Vì một nền tự do mới - Chương 9: Lạm phát và chu kỳ kinh doanh
Cho đến những năm 1973–1974, những người theo trường phái Keynes – tạo lập được học thuyết kinh tế chính thống thống trị từ cuối những năm 1930 - đã giành được những thành tựu to lớn, và vẻ vang[1]. Hầu như tất cả mọi người đều chấp nhận quan điểm của Keynes, rằng có sự kiện gì đó trong nền kinh tế thị trường tự do khiến nó chịu tác động của chi tiêu thâm hụt và chi tiêu quá mức (trên thực tế, Keynes gần như quan tâm tới chi tiêu thâm hụt), và do đó, chính phủ có chức năng bù đắp cho khiếm khuyết thị trường này. Chính phủ sẽ bù đắp cho cái mà người ta cho là mất cân bằng này bằng cách thao túng chi tiêu và thâm hụt (trên thực tế, là làm cho chúng gia tăng). Tất nhiên, chức năng “kinh tế vĩ mô” quan trọng này của chính phủ được chỉ đạo bởi hội đồng các nhà kinh tế học Keynes (gọi là “Hội đồng Cố vấn Kinh tế”), những người có khả năng “điều chỉnh” nền kinh tế nhằm ngăn ngừa lạm phát hoặc suy thoái, và điều chỉnh tổng chi tiêu hợp lý nhằm đảm bảo duy trì việc làm toàn dụng mà không xảy ra lạm phát.
Cuối cùng, năm 1973–1974, ngay cả những người theo trường phái Keynes cũng nhận ra rằng có điều gì đó rất, rất sai với kịch bản đầy tự tin này, rằng đã đến lúc họ phải quay lại với những dự định ban đầu. Bởi vì, không chỉ hơn 40 năm điều chỉnh chính sách của Keynes không thể loại bỏ được tình trạng lạm phát kinh niên, đã bắt đầu ngay sau Thế chiến II, mà chính trong những năm đó, lạm phát đã leo thang lên mức hai chữ số (khoảng 13% mỗi năm). Không chỉ có thế, cũng trong giai đoạn 1973–1974, Hoa Kỳ đã rơi vào cuộc suy thoái sâu sắc và kéo dài nhất, đấy là nói kể từ những năm 1930 (nó sẽ được gọi là “suy thoái” nếu thuật ngữ này không bị các nhà kinh tế học từ bỏ vì bị họ coi là thiếu thận trọng). Hiện tượng kỳ lạ này, cuộc lạm phát quá mức xảy ra đồng thời với suy thoái mạnh mẽ, đơn giản là được cho là sẽ không xảy ra, đấy là thế giới quan của trường phái Keynes. Các nhà kinh tế học luôn biết rằng hoặc nền kinh tế đang trong giai đoạn bùng nổ, khi đó giá cả sẽ gia tăng, hoặc nền kinh tế đang trong giai đoạn suy thoái hoặc khủng hoảng với tỷ lệ thất nghiệp cao, khi đó giá cả sẽ giảm. Trong giai đoạn bùng nổ, chính phủ theo trường phái Keynes được cho là sẽ “hút cạn sức mua dư thừa” bằng cách tăng thuế, theo quy định của Keynes—tức là, chính phủ được cho là sẽ rút chi tiêu khỏi nền kinh tế; mặt khác, trong thời kỳ suy thoái, chính phủ được cho là sẽ tăng chi tiêu và thâm hụt ngân sách để bơm chi tiêu vào nền kinh tế. Nhưng nếu nền kinh tế vừa lạm phát vừa suy thoái với tỷ lệ thất nghiệp cao cùng một lúc, thì chính phủ là sẽ phải làm gì? Làm thế nào để cùng một lúc vừa tăng tốc vừa phanh nền kinh tế?
Ngay từ cuộc suy thoái năm 1958, mọi thứ đã bắt đầu diễn ra một cách khó hiểu; lần đầu tiên, giữa thời kỳ suy thoái, giá hàng tiêu dùng đã gia tăng, dù chỉ một chút. Đó chỉ là một đám mây nhỏ không lớn hơn bàn tay một người, và dường như nó chẳng làm cho những người theo trường phái Keynes phải lo lắng nhiều.
Một lần nữa, giá hàng tiêu dùng lại gia tăng trong giai đoạn suy thoái năm 1966, nhưng đây là suy thoái nhẹ đến mức không làm cho người ta phải lo lắng. Tuy nhiên, lạm phát gia tăng mạnh mẽ trong giai đoạn suy thoái trong các năm 1969–1971 là một cú sốc đáng kể. Nhưng phải đến giai đoạn suy thoái bắt đầu giữa lúc lạm phát cao tới hai chữ số trong các năm 1973–1974 mới đẩy giới quyền uy trong lĩnh vực kinh tế học theo trường phái Keynes vào tình trạng hỗn loạn thường trực. Nó làm cho họ nhận ra rằng không chỉ việc điều chỉnh tinh vi đã thất bại, không chỉ chu kỳ được cho là đã chết và bị chôn vùi những vẫn còn đó, mà giờ đây nền kinh tế đang ở trong tình trạng lạm phát kinh niên và ngày càng tồi tệ hơn—và nó cũng trải qua những đợt suy thoái liên tục: suy thoái lạm phát, hay “lạm phát đình trệ”. Đó không chỉ là hiện tượng mới, mà còn là hiện tượng không thể giải thích được, thậm chí không thể tồn tại trong các lý thuyết kinh tế chính thống.
Và lạm phát dường như ngày càng trở nên tồi tệ hơn: khoảng 1-2% mỗi năm trong những năm dưới chính quyền của Tổng thống Eisenhower, và lên đến 3-4% dưới thời Tổng thống Kennedy, lên đến 5-6% dưới thời Tổng thống Johnson, rồi lên đến khoảng 13% trong giai đoạn 1973-1974, và sau đó giảm xuống còn khoảng 6%, nhưng chỉ sau khi có những cú giáng mạnh mẽ của một cuộc suy thoái kéo dài (trong khoảng những năm 1973-1976).
Vậy thì có một số sự kiện gần như cần được giải thích ngay lập tức: (1) Tại sao lại xảy ra lạm phát kinh niên và tốc độ gia tăng? (2) Tại sao lại xảy ra lạm phát ngay cả trong những lần suy thoái sâu? Và khi chúng ta đang bàn về vấn đề này, điều quan trọng là phải giải thích, nếu có thể, (3) Tại sao lại có chu kỳ kinh doanh? Tại sao lại có vòng xoáy bùng nổ và suy thoái dường như không có hồi kết?
May mắn là, câu trả lời cho những câu hỏi này đã có sẵn - do “Trường phái kinh tế học Áo” và lý thuyết về tiền tệ và chu kỳ kinh doanh của trường phái này, được Ludwig von Mises và người kế nhiệm là Friedrich A. Hayek phát triển tại Áo và được Hayek đưa vào Trường Kinh tế London vào đầu những năm 1930 - nhưng đáng tiếc là người ta đã quên. Trên thực tế, lý thuyết chu kỳ kinh doanh của Trường phái kinh tế học Áo do Hayek đưa ra đã gây chấn động đối với các nhà kinh tế trẻ tuổi ở Anh chính xác là vì nó đề xuất giải thích thỏa đáng về cuộc Đại suy thoái trong những năm 1930. Những nhà lãnh đạo trường phái Keynes tương lai như John R. Hicks, Abba P. Lerner, Lionel Robbins và Nicholas Kaldor ở Anh, cũng như Alvin Hansen ở Hoa Kỳ, chỉ vài năm trước đó đã là các đệ tử của Hayek. Rồi, sau năm 1936, Lý thuyết Tổng quát của Keynes đã cuốn phăng tất cả trong cuộc “Cách mạng Keynes” thực thụ — một phong trào ngạo mạn tuyên bố rằng trước đó chưa từng có ai dám đưa ra bất kỳ lời giải thích nào về chu kỳ kinh doanh hay Đại Khủng hoảng. Cần nhấn mạnh rằng lý thuyết Keynes không thắng thế bằng cách tranh luận và bác bỏ lập luận của Trường phái kinh tế học Áo; trái lại, như vẫn thường xảy ra trong lịch sử khoa học xã hội, lý thuyết của Keynes chỉ đơn giản trở thành một trào lưu mới, còn học thuyết của Trường phái kinh tế học Áo thì không bị phản bác — mà chỉ bị người ta lờ đi và rơi vào quên lãng.
Trong suốt bốn thập kỷ, lý thuyết của Trường phái kinh tế học Áo được duy trì trong thầm lặng — không ai than tiếc, không ai tôn vinh, cũng chẳng ai ca ngợi — bởi hầu hết giới kinh tế học đã quay lưng lại với nó. Chỉ còn lại Mises (ở Đại học New York) và Hayek (ở Chicago), cùng một vài môn đồ trung thành, vẫn kiên định giữ vững học thuyết này. Hẳn không phải ngẫu nhiên khi sự phục hưng của Trường phái kinh tế học Áo trùng khớp với hiện tượng lạm phát đình trệ (stagflation) —làm cho mô hình của Keynes sụp đổ rõ ràng ngay trước mắt mọi người. Năm 1974, hội nghị các nhà kinh tế học Trường phái Áo đầu tiên, sau nhiều thập kỷ, được tổ chức tại Trường Royalton ở Vermont. Cuối năm đó, giới kinh tế học đã vô cùng kinh ngạc khi Hayek được trao giải Nobel. Kể từ đó, đã có nhiều hội nghị quan trọng của Trường phái Áo được tổ chức tại Đại học Hartford, tại Lâu đài Windsor ở Anh, và tại Đại học New York — nơi thậm chí cả Hicks và Lerner cũng bắt đầu thể hiện dấu hiệu phần nào quay trở lại với lập trường mà họ từng bỏ quên từ lâu. Các hội nghị khu vực cũng lần lượt được tổ chức ở Bờ Đông, Bờ Tây, Trung Tây và Tây Nam Hoa Kỳ. Nhiều công trình nghiên cứu trong lĩnh vực này đang được xuất bản, và có lẽ điều đáng mừng nhất là sự xuất hiện của một thế hệ nghiên cứu sinh và giảng viên trẻ đầy tài năng, tận tâm với Trường phái kinh tế học Áo — những người chắc chắn sẽ có nhiều đóng góp to lớn trong tương lai.
