉ trích mối liên kết với nước Anh. Còn phe Tory một lần nữa lại đóng vai trò là “phe Trung thành” (Loyalists), giống như họ ở Ireland vào thế kỷ mười bảy và đầu thế kỷ mười tám. Người phái Whig là những người thường xuyên được truyền cảm hứng bởi một số quan niệm cộng hòa: họ cảm thấy mình “cũng chẳng kém gì Nhà vua” và họ chính là những người đã thực hiện cuộc Chiến tranh Giành Độc lập chống lại nước Anh, chống lại phe Tory… chống lại phe Tory ở cả hải ngoại lẫn trong nước.
Chính nhờ ngòi bút của Kenneth Roberts – người không chỉ là một tiểu thuyết gia giỏi mà còn là một nhà sử học nghiệp dư hàng đầu – mà qua tiểu thuyết Oliver Wiswell của ông, chúng ta có một bức tranh vô cùng “sống động” về khía cạnh nội chiến của cuộc Chiến tranh giành độc lập của Mỹ: một cuộc nội chiến giữa phe Whig và phe Tory. Đúng như dự đoán, cuộc đấu tranh này cũng có những nét tương đồng và âm hưởng vang vọng tại Anh, nơi những người phái Whig, theo một cách khá thiếu tinh thần yêu nước, đã không thể che giấu niềm hoan hỉ trước chiến thắng của những đồng đạo chính trị (political coreligionists) của mình ở Mỹ.
Và bởi vì người phái Whig mới là kẻ quý tộc đích thực, cuộc Chiến tranh Giành Độc lập của Mỹ – vốn không hề mang đặc tính của một cuộc cách mạng thực sự – đã tìm thấy một sự hưởng ứng thân thiện, nếu không muốn nói là nồng nhiệt, từ giới quý tộc châu Âu. Họ sớm kéo sang Bắc Mỹ làm tình nguyện viên, trong đó đông đảo nhất là người Pháp – những người chưa bao giờ quên những năm tháng của cuộc nổi dậy Fronde và lúc này đang thấm nhuần các tư tưởng tự do.
Và quả thực, nếu ai đó ghé thăm thủ đô của Hoa Kỳ, ngay tại trung tâm Quảng trường Jackson, đối diện Điện Nhà Trắng, người đó sẽ nhìn thấy bức tượng cưỡi ngựa của Andrew Jackson, biệt danh “Old Hickory” (Cây Cùng già), vị tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ dám tự nhận mình là một người theo chủ nghĩa dân chủ. Tuy nhiên, ở bốn góc của quảng trường có bốn bức tượng dành riêng cho các nhà quý tộc châu Âu đã đến Mỹ để chiến đấu cho tự do, nhưng chắc chắn không phải cho chủ nghĩa dân chủ: Tadeusz Kościuszko, von Steuben, Bá tước de Rochambeau và Hầu tước de Lafayette. Vị quý tộc người Ba Lan Kazimierz Pułaski, vị tướng duy nhất của Liên quân hy sinh trong chiến trận, có tượng kỷ niệm tại Savannah, Georgia; nhưng người quả cảm và đặc trưng nhất trong số họ, Charles-Armand Tuffin, hầu tước de la Rouërie (người mà chúng ta sẽ đề cập sau), lại không hề được tưởng niệm theo bất kỳ hình thức nào. Jean de Kalb (“Bá tước de Kalb”) cũng được vinh danh ở nhiều nơi trên khắp nước Mỹ, nhưng tước vị quý tộc của ông lại có nguồn gốc khá giả mạo.
Do đó, nền tảng của nền cộng hòa Mỹ mang tính quý tộc và mang đậm đặc tính của phái Whig. Như chúng ta đã chỉ ra, điều này, tuy nhiên, không hề mâu thuẫn với một tâm lý chống quân chủ. Hơn nữa, truyền thống chống quân chủ của Hoa Kỳ có rễ sâu bền vững. Nó có lẽ đã tăng lên chứ không giảm đi theo năm tháng, và đã tác động đến chính sách đối ngoại của Mỹ theo một cách thức tai hại nhất – tai hại cho những đối tượng gánh chịu nó, và tai hại cho chính lợi ích bản thân của nước Mỹ. Chủ nghĩa chống quân chủ, như chúng ta sẽ thấy, đã tiêu tốn hàng tỷ đô la không thể đếm nổi và, điều còn đau lòng hơn nhiều, hàng ngàn hàng ngàn sinh mạng người Mỹ – những nạn nhân của một mảng truyền thuyết dân gian Mỹ được kích hoạt và làm trầm trọng thêm bởi những định kiến và tuyên truyền cánh tả.
Dẫu vậy, hệ tư tưởng phái Whig (Whiggery) không phải là nguồn cội duy nhất của tâm lý cộng hòa ở Mười ba Thuộc địa trước năm 1776. Chúng ta tìm thấy tâm lý này như một thứ cảm thức tiềm ẩn được nuôi dưỡng bởi các tôn giáo khác ngoài Giáo hội Anh (Church of England) – đặc biệt là ở những người thuộc Giáo hội Tự trị giáo đoàn (Congregationalists), Giáo hội Trưởng lão (Presbyterians), có lẽ ngay cả Giáo hội Cải cách Hà Lan (Dutch Reformed), phái Quaker và phái Nhất thể (Unitarians). Toàn bộ truyền thống của những người phái Độc lập (Independents – gắn liền với Khối thịnh vượng chung của Cromwell) không chỉ bài xích Công giáo một cách dữ dội (và bài xích Anh giáo ở mức độ vừa phải) mà còn mang tính chống tôn ti trật tự (antihierarchical) và do đó, cũng chống quân chủ.
John C. Miller đã nhấn mạnh đến tính hiệu quả của mối thâm thù đan xen giữa sự bài xích Công giáo và bài xích quân chủ này – một sự thù hằn đặc biệt mạnh mẽ ở vùng New England trong những năm trước cuộc Chiến tranh Giành Độc lập, và chúng ta thậm chí có thể trích lọc được những tài liệu còn thú vị hơn từ cuốn The Protestant Crusade 1800-1860 của Ray Allen Billington. Về tâm lý bài Công giáo, Billington trích dẫn cuốn History of My Own Time của Daniel Barber như sau: “Cảm giác này vẫn mạnh mẽ xuyên suốt giai đoạn đầu của cuộc Cách mạng đến mức Chủ tịch Đại học Princetown [John Witherspoon] tin rằng lòng căm thù chung đối với ‘chủ nghĩa Giáo hoàng’ (Popery) do Đạo luật Quebec gây ra là thứ duy nhất đã gắn kết các nhóm tôn giáo phân kỳ ở các thuộc địa lại với nhau đủ chặt chẽ để cho phép họ tiến hành chiến tranh, một quan điểm cũng được các quan sát viên người Anh chia sẻ.”
Trên thực tế, Đạo luật Quebec – đạo luật trao quyền khoan dung tôn giáo cho những người Canada gốc Pháp – qua một sự vặn vẹo lập luận kỳ lạ nào đó, lại bị coi là một mối đe dọa lớn đối với tự do. Kết quả là, bài vè sau đây đã được hát vang trong thời kỳ Cách mạng:
Nếu những tín đồ Công giáo Pháp (Gallic Papists) có quyền
Được hành đạo theo cách của riêng chúng,
Thì xin vĩnh biệt tự do
Của nước Mỹ đáng thương này.
Đã nảy sinh một sự nghi ngờ rằng George III (người đã từng kiên quyết chống lại việc giải phóng những người Công giáo) đã bí mật cải đạo thành người Công giáo: rốt cuộc thì, các nhà vua ắt hẳn phải ngưỡng mộ các giáo hoàng, và các giáo hoàng sẽ ủng hộ các nhà vua. Trong bài thơ trào phúng McFingal, John Trumbull đã buộc tội nhà vua bằng những lời lẽ như sau:
Mặc cả với các giáo hội La Mã
Để mua lấy quyền vạn thế vô ngộ (Infallibility).
Mở toang cánh cửa cho chủ nghĩa Giáo hoàng,
Kết giao với con điếm đỏ của thành Babel.