Tiền và lạm phát
Vậy thì, lý thuyết của Trường phái kinh tế học Áo đang trỗi dậy này nói gì về vấn đề của chúng ta?[2] Đầu tiên cần chỉ ra là lạm phát không phải là yếu tố tất yếu của nền kinh tế, cũng không phải là điều kiện tiên quyết cho thế giới đang phát triển và thịnh vượng. Trong phần lớn thế kỷ XIX (ngoại trừ những năm Chiến tranh 1812 và Nội chiến), giá cả đã giảm, nhưng nền kinh tế vẫn phát triển và công nghiệp hóa. Giá cả giảm không làm giảm hoạt động kinh doanh hay thịnh vượng kinh tế.
Vì vậy, giá giảm rõ ràng là hoạt động bình thường của nền kinh tế thị trường đang phát triển. Vậy tại sao chính ý tưởng về việc giá giảm đều đặn lại trái ngược với kinh nghiệm của chúng ta đến mức nó dường như đấy là thế giới mơ mộng hoàn toàn phi thực tế? Tại sao, kể từ Thế chiến II, giá cả lại liên tục tăng, thậm chí tăng nhanh, ở cả Hoa Kỳ lẫn trên toàn thế giới? Trước đó, giá cả đã gia tăng mạnh mẽ trong Thế chiến I và Thế chiến II; trong khoảng thời gian giữa hai cuộc Thế chiến, giá cả giảm nhẹ mặc dù đã có cơn sốt bùng nổ trong những năm 1920, và sau đó giảm mạnh trong cuộc Đại suy thoái trong những năm 1930. Tóm lại, ngoài những trải nghiệm trong thời chiến, ý tưởng về lạm phát như một chuẩn mực trong thời bình thực sự chỉ xuất hiện sau Thế chiến II.
Giải thích phổ biến nhất về lạm phát là các doanh nhân tham lam vẫn tiếp tục tăng giá để tăng lợi nhuận. Nhưng chắc chắn là tỷ lệ “của lòng tham” trong kinh doanh đã không đột nhiên tăng vọt từ sau Thế chiến II. Chẳng phải các doanh nghiệp cũng “tham lam” như thế vào thế kỷ XIX và cho đến năm 1941 hay sao? Vậy thì tại sao lúc đó lại không có xu hướng lạm phát? Hơn nữa, nếu các doanh nhân tham lam đến mức tăng giá 10% mỗi năm, tại sao họ lại dừng lại ở mức này? Tại sao họ lại chờ đợi; tại sao họ không tăng giá lên 50%, hoặc tăng gấp đôi hay gấp ba ngay lập tức? Cái gì kìm hãm họ?
Sai lầm tương tự cũng bác bỏ lập luận phổ biến khác về lạm phát: các công đoàn đòi hỏi mức lương cao hơn, buộc giới doanh nhân phải tăng giá hàng hóa. Bên cạnh việc lạm phát đã xuất hiện từ thời La Mã cổ đại và rất lâu trước khi các công đoàn xuất hiện, và bên cạnh việc thiếu bằng chứng cho thấy lương của thành viên công đoàn tăng nhanh hơn so với các doanh nghiệp không có công đoàn hoặc giá của các sản phẩm trong các doanh nghiệp có công đoàn tăng nhanh hơn so với các sản phẩm trong các doanh nghiệp không có công đoàn, câu hỏi tương tự cũng được đặt ra: Tại sao các doanh nghiệp không tăng giá? Điều gì cho phép họ tăng giá ở một mức nhất định, nhưng không được tăng nhiều hơn? Nếu các công đoàn có quyền lực lớn như vậy, và các doanh nghiệp phản ứng như vậy, tại sao lương và giá cả không tăng 50%, hoặc 100%, mỗi năm? Cái gì kìm hãm họ?
Chiến dịch tuyên truyền trên truyền hình do chính phủ khởi xướng cách đây vài năm đã đi gần hơn một chút đến mục tiêu: lạm pháp bị quy cho người tiêu dùng vì họ quá “tham”, ăn uống và chi tiêu quá mức. Ở đây, ít nhất chúng ta đã có phần mở đầu cho lời giải thích về cái gì đang ngăn cản các doanh nghiệp hoặc công đoàn đòi hỏi mức giá cao hơn nữa: người tiêu dùng sẽ không trả tiền cho họ. Giá cà phê đã tăng vọt vài năm trước; một hoặc hai năm sau đó, chúng giảm mạnh do sự phản đối của người tiêu dùng - một phần là do “cuộc tẩy chay” rầm rộ của người tiêu dùng - nhưng quan trọng hơn là do sự thay đổi thói quen mua sắm của người tiêu dùng: từ bỏ cà phê và chuyển sang các sản phẩm thay thế rẻ hơn. Vì vậy, việc giới hạn nhu cầu của người tiêu dùng đã kìm hãm, không cho giá cả tăng cao.
Nhưng điều này lại đẩy vấn đề lùi lại một bước. Bởi vì nếu nhu cầu của người tiêu dùng, dường như hợp lý, bị giới hạn tại bất kỳ thời điểm nào, tại sao nó cứ tăng lên, hết năm này sang năm khác, và xác nhận hoặc cho phép tăng giá và tăng tiền công? Và nếu nó có thể tăng 10%, thì cái gì ngăn cản không cho nó tăng 50%? Tóm lại, cái gì cho phép nhu cầu của người tiêu dùng tiếp tục tăng, hết năm này tới năm khác, nhưng lại ngăn cản, không cho nó tăng thêm nữa?
Muốn đi sâu hơn nữa vào cuộc săn tìm này, chúng ta phải phân tích ý nghĩa của thuật ngữ “giá”. Giá cả chính xác là gì? Giá của bất kỳ số lượng sản phẩm nào là số tiền mà người mua phải chi trả cho sản phẩm đó. Tóm lại, nếu ai đó phải chi 7 đô la cho 10 ổ bánh mì, thì “giá” của 10 ổ bánh mì đó là 7 đô la, hoặc, vì chúng ta thường biểu thị giá trên một đơn vị sản phẩm, giá của 1 ổ bánh mì là 70 xu. Vậy nên, có hai bên trong cuộc trao đổi này: người mua có tiền và người bán có bánh mì. Rõ ràng là, tương tác của cả hai bên sẽ tạo ra mức giá thống trị trên thị trường. Tóm lại, nếu có nhiều bánh mì hơn trên thị trường, giá bánh mì sẽ giảm (cung tăng làm giảm giá); trong khi đó, nếu trong ví người mua bánh mì có nhiều tiền hơn, giá bánh mì sẽ tăng lên (cầu tăng làm tăng giá).
Giờ đây, chúng ta đã tìm ra yếu tố then chốt hạn chế và kìm hãm lượng cầu của người tiêu dùng, và do đó kìm hãm, không để giá cả tăng: lượng tiền mà người tiêu dùng nắm giữ. Nếu tiền trong túi họ tăng 20%, thì giới hạn cầu của họ được nới lỏng 20%, và nếu các yếu tố khác không đổi, giá cả cũng sẽ có xu hướng tăng 20%. Chúng ta đã tìm ra yếu tố then chốt: lượng cung tiền.
Nếu chúng ta xem xét giá cả trong toàn bộ nền kinh tế, thì yếu tố then chốt là tổng lượng cung tiền trong toàn bộ nền kinh tế. Trên thực tế, tầm quan trọng của cung tiền trong việc phân tích lạm phát có thể được thấy khi mở rộng cách tiếp cận của chúng ta từ thị trường bánh mì hoặc cà phê sang toàn bộ nền kinh tế. Bởi vì tất cả giá cả đều được xác định ngược lại bởi lượng cung hàng hóa và trực tiếp bởi lượng cầu. Nhưng nhìn chung, trong nền kinh tế vẫn đang phát triển của chúng ta, cung hàng hóa đang tăng lên hàng năm. Vì vậy, xét về mặt cung của phương trình, hầu hết giá cả lẽ ra phải giảm, và hiện tại chúng ta đang trải qua một đợt giảm giá đều đặn như trong thế kỷ XIX (deflation- giảm phát). Nếu lạm phát kinh niên là do phía cung - do các hoạt động của nhà sản xuất, ví dụ như các công ty kinh doanh hoặc công đoàn - thì nguồn cung hàng hóa nói chung chắc chắn sẽ giảm, do đó làm tăng giá. Nhưng vì nguồn cung hàng hóa rõ ràng đang tăng lên, nên nguồn gốc của lạm phát phải là phía cầu - và yếu tố chi phối phía cầu, như chúng tôi đã chỉ ra, là tổng cung tiền.