Những lời buộc tội này, dẫu vô căn cứ, về mặt tâm lý lại không hề thiếu cơ sở, bởi lẽ truyền thống Công giáo vốn là một dạng chính quyền hỗn hợp (mixed government) do một nhà cai trị mang tính quân chủ đứng đầu. Tuy nhiên, ngay cả cho đến ngày nay, bất chấp một thực tế là phần lớn các quốc gia “Tin Lành” (Protestant) ít nhất vẫn đang được cai trị trên danh nghĩa biểu tượng bởi các quân vương, “phương trình” Công giáo – quân chủ (Catholic-monarchic equation) vẫn tiếp tục tồn tại một cách kỳ diệu tại Hoa Kỳ. Đây là một lập luận thường được những kẻ bài Công giáo chuyên nghiệp sử dụng, gây ra không ít sự bực dọc cho một bộ phận người Công giáo Mỹ – những người, vì muốn được coi là “dân Mỹ 200%”, đã quyết tâm chứng minh rằng mọi tín đồ Công giáo ngoan đạo đều phải là một người theo chủ nghĩa cộng hòa dân chủ. Họ hiếm khi nhận ra rằng những nỗ lực tuyệt vọng này chẳng mang lại cho họ bao nhiêu sự tôn trọng về mặt trí thức từ những người hiểu biết. Những ai dấn thân vào “thần học chính trị” (political theology) hầu như luôn luôn cố gắng chứng minh quá nhiều.
Mặc dù chúng ta phải ghi nhớ rằng ở Mười ba Thuộc địa đã từng tồn tại tâm lý chống quân chủ và đôi khi là những cảm thức thậm chí có thể được gọi là mang tính cào bằng (egalitarian), chúng ta vẫn phải nhìn nhận nền Cộng hòa Mỹ non trẻ như một thực thể chính trị (polity) mang đậm tính phái Whig – hay nói cách khác, mang đặc tính quý tộc. Người ta không bao giờ nên quên rằng thuật ngữ “dân chủ” không hề xuất hiện trong Tuyên ngôn Độc lập lẫn Hiến pháp, và thậm chí cả danh từ “cộng hòa” cũng không thể được tìm thấy trong hai văn kiện này. Hiến pháp chỉ đơn thuần nhấn mạnh rằng các bang thành viên của Liên bang phải có một hình thức chính quyền mang tính “cộng hòa” (republican form of government).
Và thực tế, nếu chúng ta phân tích Hiến pháp Hoa Kỳ, chúng ta sẽ thấy rằng, trong hình thức nguyên thủy của nó, nó có thể được coi là một nỗ lực nghiêm túc nhằm thiết lập một chính quyền hỗn hợp hội tụ các yếu tố dân chủ, quý tộc và quân chủ – một chính quyền của cơ chế kiểm soát và đối trọng (checks and balances). Nếu ba yếu tố này có thể bắt nguồn sức mạnh từ các nguồn khác nhau, thì nỗ lực đó có thể được coi là thành công.
Trên thực tế, Hiến pháp đã cung cấp nền tảng cho một nền cộng hòa (hay một thực thể chính trị – polity) thay vì một chính quyền hỗn hợp (regimen mixtum); thế nhưng, kể từ khi mới ra đời, nền Cộng hòa Mỹ đã liên tục phải hứng chịu những ảnh hưởng dân chủ hóa về mặt hiến pháp – sự phụ thuộc của các đại cử tri vào người bỏ phiếu, việc bầu cử trực tiếp các thượng nghị sĩ, thậm chí là tu chính án giới hạn hai nhiệm kỳ, nguy cơ sắp xảy ra của việc bầu cử trực tiếp Tổng thống, v.v. Các bản hiến pháp cộng hòa cũ hơn (và mang tính dân chủ mạnh mẽ hơn) không hề thiết lập chức vụ tổng thống – không có nguyên thủ quốc gia lẫn người đứng đầu chính phủ. Chẳng hạn, “Tổng thống” Thụy Sĩ thực chất chỉ là chủ tịch hội đồng các bộ trưởng nội các (bảy Ủy viên Hội đồng Liên bang) do cả hai Viện của Nghị viện bầu ra. Vị này chỉ được bầu cho một nhiệm kỳ duy nhất kéo dài một năm. Chân dung của vị này không được treo trong các tòa nhà công cộng, thay vào đó là chân dung của vị đại tá chỉ huy. (Chỉ trong những thời kỳ tổng động viên, Thụy Sĩ mới có một vị tướng lĩnh).
Các Tổ phụ Lập quốc, với tư cách là những trí thức của thời đại mình, đã bác bỏ thẳng thừng nền dân chủ, và điều này càng trở nên dữ dội hơn khi sự đàn áp toàn trị trở thành đặc điểm chi phối của Cách mạng Pháp. (Người Mỹ hiện đại cũng quá dễ dãi quên đi rằng Cách mạng Pháp, và sau này là chế độ Napoleon, đã sát hại hoặc lưu đày ba vị cha đỡ đầu của nền cộng hòa Mỹ – các vị vua của Pháp và Tây Ban Nha cùng với Thống đốc [Stadhouder] của Hà Lan). George Washington, Điền chủ vùng Mount Vernon, tuyệt nhiên không phải là một người theo chủ nghĩa dân chủ. Và John Adams, vị Tổng thống thứ hai của Hoa Kỳ, mặc dù ông đã định hình nền dân chủ một cách khá nghiêm ngặt, lại không có gì ngoài sự căm ghét và khinh miệt đối với hình thức chính quyền này.
Chỉ có họ hàng xa với Samuel Adams ở Boston – một người vốn có chút khuynh hướng kích động quần chúng (rabble rouser), nếu không muốn nói là một người cánh tả sơ khai – John Adams là một nhà quý tộc (patrician) thực thụ với một nhân sinh quan mang đậm tính quý tộc. Ông nhận thấy sự quyến rũ gần như nhuốm màu thần bí mà dòng máu hoàng gia tạo ra được đặt nền móng trên sự chú ý chung mà nó thu hút. “Dòng máu cao quý,” ông viết trong tác phẩm Discourses on Davila – vốn gây ra một làn sóng phản đối dữ dội trong phe cánh tả non trẻ của Mỹ lúc bấy giờ, “cho dù giới quý tộc là thế tập hay do bầu cử, và thực tế là, [điều này xuất hiện] ở các chính quyền cộng hòa nhiều hơn ở các nền quân chủ, và ít nhất là ở các chế độ chuyên chế, luôn được trọng vọng vì cùng một lý do.” (Phần in nghiêng của tôi.)
Thực tế là, ông coi một niềm tin dân chủ mang âm hưởng cào bằng là một dấu hiệu của sự non nớt. Jefferson kể cho chúng ta nghe về một cuộc trò chuyện giữa Tiến sĩ Ewen và John Adams, trong đó vị tiến sĩ thông báo với Tổng thống rằng ông có một người con trai út là “người dân chủ” và một người con trai cả là “người quý tộc”. “Chà,” Tổng thống đáp, “một cậu bé mười lăm tuổi mà không phải là một người dân chủ thì chẳng làm nên trò trống gì, và nếu đến hai mươi tuổi mà cậu ta vẫn là một người dân chủ thì cũng chẳng khá khẩm hơn.”
Tuy nhiên, khi John Adams đi vào phán xét nền dân chủ với đúng bản chất của nó, sự phê phán của ông trở nên mạnh mẽ hơn nhiều. Trong một bức thư gửi John Taylor, Adams nhấn mạnh rằng nền dân chủ chắc chắn sẽ tiến hóa thành chế độ quả đầu (oligarchy), và chế độ quả đầu sẽ tiến hóa thành chế độ chuyên chế (despotism) – một quan niệm mà rõ ràng ông đã chia sẻ cùng với Plato và Aristotle. Ông đánh đồng thẳng thừng nền dân chủ với sự ngu muội và khẳng định rằng: “ngay khoảnh khắc bạn trao tri thức cho một kẻ dân chủ, bạn đã biến anh ta thành một nhà quý tộc.”
Trong tác phẩm A Defence of the Constitution of the Government of the United States (Lời biện hộ cho Hiến pháp Chính phủ Hoa Kỳ), ông viết: “Nền dân chủ, nền dân chủ đơn thuần, chưa bao giờ có một người bảo trợ nào trong giới học giả (men of letters). Nhân dân hầu như luôn luôn kỳ vọng được phục vụ miễn phí, và được trả tiền cho vinh dự phục vụ họ; còn những tràng pháo tay và sự tôn sùng của họ thì lại thường xuyên được ban phát cho những thủ đoạn và mánh khóe, cho thói đạo đức giả và sự mê tín, cho những lời xu nịnh, những khoản hối lộ và của bố thí (largesses).”