Và, thực sự, nếu chúng ta nhìn vào thế giới trong quá khứ và hiện tại, chúng ta thấy rằng nguồn cung tiền đã tăng với tốc độ khá nhanh. Trong thế kỷ XIX, nó cũng đã tăng, nhưng với tốc độ chậm hơn hẳn, chậm hơn nhiều so với tốc độ gia tăng hàng hóa và dịch vụ; nhưng, từ sau Thế chiến II, gia tăng nguồn cung tiền - cả trong và ngoài nước - đã nhanh hơn hẳn so với nguồn cung hàng hóa. Do đó, mà có lạm phát.
Câu hỏi then chốt đặt ra là ai, hay cái gì, kiểm soát và quyết định nguồn cung tiền, và liên tục gia tăng số lượng tiền, đặc biệt là trong những thập kỷ gần đây? Để trả lời câu hỏi này, trước tiên chúng ta phải xem xét trong nền kinh tế thị trường, tiền đã xuất hiện như thế nào. Tiền ban đầu xuất hiện trên thị trường khi các cá nhân bắt đầu lựa chọn một hoặc một vài loại hàng hóa hữu ích để chúng đóng vai trò tiền tệ: những hàng hóa để dủng làm tiền tốt nhất là những hàng hóa có nhu cầu cao; có giá trị cao trên mỗi đơn vị trọng lượng; bền, có thể lưu trữ lâu dài, dễ dàng di chuyển từ nơi này sang nơi khác, dễ dàng nhận biết; và có thể dễ dàng chia nhỏ thành các phần nhỏ mà không bị mất giá trị. Qua nhiều thế kỷ, nhiều thị trường và xã hội khác nhau đã lựa chọn rất nhiều hàng hóa để chúng đóng vai trò tiền tệ: từ muối, đường, vỏ ốc, gia súc, thuốc lá cho đến những gói thuốc lá trong các trại tù binh chiến tranh trong Thế chiến II. Nhưng trong suốt những thế kỷ đó, hai loại hàng hóa luôn chiến thắng trong cuộc cạnh tranh để trở thành tiền tệ ngay khi chúng xuất hiện: vàng và bạc.
Kim loại luôn được lưu thông theo trọng lượng của chúng—một tấn sắt, một pound đồng, v.v.—và giá của chúng được tính theo các đơn vị trọng lượng. Vàng và bạc không phải là ngoại lệ. Mỗi đơn vị tiền tệ trong thời hiện đại đều có nguồn gốc từ đơn vị trọng lượng của vàng hay bạc. Do đó, đơn vị của Anh, “pound sterling”, được đặt tên như vậy vì ban đầu nó chỉ đơn giản có nghĩa là một pound bạc. (Muốn xem đồng bảng Anh đã mất giá như thế nào trong những thế kỷ sau đó, chúng ta nên lưu ý rằng đồng pound sterling hiện có giá trị bằng hai phần năm ounce bạc trên thị trường. Đây là hậu quả của lạm phát ở nước Anh—đồng bảng Anh mất giá.) Đồng “đô la” ban đầu là một đồng tiền Bohemia là một ounce bạc. Sau này, “đô la” được định nghĩa là một phần hai mươi ounce vàng.
Khi xã hội hay một quốc gia chấp nhận một loại hàng hóa nào đó để nó đóng vai trò tiền tệ, và đơn vị trọng lượng của nó trở thành đơn vị tiền tệ - đơn vị tính toán trong đời sống hàng ngày - thì quốc gia đó được cho là đang sử dụng “bản vị” hàng hóa cụ thể đó. Vì thị trường trên toàn thế giới đều coi vàng hoặc bạc là những bản vị tốt nhất mỗi khi có thể, nên diễn biến tự nhiên của các nền kinh tế này là sử dụng bản vị vàng hoặc bạc. Trong trường hợp đó, nguồn cung vàng được quyết định bởi các lực lượng thị trường: bởi các điều kiện công nghệ cung ứng, giá cả của các hàng hóa khác, v.v.
Ngay từ khi vàng và bạc được thị trường chấp nhận đóng vai trò tiền tệ, Nhà nước đã và đang nỗ lực nắm quyền kiểm soát chức năng cung tiền, chức năng xác định và tạo ra nguồn cung tiền trong xã hội. Rõ ràng là tại sao Nhà nước lại muốn làm như vậy: nó có nghĩa là nắm quyền kiểm soát nguồn cung tiền từ thị trường và chuyển giao nó cho một nhóm người phụ trách bộ máy Nhà nước. Lý do tại sao họ muốn làm như vậy thì rất rõ ràng: đây sẽ là một giải pháp thay thế cho việc đánh thuế mà các nạn nhân của thuế khoá luôn luôn coi là gánh nặng.
Hiện nay, những người nắm quyền lực Nhà nước có thể dễ dàng tạo ra đồng tiền của riêng mình và chi tiêu hoặc cho những đồng minh thân cận của họ vay. Việc này không hề dễ dàng trước khi người ta tìm ra nghệ thuật in ấn; sau đó, Nhà nước có thể tìm cách thay đổi định nghĩa của đồng đô la, đồng bảng Anh, đồng mark, v.v., từ các đơn vị đo trọng lượng vàng hoặc bạc thành tên gọi đơn giản cho những tờ giấy mà chính quyền trung ương phát hành. Lúc đó, chính quyền đó có thể in một cách dễ dàng và gần như tùy ý, rồi sau đó chi tiêu hoặc cho vay tùy thích. Phải mất hàng thế kỷ để hoàn thành công việc phức tạp này, nhưng lúc này, lưu hành và phát hành tiền hoàn toàn nằm trong tay của tất cả các chính quyền trung ương. Chúng ta thấy hậu quả của nó ngày càng rõ ràng hơn.
Xin nghĩ xem chuyện gì sẽ xảy ra nếu chính phủ tiếp cận một nhóm người—ví dụ như gia đình Jones—và nói với họ: “Chúng tôi trao cho các vị quyền lực tuyệt đối và không giới hạn trong việc in đô la, trong việc quyết định số lượng đồng đô la đang lưu hành. Và các vị sẽ có quyền lực độc quyền tuyệt đối: bất kỳ người nào khác dám sử dụng quyền lực đó sẽ bị bỏ tù dài hạn vì tội làm tiền giả và phá hoại. Chúng tôi hy vọng rằng các vị sẽ sử dụng quyền lực này một cách khôn ngoan.” Chúng ta có thể dự đoán khá chính xác gia đình Jones sẽ làm gì khi được trao quyền lực này. Ban đầu, họ sẽ sử dụng quyền lực một cách chậm rãi và cẩn thận, để trả các khoản nợ, có lẽ sẽ mua cho mình một vài món đồ đặc biệt đáng mong muốn; nhưng sau đó, đã quen với cảm giác say sưa khi có thể in tiền của riêng mình, họ sẽ bắt đầu sử dụng quyền lực mà không thèm quan tâm tới bất cứ thứ gì khác, để mua hàng xa xỉ phẩm, để thưởng cho bạn bè, v.v. Kết quả sẽ là nguồn cung tiền tiếp tục tăng và thậm chí tăng nhanh, và do đó, lạm phát tiếp tục và tăng tốc.
Nhưng đây chính xác là những việc mà các chính phủ—tất cả các chính phủ—đã làm. Ngoại trừ việc thay vì trao quyền độc quyền làm hàng giả cho gia đình Jones hay các gia đình khác, thì chính phủ “trao” quyền đó cho chính mình. Cũng như Nhà nước tự cho mình quyền độc quyền trong việc bắt cóc hợp pháp và gọi đó là chế độ quân dịch; cũng như Nhà nước đã giành độc quyền trong việc cướp bóc hợp pháp và gọi đó là thuế; thì Nhà nước cũng giành độc quyền làm hàng giả và gọi đó là tăng nguồn cung đô la (hoặc franc, mark, hay bất cứ thứ gì khác). Thay vì bản vị vàng, thay vì một loại tiền tệ xuất hiện từ thị trường tự do và nguồn cung của nó được xác định bởi thị trường tự do, Chúng ta đang sống dưới chế độ tiền giấy định danh. Nghĩa là, đô la, franc, v.v., chỉ đơn giản là những mảnh giấy có in tên như thế và được chính quyền trung ương—bộ máy Nhà nước—phát hành theo ý muốn của mình.
Hơn nữa, vì mục đích của người làm tiền giả là in càng nhiều tiền càng tốt, nên Nhà nước cũng sẽ in càng nhiều tiền càng tốt, hệt như họ sử dụng quyền đánh thuế theo cùng một cách: thu càng nhiều tiền càng tốt miễn là không gây ra quá nhiều tiếng la ó phản đối.
Việc chính phủ kiểm soát nguồn cung tiền đã là mang tính lạm phát rồi, cũng giống như bất kỳ hệ thống nào mà một nhóm người nắm quyền kiểm soát việc in tiền thì chắc chắn sẽ dẫn đến lạm phát.