Trong cùng tác phẩm đó, ông viết rằng “chúng ta có thể viện dẫn mọi trang lịch sử . . . để tìm kiếm những bằng chứng không thể chối cãi rằng dân chúng, khi không bị kiềm chế, cũng bất công, chuyên chế, tàn bạo, dã man và độc ác như bất kỳ vị vua hay thượng viện nào nắm trong tay quyền lực không thể kiểm soát. Phe đa số đã vĩnh viễn và không có bất kỳ ngoại lệ nào tước đoạt quyền lợi của phe thiểu số.” Và ông nói thêm trong một đoạn khác: “Tất cả các mô hình chính phủ được hình thành dựa trên giả định về sự cảnh giác, khôn ngoan, đức hạnh và kiên định liên tục của người dân, khi họ nắm giữ quyền hành tối cao, đều là những trò lừa bịp và ảo tưởng.” Điều này hoàn toàn phù hợp với nhận xét của ông: “Mệnh đề cho rằng nhân dân là những người bảo vệ tốt nhất cho quyền tự do của chính họ là không đúng sự thật. Họ là những người bảo vệ tồi tệ nhất có thể tưởng tượng được, thực chất họ hoàn toàn không phải là người bảo vệ: họ không thể phán xét, hành động, suy nghĩ hay thể hiện ý chí với tư cách là một thực thể chính trị. 67 Các cá nhân đã từng tự chinh phục được chính mình: nhưng các quốc gia và các nhóm đông người thì không bao giờ.” Adams đã nã loạt đại bác nặng nề nhất vào nền dân chủ cũng trong tác phẩm này khi ông đưa ra mười hai điểm, trong đó chúng tôi chỉ trích dẫn một vài điểm:
-
Không có nền dân chủ nào từng hoặc có thể tồn tại….
-
Rằng không có tình yêu sự bình đẳng nào, ít nhất là kể từ sự sa ngã của Adam, từng tồn tại.
-
Rằng không có tình yêu sự tiết kiệm nào từng tồn tại như một niềm đam mê, mà luôn luôn như một đức hạnh.
-
Rằng do đó nền dân chủ của Montesquieu … [chỉ là] tất cả những mảnh vụn của trí óc, một trí tưởng tượng huyễn hoặc.
-
Rằng niềm đam mê yêu mến nền dân chủ của ông ấy, đối với các thành viên phe đa số, sẽ chỉ là tình yêu dành cho phe đa số….
-
Rằng trên thực tế, từ dân chủ không có nghĩa gì hơn cũng không kém hơn là một quốc gia hay một dân tộc hoàn toàn không có bất kỳ chính phủ nào….
Và trong một bức thư gửi Jefferson, ông khẳng định rằng “Nền dân chủ sẽ đố kỵ với tất cả, tranh giành với tất cả, nỗ lực lật đổ tất cả, và khi tình cờ nó chiếm được thế thượng phong trong một thời gian ngắn, nó sẽ mang tính thù hằn, đẫm máu và tàn ác.” 27 John Adams thấy rõ rằng tài sản tư nhân về cơ bản bị đe dọa bởi nền dân chủ, thứ hầu như luôn nằm trong tay tầng lớp thấp hơn và đông đảo hơn rất nhiều dưới đáy tháp xã hội. Trong bức thư gửi John Taylor, ông nói thêm: “Nếu ngài trao cho những người theo chủ nghĩa dân chủ nhiều hơn một phần trong quyền tối thượng, tức là, nếu ngài trao cho họ quyền chỉ huy hoặc sự áp đảo trong quyền tối thượng, tức là cơ quan lập pháp, họ sẽ bỏ phiếu tước đoạt toàn bộ tài sản khỏi tay những người quý tộc như các ngài, và nếu họ để cho các ngài giữ lại mạng sống, thì đó đã là sự nhân đạo, sự thấu hiểu và sự rộng lượng lớn lao hơn bất kỳ nền dân chủ chiến thắng nào từng thể hiện kể từ thuở khai thiên lập địa.”
Madison, Tổng thống thứ tư của Hoa Kỳ, cũng có những nỗi lo sợ tương tự về nền dân chủ, điều này thể hiện rõ trong bức thư ông gửi cho Jared Sparks, trong đó ông nói rằng luật pháp phải “có khả năng bảo vệ quyền sở hữu tài sản trước tinh thần dân chủ.” Dĩ nhiên, Madison đã phân biệt giữa dân chủ thuần túy và tinh thần dân chủ. Dân chủ thuần túy đối với ông là dân chủ trực tiếp, như có thể thấy qua các định nghĩa của ông trong các bài luận Federalist (Người theo chủ nghĩa liên bang), số 10 và số 14. Tuy nhiên, E. M. Burns đã đúng khi nhận định rằng “thay vì bảo vệ chủ quyền tuyệt đối của đa số, Madison lại chán ghét nó đến mức ông đã tìm mọi cách có thể tưởng tượng ra để ngăn chặn việc thực thi nó.” Madison cũng không phải là một người theo chủ nghĩa bình quân. Trong một bức thư gửi Edmund Randolph, ông thừa nhận rằng “có những vấn đề mà năng lực của phần lớn nhân loại là không đáp ứng được, và trong những vấn đề đó, họ phải và sẽ được cai trị bởi những người mà họ tình cờ quen biết và tin tưởng.” Điều này khác xa với quan điểm của Andrew Jackson, người đã nói trong thông điệp thường niên đầu tiên của mình rằng “nhiệm vụ của tất cả các cơ quan công quyền… vô cùng rõ ràng và đơn giản đến mức những người có trí tuệ có thể dễ dàng tự trang bị cho mình đủ năng lực để thực hiện chúng.”
Cho đến cuối thế kỷ 19, một đảng viên Cộng hòa Mỹ (với chữ “R” viết hoa) sẽ không bao giờ gọi đất nước của mình là một “Nền dân chủ” mà đúng hơn là một “nước cộng hòa đại diện”. Tuy nhiên, trong các quan điểm chính trị cơ bản của mình, Madison dường như chịu ảnh hưởng của Jefferson nhiều hơn là của Hamilton. Thế nhưng, nếu chúng ta tính đến cách Madison đề cập đến các quan điểm quân chủ của Hamilton cũng như sự dè dặt của Hamilton đối với chế độ cộng hòa trong Hội nghị Philadelphia, chúng ta có thể ngờ rằng Madison đã có những sự đồng tình nhất định với những quan điểm đó.
Người ta thường nghe người Mỹ so sánh “nền dân chủ kiểu Jefferson” với “nền dân chủ kiểu Jackson.” Nhưng câu hỏi vẫn còn đó là liệu vị Tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ có thực sự là một người tin tưởng vững chắc vào nền dân chủ hay không. Tiến sĩ Mortimer Adler nói đúng hơn là sai khi ông cho rằng “bình minh của nền dân chủ Mỹ thực sự bắt đầu với Jackson.” Và khi đọc kỹ các ấn bản Washington và Ford về các Tác phẩm của Jefferson, người ta chỉ tìm thấy một sự ám chỉ tích cực duy nhất đến các thuật ngữ “người theo chủ nghĩa dân chủ” và “nền dân chủ”. Thực ra, trong một bức thư viết cho Lafayette, Jefferson khăng khăng rằng Hiến pháp năm 1791 sẽ phát huy tác dụng ở Pháp, với điều kiện là nó phải được giữ trong khuôn khổ của một chế độ quân chủ lập hiến. Dù vậy, Jefferson đã có một ý niệm cường điệu về phẩm chất của người dân Mỹ (chỉ được thay đổi đôi chút trong những năm tháng cuối đời) khi ông viết rằng “nếu tất cả các vị vua chúa ở Châu Âu bắt tay vào việc giải phóng tâm trí của thần dân khỏi sự thiếu hiểu biết và định kiến hiện tại… thì một ngàn năm nữa cũng không thể đưa họ lên được vị thế cao cả mà dân tộc chúng ta đang bắt đầu vươn tới.”
Nhưng để hiểu Jefferson một cách đầy đủ hơn — điều không hề dễ dàng — chúng ta phải nhớ rằng ông là một người lãng mạn theo chủ nghĩa trọng nông, tin tưởng vào những phẩm chất và đức hạnh cao quý của tầng lớp nông dân tự do. Ngôn từ của một trong những người họ hàng của ông, John Randolph vùng Roanoke (người đã phát biểu tại Hội nghị Hiến pháp Virginia: “Tôi là một kẻ quý tộc: Tôi yêu tự do, tôi ghét bình đẳng.”) chắc chắn không phải là ngôn từ của Jefferson.