Cục dự trữ liên bang và ngân hàng dự trữ theo tỷ lệ
Tuy nhiên, lạm phát bằng cách in thêm tiền giờ đây đã bị coi là lỗi thời. Một mặt, rất dễ thấy; với rất nhiều tờ tiền mệnh giá cao đang lưu hành, công chúng có thể nghĩ rằng nguyên nhân của lạm phát không đáng mong muốn này là do chính phủ phát hành tất cả những tờ tiền đó—và chính phủ có thể bị tước bỏ quyền này. Thay vào đó, các chính phủ đã nghĩ ra một phương tiện phức tạp và tinh vi hơn hẳn, và khó thấy hơn hẳn, để làm việc tương tự: tổ chức tăng cung tiền để có thêm tiền chi tiêu và trợ cấp cho các nhóm chính trị được chính phủ ưu ái. Ý tưởng như sau: thay vì nhấn mạnh việc in tiền, thì họ giữ lại đô la tiền giấy, mark hoặc franc làm tiền tệ cơ bản (đồng tiền “hợp pháp”), rồi sau đó bổ sung thêm một thứ bí ẩn và vô hình, nhưng không kém phần quan trọng, là “tiền sổ séc” (checkbook money[3]) hay tiền gửi ngân hàng không kỳ hạn. Kết quả là cỗ máy gây lạm phát, bị chính phủ kiểm soát, mà không ai khác ngoài các chủ ngân hàng, các nhà kinh tế học, và các ngân hàng trung ương của chính phủ hiểu được—và đó là thiết kế có chủ đích.
Trước hết, cần phải nhận ra rằng toàn bộ hệ thống ngân hàng thương mại, ở Hoa Kỳ hay bất kỳ nơi nào khác, đều nằm dưới sự kiểm soát hoàn toàn của chính phủ trung ương—sự kiểm soát mà các ngân hàng hoan nghênh, vì nó cho phép họ tạo ra tiền. Các ngân hàng nằm dưới quyền kiểm soát hoàn toàn của ngân hàng trung ương—một tổ chức của chính phủ—kiểm soát phần lớn bắt nguồn từ sự độc quyền bắt buộc của ngân hàng trung ương trong việc in tiền. Ở Mỹ, Cục Dự trữ Liên bang thực hiện chức năng của ngân hàng trung ương. Sau đó, Cục Dự trữ Liên bang (Fed) cho phép các ngân hàng thương mại tạo ra kim tự tháp tiền gửi ngân hàng không kỳ hạn (tiền séc) trên “dự trữ” của chính họ (tiền gửi tại Fed) với tỷ lệ xấp xỉ 6:1. Nói cách khác, nếu dự trữ ngân hàng tại Cục Dự trữ Liên bang tăng thêm 1 tỷ đô la, các ngân hàng có thể và thực sự đã tăng tiền gửi của mình lên 6 tỷ đô la - tức là các ngân hàng tạo ra 6 tỷ đô la tiền mới.
Tại sao tiền gửi không kỳ hạn của ngân hàng lại chiếm phần lớn nguồn cung tiền? Về mặt chính thức, chúng không phải là tiền hoặc phương tiện thanh toán hợp pháp giống như Trái phiếu Dự trữ Liên bang. Nhưng chúng là lời hứa của một ngân hàng rằng họ sẽ đổi tiền gửi không kỳ hạn của mình thành tiền mặt (Trái phiếu Dự trữ Liên bang) bất cứ khi nào người gửi tiền (chủ sở hữu “tài khoản thanh toán”) mong muốn. Tất nhiên, vấn đề là các ngân hàng không có tiền; họ không thể, vì họ nợ gấp sáu lần dự trữ của mình, chính là tài khoản thanh toán của họ ở Cục Dự trữ Liên bang. Tuy nhiên, công chúng lại bị thuyết phục để tin tưởng vào các ngân hàng bởi sự bảo thủ và vững chắc mà Hệ thống Dự trữ Liên bang tạo ra. Vì Cục Dự trữ Liên bang có thể và thực sự đã cứu các ngân hàng gặp khó khăn. Nếu công chúng hiểu được quy trình và đổ xô đến các ngân hàng để đòi tiền, thì trong trường hợp cấp bách, nếu muốn, Cục Dự trữ Liên bang luôn luôn có thể in đủ tiền để hỗ trợ các ngân hàng.
Do đó, Cục Dự trữ Liên bang kiểm soát tỷ lệ lạm phát tiền tệ bằng cách điều chỉnh hệ số (6:1) của lượng tiền mà ngân hàng tạo ra, hoặc quan trọng hơn là xác định tổng lượng dự trữ của ngân hàng. Nói cách khác, nếu Cục Dự trữ Liên bang muốn tăng tổng cung tiền thêm 6 tỷ đô la, thay vì in 6 tỷ đô la, họ sẽ tìm cách tăng dự trữ ngân hàng thêm 1 tỷ đô la, và sau đó để các ngân hàng tự tạo ra 6 tỷ đô la tiền séc mới. Trong khi đó, công chúng không biết gì về quy trình này hoặc không biết gì mức độ quan trọng của nó.
Các ngân hàng tạo ra tiền gửi mới bằng cách nào? Đơn giản là bằng cách cho vay trong quá trình tạo ra tiền. Ví dụ, giả sử các ngân hàng nhận được 1 tỷ đô la dự trữ mới; các ngân hàng sẽ cho vay 6 tỷ đô la và tạo ra các khoản tiền gửi mới trong quá trình thực hiện các khoản vay mới này. Tóm lại, khi các ngân hàng thương mại cho một cá nhân, một doanh nghiệp hoặc chính phủ vay tiền, họ không cho vay lại số tiền hiện có mà công chúng đã vất vả tiết kiệm và gửi vào trong kho của họ—như công chúng thường nghĩ. Họ cho vay các khoản tiền gửi không kỳ hạn mới mà họ tạo ra trong quá trình cho vay—và họ chỉ bị giới hạn bởi “yêu cầu dự trữ”, bởi hệ số tối đa bắt buộc của tiền gửi so với dự trữ (ví dụ: 6:1). Bởi vì, xét cho cùng, họ không in đô la giấy hay đào vàng; họ chỉ đơn giản là phát hành các khoản tiền gửi hoặc “sổ séc” cho chính mình để lấy tiền mặt—những khoản tiền mà họ sẽ không có cơ hội thực hiện nếu toàn thể công chúng đồng loạt đứng lên và yêu cầu thanh toán các khoản nợ của mình.
Cục Dự trữ Liên bang (Fed) làm thế nào để xác định (hầu như lúc nào cũng để tăng) tổng dự trữ của các ngân hàng thương mại? Nó có thể và thực sự cho các ngân hàng vay dự trữ, và nó làm như thế với lãi suất thấp một cách giả tạo (gọi là “lãi suất tái chiết khấu”). Tuy nhiên, các ngân hàng không muốn mắc nợ Fed quá nhiều, và do đó, tổng dư nợ mà Fed cho các ngân hàng vay không bao giờ quá cao. Cho đến nay, con đường quan trọng nhất để Fed xác định tổng dự trữ vẫn ít được công chúng biết đến hoặc hiểu rõ: “mua trên thị trường mở”. Đơn giản có nghĩa là Cục Dự trữ Liên bang sẽ ra thị trường mở và mua tài sản. Nói một cách chính xác, thì Fed mua tài sản nào không quan trọng. Ví dụ, đó có thể là một chiếc máy tính bỏ túi với giá 20 đô la. Giả sử Fed mua một chiếc máy tính bỏ túi từ hãng XYZ Electronics với giá 20 đô la. Fed mua một chiếc máy tính; nhưng điểm quan trọng đối với mục đích của chúng ta là công ty XYZ Electronics mua một tấm séc với giá 20 đô la từ Ngân hàng Dự trữ Liên bang. Hiện tại, Fed không mở tài khoản thanh toán của công dân, mà chỉ mở tài khoản của các ngân hàng và chính phủ liên bang. Do đó, công ty XYZ Electronics chỉ có thể làm việc với tấm séc hai mươi đô la của mình: gửi nó vào ngân hàng của chính mình, ví dụ như Ngân hàng Acme. Lúc này, một giao dịch khác diễn ra: XYZ nhận được thêm 20 đô la vào tài khoản thanh toán của mình, trong “tiền gửi không kỳ hạn”. Đổi lại, Acme Bank nhận được một tấm séc, được chuyển cho chính mình, từ Ngân hàng Dự trữ Liên bang.
Bây giờ, sự kiện đầu tiên số tiền của công ty XYZ đã tăng thêm 20 đô la - tài khoản mới được tăng thêm của công ty này ở Ngân hàng Acme - và tiền của những người khác đều không thay đổi. Vì vậy, vào cuối giai đoạn ban đầu này - giai đoạn I cung tiền đã tăng thêm 20 đô la, bằng với số tiền mà Cục Dự trữ Liên bang mua tài sản. Nếu có người nào đó hỏi, Cục Dự trữ Liên bang lấy đâu ra 20 đô la để mua máy tính, thì câu trả lời là: họ đã tự tạo ra 20 đô la từ hư không bằng cách viết một tấm séc cho chính mình. Không ai, cả Cục Dự trữ Liên bang lẫn bất kỳ người nào khác, có 20 đô la trước khi nó được tạo ra trong quá trình chi tiêu của Cục Dự trữ Liên bang.
Nhưng đó chưa phải là tất cả. Hiện tại, Ngân hàng Acme, vui sướng vì họ có một tấm séc ở Cục Dự trữ Liên bang. Họ vội vã đến Cục Dự trữ Liên bang, gửi tiền vào đó và nhận được khoản tăng thêm 20 đô la trong dự trữ của mình, tức là trong “tiền gửi không kỳ hạn ở Cục Dự trữ Liên bang”. Lúc này, khi hệ thống ngân hàng có thêm 20 đô la, nó có thể và thực sự mở rộng tín dụng, tức là tạo ra thêm tiền gửi không kỳ hạn dưới dạng các khoản vay dành cho doanh nghiệp (hoặc cho người tiêu dùng hay chính phủ), cho đến khi tổng số tiền trong sổ séc tăng lên thành 120 đô la. Vào cuối giai đoạn II, chúng ta có khoản dự trữ ngân hàng tăng thêm 20 đô la được tạo ra từ việc Fed mua một máy tính với số tiền như thế, khoản tiền gửi không kỳ hạn đã tăng thêm 120 đô la, và khoản vay mà ngân hàng dành cho doanh nghiệp hoặc các đối tượng khác tăng thêm 100 đô la. Tổng cung tiền đã tăng thêm 120 đô la, trong đó 100 đô la được tạo ra bởi các ngân hàng trong quá trình cho doanh nghiệp vay tiền sổ séc, và 20 đô la được tạo ra bởi Fed trong quá trình mua máy tính.
Trên thực tế, tất nhiên, Fed không tốn nhiều thời gian để mua các tài sản ngẫu nhiên. Fed mua vào tài sản với quy mô lớn đến mức phải chọn một loại tài sản có tính thanh khoản cao, thường xuyên, nhằm mục đích làm cho nền kinh tế phồng lên. Trên thực tế, nó có nghĩa là mua trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ và các chứng khoán khác của chính phủ Hoa Kỳ. Thị trường trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ rất lớn và có tính thanh khoản cao, và Fed không phải vướng vào các xung đột chính trị, liên quan đến việc xác định nên mua cổ phiếu hoặc trái phiếu tư nhân nào đó. Đối với chính phủ, quá trình này cũng có hậu quả tốt đẹp là hỗ trợ thị trường chứng khoán chính phủ và duy trì giá trái phiếu chính phủ.
Tuy nhiên, giả sử một số ngân hàng, có lẽ dưới áp lực của người gửi tiền, có thể phải rút một phần dự trữ tài khoản vãng lai của mình để có ngoại tệ mạnh. Lúc đó, chuyện gì sẽ xảy ra với Fed, vì các khoản séc của họ đã tạo ra dự trữ ngân hàng mới từ hư không? Liệu nó có bị buộc phải phá sản hoặc rơi vào hoàn cảnh tương tự hay không? Câu trả lời là không, vì Fed được độc quyền in tiền mặt, và nó có thể—và sẽ—chỉ đơn giản là đổi lại khoản tiền gửi không kỳ hạn của mình bằng cách in ra bất kỳ lượng Tiền tệ Dự trữ Liên bang (Federal Reserve Notes) nào mà nó thấy cần. Nói tóm lại, nếu một ngân hàng đến Fed và yêu cầu đổi 20 đô la tiền mặt cho khoản dự trữ của mình—hoặc thậm chí là 20 triệu đô la—tất cả những gì Fed cần làm là in ra số tiền đó và chi trả. Như chúng ta thấy, khả năng tự in tiền đặt Fed vào một vị thế đáng ghen tị có một không hai.
Vậy là cuối cùng, chúng ta đã có chìa khóa cho bí ẩn của quá trình lạm phát trong giai đoạn hiện nay. Đó là một quá trình liên tục mở rộng cung tiền thông qua việc Fed tiếp tục mua chứng khoán chính phủ trên thị trường mở. Giả sử Fed muốn tăng cung tiền thêm 6 tỷ đô la, và họ sẽ mua chứng khoán chính phủ trên thị trường mở với tổng số tiền là 1 tỷ đô la (nếu hệ số nhân tiền của tiền gửi không kỳ hạn/dự trữ là 6:1) và mục tiêu sẽ nhanh chóng đạt được. Trên thực tế, hết tuần này sang tuần khác, ngay cả khi những dòng này đang được ai đó đọc, Fed vẫn tham gia thị trường mở ở New York và mua bất kỳ lượng trái phiếu chính phủ nào mà họ đã quyết định, và do đó góp phần quyết định mức độ lạm phát tiền.
Lịch sử tiền tệ của thế kỷ này là lịch sử của việc nới lỏng liên tiếp các ràng buộc đối với xu hướng gây lạm phát của Nhà nước, loại bỏ hết rào cản này đến rào cản khác, đến nay chính phủ có thể tùy ý bơm nguồn cung tiền, và do đó, làm giá cả tăng lên. Năm 1913, Hệ thống Dự trữ Liên bang (Federal Reserve System) được thành lập để tạo điều kiện cho quá trình kim tự tháp hóa tinh vi này diễn ra. Hệ thống mới cho phép mở rộng đáng kể cung tiền và lạm phát để chi trả cho chi phí chiến tranh trong Thế chiến I. Năm 1933, một bước đi định mệnh khác đã được thực hiện: chính phủ Hoa Kỳ đưa đất nước ra khỏi chế độ bản vị vàng, nghĩa là, đồng đô la, mặc dù vẫn được định nghĩa hợp pháp theo trọng lượng vàng, nhưng không còn có thể quy đổi thành vàng. Tóm lại, trước năm 1933, có hạn chế quan trọng đối với khả năng làm tăng và mở rộng cung tiền của Cục Dự trữ Liên bang: Bản thân các Giấy nợ của Cục Dự trữ Liên bang được thanh toán bằng số lượng vàng tương đương.
Tất nhiên, có một sự khác biệt quan trọng giữa vàng và Tiền giấy của Cục Dự trữ Liên bang. Chính phủ không thể tạo ra số vàng mới theo ý mình muốn. Vàng phải được khai thác từ trong lòng đất, với quá trình rất tốn kém. Nhưng Tiền giấy của Cục Dự trữ Liên bang có thể được phát hành theo ý muốn, với chi phí tài nguyên gần như bằng không. Năm 1933, chính phủ Hoa Kỳ đã gỡ bỏ sự kiềm chế của vàng đối với tiềm năng lạm phát bằng cách chuyển sang tiền pháp định: biến đồng đô la giấy thành tiêu chuẩn tiền tệ, mà chính phủ là nhà cung cấp đô la độc quyền. Chính việc từ bỏ bản vị vàng đã mở đường cho đồng tiền đầy sức mạnh của Mỹ và lạm phát giá cả trong và sau Thế chiến II.
Tuy nhiên, vẫn còn một chướng ngại vật cuối cùng cản trở chính phủ Mỹ phát hành tiền giấy vô tội vạ. Trong khi Hoa Kỳ đã loại bỏ chế độ bản vị vàng ở trong nước, thì họ vẫn cam kết đổi giấy bạc đô la (và sau cùng là tiền đô la trong ngân hàng) mà các chính phủ nước ngoài nắm giữ thành vàng nếu họ có yêu cầu. Nói tóm lại, chúng ta vẫn theo hình thức bản vị vàng quốc tế bị hạn chế và không hoàn chỉnh. Do đó, khi Hoa Kỳ thổi phồng nguồn cung tiền và giá cả trong những năm 1950 và 1960, đồng đô la và các khoản nợ bằng đô la (bằng tiền giấy và tiền séc) đã chất đống trong tay các chính phủ châu Âu. Sau rất nhiều thủ đoạn kinh tế và gây sức ép chính trị để buộc các chính phủ nước ngoài không thực hiện quyền đổi đô la lấy vàng, tháng 8 năm 1971, Hoa Kỳ tuyên bố phá sản quốc gia bằng cách từ chối các nghĩa vụ hợp đồng chính thức và “đóng cửa sổ vàng”. Không phải ngẫu nhiên mà việc từ bỏ sự kiềm chế vàng cuối cùng này đối với các chính phủ trên thế giới lại được tiếp nối bằng lạm phát hai con số trong giai đoạn 1973-1974, và lạm phát tương tự ở các nơi khác trên thế giới.
Chúng tôi đã giải thích tình trạng lạm phát kinh niên và ngày càng trầm trọng trong thế giới đương đại và ở Mỹ: là sản phẩm đáng tiếc của sự chuyển dịch liên tục trong thế kỷ này từ vàng sang tiền giấy do chính phủ phát hành làm tiền tệ chuẩn, và sự phát triển của ngân hàng trung ương và sự chồng chất tiền séc trên tiền giấy bị thổi phồng. Cả cả hai diễn biến có liên quan với nhau đều dẫn đến sự kiện: việc chính phủ nắm quyền kiểm soát nguồn cung tiền.
Chúng ta đã giải thích vấn đề lạm phát, nhưng chúng ta vẫn chưa xem xét vấn đề chu kỳ kinh doanh, suy thoái, và của suy thoái lạm phát hay đình lạm. Tại sao lại là chu kỳ kinh doanh, và tại sao lại có hiện tượng bí ẩn mới là đình lạm?
Tín dụng ngân hàng và chu kỳ kinh doanh
Chu kỳ kinh doanh xuất hiện ở phương Tây hồi cuối thế kỷ XVIII. Đó là hiện tượng kỳ lạ, bởi vì dường như không có lý do gì làm cho nó xuất hiện, và thực tế là trước đây chưa từng có hiện tượng này. Chu kỳ kinh doanh bao gồm một chuỗi các giai đoạn bùng nổ và suy thoái (mặc dù không hoàn toàn diễn ra theo chu kỳ), các giai đoạn lạm phát được đánh dấu bằng hoạt động kinh doanh gia tăng, có thêm nhiều việc làm và giá cả tăng cao, tiếp theo là suy thoái hoặc khủng hoảng mạnh mẽ, hoạt động kinh doanh giảm sút, thất nghiệp gia tăng và giá cả giảm; và sau đó, sau một thời kỳ suy thoái như thế, là đến giai đoạn phục hồi và giai đoạn bùng nổ lại bắt đầu.