“Những người lao động trên đất đai,” Jefferson đã viết, “là những người được Chúa chọn, nếu như Ngài thực sự có những người được chọn.” Gửi cho Madison, ông viết: “Tôi nghĩ rằng chính phủ của chúng ta sẽ giữ được sự đức hạnh trong nhiều thế kỷ, miễn là nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, và điều này sẽ kéo dài chừng nào còn đất trống ở bất kỳ vùng nào của châu Mỹ. Khi họ dồn ứ lên nhau như ở các thành phố lớn của châu Âu, họ sẽ trở nên hủ hóa như ở châu Âu.” Vì Jefferson xuất hiện trong truyền thống dân gian của phe cánh tả Mỹ – vào những năm 1930 và 1940 đã có một Trường Jefferson do những người cộng sản điều hành ở New York – nên khá thú vị khi nhớ lại những gì vị chủ nô của trang trại Monticello nghĩ về tầng lớp lao động thành thị. “Đám đông ở các thành phố lớn đóng góp vào việc hỗ trợ cho một chính phủ trong sạch cũng giống như các vết lở loét đóng góp vào sức mạnh của cơ thể con người,” ông đã viết cho John Jay vào năm 1785. Và sau đó ông thú nhận: “Tôi coi tầng lớp thợ thủ công là những kẻ dắt mối cho sự đồi dụy, và là công cụ khiến cho các quyền tự do của đất nước thường bị biến chất.” Trong một bức thư gửi John Adams, khi nói về Hoa Kỳ và sử dụng cùng một ngôn ngữ “phản động”, ông khẳng định rằng “mọi người, nhờ vào tài sản của mình hoặc nhờ vào hoàn cảnh thỏa đáng của mình, đều quan tâm đến việc duy trì trật tự và pháp luật. Và những người như vậy có thể dành riêng cho mình quyền kiểm soát lành mạnh đối với các công việc chung của họ một cách an toàn và có lợi, cùng một mức độ tự do mà nếu rơi vào tay tầng lớp hạ lưu của các thành phố châu Âu, sẽ ngay lập tức biến thành sự sụp đổ và phá hủy mọi thứ thuộc về công cộng.”
Vậy ông đã hy vọng điều gì? Ai mới thực sự nên cai trị? Trong cùng bức thư đó, Jefferson đã chứng tỏ mình là một người theo chủ nghĩa tài trị (timocrat) thực sự: “Tôi coi giới quý tộc tự nhiên là món quà quý giá nhất của tự nhiên dành cho việc chỉ dẫn, sự tin tưởng và việc quản trị xã hội. Và quả thực, sẽ là mâu thuẫn trong sự tạo hóa nếu như tạo ra con người cho một trạng thái xã hội mà lại không cung cấp đủ đức hạnh và trí tuệ để quản lý các công việc của xã hội. Chẳng lẽ chúng ta lại không thể nói rằng hình thức chính phủ tốt nhất là hình thức cung cấp hiệu quả nhất sự lựa chọn thuần túy những aristoi (kẻ ưu tú) tự nhiên này vào các cơ quan của chính phủ hay sao?”
Như chúng ta có thể thấy khá rõ ràng, các Cha đẻ Sáng lập của Hoa Kỳ không phải là những người công khai theo chủ nghĩa dân chủ, và Hoa Kỳ cũng không được thành lập như một “nền dân chủ”. Albert Jay Nock từng viết: “Đôi khi người ta tự hỏi các tiền nhân thời Cách mạng của chúng ta sẽ phản ứng thế nào nếu họ nghe thấy một kẻ bịp bợm chính trị rỗng tuếch nào đó gán cho họ cái công sáng lập nên ‘nền dân chủ vĩ đại và huy hoàng của phương Tây’.” Thượng nghị sĩ Arthur H. Vandenberg từng nhận xét rằng “chính quyền Hoa Kỳ là một nền cộng hòa đại diện chứ không phải là một nền dân chủ thuần túy. Sự khác biệt này ngày nay vẫn sâu sắc như thời điểm nền móng của Hiến pháp được đặt ra từ thuở ban đầu…. Chúng ta là một nền cộng hòa đại diện. Chúng ta không phải là một nền dân chủ thuần túy. . . . Thế nhưng chúng ta lại liên tục tìm cách ghép cái sau vào cái trước, và mọi nỗ lực của chúng ta theo hướng này, chỉ với một vài ngoại lệ, đều là một cú đòn giáng vào cốt lõi của Hiến pháp.”
Bấy nhiêu đó cũng đủ để nói về cái gọi là bản chất cánh tả vốn có của một nước Mỹ thời kỳ non trẻ.
Nguyên tác: Leftism: from de Sade and Marx to Hitler and Marcuse, 1974, Arlington House
Bản dịch: Lê Lam Kiều