Trước hết, không có lý do gì để nghĩ đến mô hình hoạt động kinh tế mang tính chu kỳ như thế. Tất nhiên, sẽ có những đợt sóng mang tính chu kỳ trong các loại hoạt động cụ thể; do đó, chu kỳ bảy năm của nạn châu chấu sẽ gây ra một chu kỳ bảy năm trong hoạt động diệt châu chấu, trong sản xuất thuốc xịt và thiết bị diệt châu chấu, v.v. Nhưng không có lý do gì để nghĩ tới những chu kỳ bùng nổ - suy thoái trong toàn bộ nền kinh tế. Thực tế là, có lý do để kỳ vọng điều ngược lại; bởi vì thông thường thị trường tự do hoạt động trơn tru và hiệu quả, và đặc biệt là không có một loạt sai lầm lớn nào khi bùng nổ đột ngột chuyển thành suy thoái và gây ra những tổn thất nghiêm trọng. Và thực sự, trước cuối thế kỷ XVIII không có những chu kỳ tổng thể như thế. Nói chung, hoạt động kinh doanh diễn ra thuận lợi và đều đặn cho đến khi có sự gián đoạn đột ngột xảy ra: thiếu lúa mì trầm trọng sẽ gây ra vụ sụp đổ ở đất nước nông nghiệp; nhà vua tịch thu hầu hết tiền trong tay các nhà tài phiệt, và gây ra cuộc suy thoái đột ngột; chiến tranh sẽ làm gián đoạn các mô hình thương mại. Trong mỗi trường hợp vừa nói, có một cú đánh cụ thể nhắm vào thương mại, do một nguyên nhân dễ nhận thấy gây ra, không cần phải tìm kiếm thêm giải thích.
Vậy tại sao lại xuất hiện hiện tượng mới là chu kỳ kinh doanh? Người ta thấy rằng chu kỳ này xảy ra ở những khu vực kinh tế phát triển nhất trong mỗi quốc gia: tại các thành phố cảng, ở những khu vực giao thương với các trung tâm sản xuất và hoạt động tiên tiến nhất thế giới. Hai hiện tượng khác biệt và cực kỳ quan trọng bắt đầu xuất hiện trên quy mô đáng kể ở Tây Âu trong giai đoạn này, chính xác là ở những trung tâm sản xuất và thương mại tiên tiến nhất: công nghiệp hóa và ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng “dự trữ theo tỷ lệ” mà chúng ta đã phân tích ở trên, London là nơi đặt ngân hàng trung ương đầu tiên trên thế giới, Ngân hàng Anh, ra đời hồi đầu thế kỷ XVIII. Đến thế kỷ XIX, trong môn kinh tế học mới và giữa các tác giả và nhà bình luận tài chính, hai loại lý thuyết bắt đầu xuất hiện nhằm giải thích hiện tượng mới mẻ và không được mong muốn này: những lý thuyết đổ lỗi cho công nghiệp, và những lý thuyết tập trung vào hệ thống ngân hàng. Tóm lại, những người theo trường phái đổ lỗi cho công nghiệp cho rằng trách nhiệm đối với chu kỳ kinh doanh nằm sâu bên trong nền kinh tế thị trường tự do—và các nhà kinh tế học đó dễ dàng kêu gọi hoặc là xóa bỏ thị trường (ví dụ, Karl Marx) hoặc là chính phủ kiểm soát và điều tiết mạnh mẽ để giảm bớt chu kỳ kinh doanh (ví dụ, Lord Keynes). Mặt khác, những nhà kinh tế học cho rằng lỗi nằm ở hệ thống ngân hàng dự trữ theo lỷ lệ thì đổ lỗi cho những thứ nằm bên ngoài nền kinh tế thị trường và quy lỗi cho một lĩnh vực—tiền tệ và ngân hàng—mà ngay cả chủ nghĩa tự do cổ điển Anh cũng chưa bao giờ thoát khỏi sự kiểm soát chặt chẽ của chính phủ. Ngay cả trong thế kỷ XIX, khi đó, đổ lỗi cho các ngân hàng về cơ bản có nghĩa là đổ lỗi cho chính phủ, coi chính phủ là nguyên nhân tạo ra chu kỳ bùng nổ-suy thoái.
Ở đây, chúng ta không thể đi sâu vào chi tiết về vô số sai lầm của các trường phái tư tưởng đổ lỗi cho nền kinh tế thị trường về chu kỳ; chỉ cần nói rằng những lý thuyết này không thể giải thích được sự tăng giá trong thời kỳ bùng nổ hay giảm giá trong thời kỳ suy thoái, hay hàng loạt sai lầm lớn đột ngột xuất hiện dưới dạng những khoản thua lỗ nặng nề khi thời kỳ bùng nổ chuyển sang giai đoạn suy thoái.
Những nhà kinh tế học đầu tiên phát triển lý thuyết về chu kỳ tập trung vào hệ thống tiền tệ và ngân hàng là nhà kinh tế học cổ điển người Anh, đầu thế kỷ XIX, David Ricardo và những đệ tử của ông, họ đã xây dựng được “lý thuyết tiền tệ” về chu kỳ kinh doanh[4]. Lý thuyết của Ricardo đại khái như sau: các ngân hàng dự trữ theo tỷ lệ, được thúc đẩy và kiểm soát bởi chính phủ và ngân hàng trung ương, sẽ mở rộng tín dụng. Khi tín dụng được mở rộng và tăng lên dựa trên tiền giấy và vàng, nguồn cung tiền (dưới dạng tiền gửi ngân hàng hoặc, trong giai đoạn lịch sử đó, là tiền giấy) sẽ tăng lên. Sự mở rộng của nguồn cung tiền làm cho giá cả tăng và khởi động cơn sốt lạm phát. Khi đợt bùng nổ (thị trường) tiếp diễn, được thúc đẩy bởi sự chồng chất (hoặc xây dựng theo hình kim tự tháp) của giấy bạc ngân hàng và tiền gửi trên nền tảng vàng, giá cả trong nước cũng tăng lên. Nhưng điều này có nghĩa là giá cả trong nước sẽ cao hơn, và ngày càng cao hơn, so với giá hàng nhập khẩu, dẫn đến việc nhập khẩu tăng và xuất khẩu giảm. Thâm hụt cán cân thanh toán sẽ xuất hiện và ngày càng mở rộng, và thâm hụt này sẽ phải được thanh toán bằng vàng chảy ra khỏi quốc gia đang lạm phát và chảy vào các quốc gia có đồng tiền mạnh. Nhưng khi vàng chảy ra, tháp tiền tệ và ngân hàng đang mở rộng sẽ ngày càng mất cân đối, và các ngân hàng sẽ phát hiện được nguy cơ phá sản ngày càng tăng. Cuối cùng, chính phủ và các ngân hàng sẽ phải chấm dứt việc mở rộng cung tiền, và để tự cứu mình, các ngân hàng sẽ phải thắt chặt các khoản cho vay và tiền sổ séc của họ.
Cú chuyển dịch đột ngột từ mở rộng tín dụng ngân hàng sang thu hẹp đảo ngược bức tranh kinh tế và suy thoái nhanh chóng xảy ra ngay sau giai đoạn bùng nổ. Các ngân hàng phải thu hẹp hoạt động, và các doanh nghiệp cũng như hoạt động kinh tế bị ảnh hưởng khi áp lực trả nợ và thu hẹp ngày càng tăng. Sụt giảm cung tiền, đến lượt nó, lại dẫn đến sự sụt giảm chung về giá cả (deflation- giảm phát). Giai đoạn suy thoái hoặc khủng hoảng đã tới. Tuy nhiên, khi cung tiền và giá cả giảm, hàng hóa lại trở nên cạnh tranh hơn với các sản phẩm nước ngoài và cán cân thanh toán lại đảo ngược, thặng dư thay thế thâm hụt. Vàng lại chảy vào, còn khi tiền giấy và tiền gửi ngân hàng co lại trong khi số lượng vàng dự trũ gia tăng, tình hình của các ngân hàng trở nên lành mạnh hơn hẳn, và phục hồi bắt đầu diễn ra.
Lý thuyết của Ricardo có một số đặc điểm đáng chú ý: Giải thích sự biến động của giá cả bằng cách tập trung vào những thay đổi trong cung tiền ngân hàng (thực tế luôn tăng trong thời kỳ bùng nổ và giảm trong thời kỳ suy thoái). Nó cũng giải thích những biến động trong cán cân thanh toán. Hơn nữa, nó còn liên kết bùng nổ và sự suy thoái, coi suy thoái là hậu quả của giai đoạn bùng nổ trước đó. Và không chỉ là hậu quả, mà còn là phương tiện hữu ích để điều chỉnh nền kinh tế trước sự can thiệp thiếu khôn ngoan đã tạo ra bùng nổ lạm phát.
Tóm lại, đây là lần đầu tiên suy thoái được xem không phải là chuyến viếng thăm từ địa ngục hay thảm họa do hoạt động bên trong của nền kinh tế thị trường công nghiệp hóa tạo ra. Những người theo trường phái Ricardo nhận ra rằng tai họa lớn nhất chính là sự bùng nổ lạm phát trước đó - do những hành động can thiệp của chính phủ vào hệ thống tiền tệ và ngân hàng - và suy thoái, mặc dù các triệu chứng của nó có thể không đáng mong muốn, nhưng thực sự là quá trình điều chỉnh cần thiết để vụ bùng nổ do can thiệp gây ra được cuốn trôi khỏi hệ thống kinh tế. Suy thoái là quá trình mà nền kinh tế thị trường điều chỉnh, loại bỏ những biến dạng và những thái quá của bùng nổ lạm phát, và tái lập điều kiện kinh tế lành mạnh. Suy thoái là phản ứng khó chịu nhưng cần thiết đối với những biến dạng và thái quá của vụ bùng nổ trước đó.
Thế thì tại sao chu kỳ kinh doanh lại diễn ra hết lần này tới lần khác? Tại sao chu kỳ bùng nổ và suy thoái tiếp theo luôn diễn ra? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải hiểu động cơ của các ngân hàng và chính phủ. Các ngân hàng thương mại tồn tại và sinh lời bằng cách mở rộng tín dụng và tạo ra nguồn cung tiền mới; vì vậy, họ có xu hướng tự nhiên làm như thế, “tiền tệ hóa tín dụng”, nếu có thể. Chính phủ cũng muốn lạm phát, vừa để tăng thu nhập của mình (bằng cách in tiền hoặc để hệ thống ngân hàng có thể tài trợ cho những khoản thâm hụt ngân sách) vừa để trợ cấp cho các nhóm kinh tế và chính trị được họ ưu ái thông qua những vụ bùng nổ và tín dụng giá rẻ. Cho nên, chúng ta biết vì sao vụ bùng nổ ban đầu được khởi động. Chính phủ và các ngân hàng phải rút lui khi bị thảm họa đe dọa và thời điểm khủng hoảng đã tới. Nhưng khi vàng chảy vào, thì tình hình của các ngân hàng trở nên vững chắc hơn. Và khi các ngân hàng đã phục hồi khá tốt, họ sẽ ở vị thế tự tin để tiếp tục xu hướng tự nhiên của mình là thổi phồng nguồn cung tiền và tín dụng. Và cứ thế, vụ bùng nổ sau đó sẽ tiếp tục diễn ra, gieo mầm cho vụ sụp đổ không thể tránh khỏi tiếp theo.
Do đó, lý thuyết của Ricardo cũng giải thích quá trình lặp đi lặp lại liên tục của chu kỳ kinh doanh. Nhưng lý thuyết này không giải thích được sự kiện. Thứ nhất, và quan trọng nhất, nó không giải thích được một loạt sai lầm lớn mà các doanh nhân đột nhiên mắc phải khi khủng hoảng ập đến và sau đó là vụ sụp đổ. Bởi vì các doanh nhân được đào tạo để trở thành những người dự báo thành công, và họ không thể đột nhiên mắc phải một loạt sai lầm nghiêm trọng khiến họ phải chịu những tổn thất nặng nề và lan rộng. Thứ hai, một đặc điểm quan trọng khác của tất cả các chu kỳ kinh doanh là cả vụ bùng nổ cũng như sụp đổ trong “các ngành công nghiệp hàng hóa tư bản” (các ngành sản xuất máy móc, thiết bị, nhà máy hoặc nguyên liệu công nghiệp thô) đều nghiêm trọng hơn hẳn so với các ngành hàng tiêu dùng. Và lý thuyết Ricardo không giải thích được đặc điểm này của chu kỳ kinh doanh.
Lý thuyết chu kỳ kinh doanh của Trường phái Áo, hay còn gọi là lý thuyết của Mises, được xây dựng dựa trên phân tích của Ricardo và phát triển lý thuyết “đầu tư tiền tệ quá mức” hay nói đúng hơn là lý thuyết “đầu tư tiền tệ sai lệch” về chu kỳ kinh doanh. Lý thuyết của Trường phái Áo không chỉ giải thích được các hiện tượng mà Ricardo đã giải thích, mà còn giải thích được một loạt sai sót và cường độ lớn hơn của chu kỳ hàng hóa vốn. Và, như chúng ta sẽ thấy, đây là lý thuyết duy nhất có thể giải thích được hiện tượng đình lạm (stagflation) trong thời hiện đại.
Tương tự như trường phái Ricardo, Mises nói rằng chính phủ và ngân hàng trung ương kích thích mở rộng tín dụng ngân hàng bằng cách mua tài sản và do đó làm gia tăng dự trữ ngân hàng. Các ngân hàng tiếp tục mở rộng tín dụng và do đó cung tiền của quốc gia dưới hình thức tiền gửi thanh toán (tiền giấy của ngân hàng tư nhân hầu như đã biến mất). Cũng giống như những người theo trường phái Ricardo, Mises nhận thấy rằng vụ mở rộng tiền ngân hàng này làm tăng giá cả và gây ra lạm phát.
Nhưng, như Mises chỉ ra rằng, trường phái Ricardo đánh giá thấp hậu quả đáng tiếc của lạm phát tín dụng ngân hàng. Vì một sự kiện nào đó còn đen tối hơn đang diễn ra. Việc mở rộng tín dụng ngân hàng không chỉ làm tăng giá mà còn làm giảm lãi suất một cách giả tạo, và do đó, gửi đi những tín hiệu sai tới các doanh nhân, khiến họ thực hiện các khoản đầu tư thiếu vững chắc và không kinh tế.
Vì, trên thị trường tự do và không bị hạn chế, lãi suất cho vay được xác định hoàn toàn bởi “sở thích theo thời gian” của tất cả những người tạo ra nền kinh tế thị trường. Vì bản chất của bất kỳ khoản vay nào đều là “hàng hóa trong hiện tại” (tiền có thể được sử dụng ở hiện tại) đang được trao đổi lấy “hàng hóa trong tương lai” (giấy nợ có thể được sử dụng vào một thời điểm nào đó trong tương lai). Vì mọi người luôn thích có tiền ngay bây giờ hơn là có triển vọng nhận được cùng một lượng tiền đó tại một thời điểm nào đó trong tương lai, nên trên thị trường, hàng hóa trong hiện tại (present goods) luôn có một khoản bù đắp (premium) so với hàng hóa trong tương lai (future goods). Mức chênh lệch, hay “agio”, chính là lãi suất, và lãi suất thay đổi tùy theo mức độ mọi người thích hiện tại hơn tương lai, tức là mức độ ưa thích theo thời gian của họ.
Sở thích theo thời gian của dân chúng cũng quyết định mức độ tiết kiệm và đầu tư của họ cho tương lai, so với mức độ tiêu dùng trong hiện tại. Nếu sở thích theo thời gian của dân chúng giảm, tức là nếu mức độ ưu tiên cho hiện tại so với tương lai của họ giảm, thì người ta sẽ có xu hướng tiêu dùng trong hiện tại ít hơn, và sẽ tiết kiệm và đầu tư nhiều hơn; đồng thời, cũng vì lý do tương tự, lãi suất, hay tỷ lệ chiết khấu theo thời gian, cũng sẽ giảm. Tăng trưởng kinh tế phần lớn là kết quả của giảm tỷ lệ sở thích theo thời gian, dẫn đến gia tăng tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư so với tiêu dùng, cũng như giảm lãi suất.
Nhưng chuyện gì sẽ xảy ra khi lãi suất giảm không phải là do người dân tự nguyện giảm sở thích theo thời gian và gia tăng tiết kiệm, mà do sự can thiệp của chính phủ nhằm thúc đẩy mở rộng tín dụng ngân hàng và tiền ngân hàng? Vì sổ séc (checkbook) mới, số tiền được tạo ra trong quá trình các ngân hàng cho doanh nghiệp vay sẽ đổ vào thị trường như là nguồn cung cho các khoản vay, và do đó, ít nhất là ban đầu, sẽ làm giảm lãi suất. Nói cách khác, chuyện gì sẽ xảy ra khi lãi suất giảm một cách giả tạo, do sự can thiệp, chứ không phải tự nhiên - từ những thay đổi trong định giá và sở thích của người tiêu dùng?
Sẽ xảy ra rắc rối. Đối với các doanh nhân, khi thấy lãi suất giảm, họ sẽ phản ứng như thường lệ trước sự thay đổi của tín hiệu thị trường như thế: họ sẽ đầu tư nhiều hơn vào hàng hóa vốn. Các khoản đầu tư, đặc biệt là vào các dự án dài hạn và tốn thời gian, trước đây dường như không có lời, giờ đây lại dường như có lời, đó là do lãi suất đã giảm. Tóm lại, các doanh nhân sẽ phản ứng như thể họ sẽ làm nếu khoản tiết kiệm thực sự tăng lên: họ chuyển sang đầu tư những khoản được coi là tiết kiệm đó. Họ mở rộng đầu tư vào thiết bị bền vững, vào hàng hóa vốn, vào nguyên liệu công nghiệp thô và xây dựng, hơn là trực tiếp sản xuất hàng tiêu dùng.
Do đó, các doanh nghiệp vui vẻ vay vốn ngân hàng vừa được mở rộng với lãi suất thấp hơn; họ sử dụng số tiền này để đầu tư vào hàng hóa vốn, và cuối cùng số tiền này được trả bằng tiền công cao hơn cho người lao động trong các ngành hàng hóa vốn. Nhu cầu kinh doanh tăng lên, làm gia tăng chi phí lao động, nhưng các doanh nghiệp nghĩ rằng họ có thể chi trả những chi phí cao hơn này vì họ đã bị lừa vì chính phủ và ngân hàng can thiệp vào thị trường cho vay và sự can thiệp cực kỳ quan trọng của chính phủ vào tín hiệu lãi suất của thị trường - quyết định bao nhiêu nguồn lực sẽ được dành cho sản xuất hàng hóa vốn và bao nhiêu nguồn lực sẽ được dành cho hàng tiêu dùng.
Vấn xuất hiện khi người lao động bắt đầu chi tiêu số tiền ngân hàng vừa phát ra mà họ nhận được dưới hình thức tiền công cao hơn. Vì sở thích theo thời gian của dân chúng chưa thực sự giảm xuống; dân chúng không muốn tiết kiệm nhiều hơn mức họ độ hiện tại. Tóm lại, người lao động bắt đầu tiêu dùng phần lớn thu nhập mới của họ để thiết lập lại tỷ lệ tiêu dùng/tiết kiệm cũ. Có nghĩa là giờ đây họ chuyển hướng chi tiêu vào các ngành công nghiệp hàng tiêu dùng, và họ không tiết kiệm và đầu tư đủ để mua máy móc, thiết bị vốn, nguyên liệu công nghiệp thô, v.v. mới được sản xuất. Việc thiếu hụt tiết kiệm và đầu tư để mua tất cả các hàng hóa vốn mới với mức giá dự kiến và đang có cho thấy sự suy thoái đột ngột, mạnh mẽ trong các ngành hàng hóa vốn. Vì, một khi người tiêu dùng thiết lập lại tỷ lệ tiêu dùng/đầu tư đáng mong muốn, có nghĩa là doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều vào hàng hóa vốn (do đó có thuật ngữ “lý thuyết đầu tư tiền tệ quá mức”), và cũng đã đầu tư quá ít vào hàng tiêu dùng. Doanh nghiệp đã bị cám dỗ bởi sự can thiệp của chính phủ và việc hạ thấp lãi suất một cách giả tạo, và hành động như thể có nhiều tiền tiết kiệm để đầu tư hơn là thực tế đang diễn ra. Ngay khi dòng tiền ngân hàng mới được lọc qua hệ thống và người tiêu dùng thiết lập lại tỷ lệ sở thích cũ theo thời gian, thì cũng rõ ràng là không có đủ tiền tiết kiệm để mua tất cả hàng hóa của nhà sản xuất, và doanh nghiệp đã đầu tư sai số tiền tiết kiệm hạn chế hiện có ("lý thuyết đầu tư tiền tệ sai lầm”). Doanh nghiệp đã đầu tư quá mức vào hàng hóa vốn và đầu tư quá ít vào hàng tiêu dùng.
Do đó, sự bùng nổ lạm phát làm cho hệ thống định giá và sản xuất biến dạng. Giá nhân công, giá nguyên liệu thô và máy móc trong các ngành công nghiệp hàng hóa tư bản, trong thời kỳ bùng nổ, bị đẩy lên quá cao, không thể sinh lời khi người tiêu dùng có thể khôi phục lại các sở thích tiêu dùng/đầu tư cũ. Do đó, “suy thoái” được coi – thậm chí còn rõ ràng hơn trong lý thuyết Ricardo – là giai đoạn cần thiết và lành mạnh mà nền kinh tế thị trường loại bỏ và thanh lý các khoản đầu tư không lành mạnh, phi kinh tế của thời kỳ bùng nổ, đồng thời thiết lập lại tỷ lệ giữa tiêu dùng và đầu tư mà người tiêu dùng thực sự mong muốn. Suy thoái là quá trình đầy đau đớn, nhưng cần thiết để thị trường tự do thoát khỏi những thái quá và sai lầm của thời kỳ bùng nổ, đồng thời tái lập nền kinh tế thị trường trong chức năng phục vụ hiệu quả đại bộ phận người tiêu dùng. Do giá các yếu tố sản xuất (đất đai, lao động, máy móc, nguyên liệu thô) đã được trả giá quá cao trong các ngành hàng tư liệu sản xuất trong thời kỳ bùng nổ, có nghĩa là trong thời kỳ suy thoái, những mức giá này phải giảm cho đến khi tỷ lệ giá cả và sản lượng trên thị trường phù hợp được khôi phục lại.
Nói cách khác, vụ bùng nổ lạm phát không chỉ làm tăng giá cả nói chung mà còn làm biến dạng một cách tương đối giá cả, làm biến dạng mối quan hệ giữa các loại giá. Tóm lại, việc mở rộng tín dụng lạm phát sẽ làm tăng giả cả tất cả các loại hàng hoá; nhưng giá cả và tiền lương trong các ngành hàng tư liệu sản xuất sẽ tăng nhanh hơn giá cả trong các ngành hàng tiêu dùng. Tóm lại, vụ bùng nổ trong ngành hàng tư liệu sản xuất sẽ mạnh hơn so với ngành hàng tiêu dùng. Mặt khác, bản chất của giai đoạn điều chỉnh suy thoái sẽ là giảm giá và tiền công trong các ngành hàng tư liệu sản xuất so với ngành hàng tiêu dùng, nhằm khuyến khích các nguồn lực chuyển từ ngành hàng tư liệu sản xuất đang dư thừa sang các ngành hàng tiêu dùng đang thiếu hụt. Tất cả giá cả sẽ giảm do tín dụng ngân hàng bị thu hẹp, nhưng giá cả và tiền công của hàng hóa tư bản sẽ giảm mạnh hơn so với hàng tiêu dùng. Tóm lại, cả vụ bùng nổ và suy thoái đều sẽ diễn ra mạnh mẽ hơn trong ngành hàng tư bản so với ngành hàng tiêu dùng. Do đó, chúng tôi đã giải thích cường độ chu kỳ kinh doanh trong ngành công nghiệp tư bản diễn ra mạnh mẽ hơn.
Tuy nhiên, lý thuyết này dường như có sai sót; vì, do người lao động nhận được khoản tiền tăng thêm - tiền lương cao hơn một cách nhanh chóng - và sau đó bắt đầu khẳng định lại tỷ lệ tiêu dùng/đầu tư mà họ mong muốn, thế thì làm sao vụ bùng nổ lại kéo dài trong nhiều năm mà không bị trừng phạt: không phát hiện ra các khoản đầu tư không lành mạnh hoặc những sai lầm do ngân hàng can thiệp vào các tín hiệu thị trường? Tóm lại, tại sao quá trình điều chỉnh suy thoái lại mất nhiều thời gian như thế mới bắt đầu hoạt động? Câu trả lời là vụ bùng nổ thực sự sẽ rất ngắn (ví dụ, vài tháng) nếu việc mở rộng tín dụng ngân hàng và việc đẩy lãi suất xuống dưới mức thị trường tự do lúc đó chỉ diễn ra có một lần. Nhưng mấu chốt là mở rộng tín dụng không phải chỉ diễn ra một lần. Nó cứ tiếp diễn, mà không bao giờ cho người tiêu dùng cơ hội tái lập tỷ lệ tiêu dùng và tiết kiệm mà họ mong muốn, không bao giờ cho phép sự gia tăng chi phí trong các ngành công nghiệp hàng hóa tư bản bắt kịp với sự gia tăng giá cả do lạm phát gây ra. Giống như việc tiêm thuốc kích thích liên tục cho một con ngựa, vụ bùng nổ được duy trì và đi trước sự trừng phạt không thể tránh khỏi của nó bằng những liều thuốc kích thích tín dụng ngân hàng liên tục và tăng tốc. Chỉ khi việc mở rộng tín dụng ngân hàng cuối cùng phải dừng lại hoặc chậm lại đáng kể, hoặc vì các ngân hàng đang lung lay hoặc vì công chúng đang trở nên bất an trước tình trạng lạm phát liên tục, thì sự trừng phạt cuối cùng mới bắt kịp vụ bùng nổ. Ngay khi mở rộng tín dụng dừng lại, thì cũng là lúc phải trả giá, và những điều chỉnh không thể tránh khỏi, sẽ phải thanh lý các khoản đầu tư quá mức trong giai đoạn bùng nổ, đồng thời định hướng lại nền kinh tế, tập trung nhiều hơn vào sản xuất hàng hóa tiêu dùng. Và dĩ nhiên, giai đoạn bùng nổ được duy trì càng lâu, thì số lượng đầu tư sai lầm phải thanh lý càng lớn, và những điều chỉnh cần thực hiện sẽ càng khủng khiếp hơn.
Như vậy, Lý thuyết của Trường phái Áo giải thích được một loạt sai lầm lớn — cụ thể là các khoản đầu tư quá mức vào các ngành công nghiệp tư bản bỗng nhiên bị phơi bày sau khi kích thích nhân tạo là mở rộng tín dụng ngừng lại — và giải thích được cường độ bùng nổ và suy thoái lớn hơn ở các ngành sản xuất hàng hoá tư bản so với các ngành sản xuất hàng hoá tiêu dùng. Lý giải của lý thuyết này về sự tái diễn, về sự khởi đầu của đợt bùng nổ tiếp theo, tương tự như lý thuyết Ricardo; một khi quá trình thanh lý và phá sản diễn ra, và việc điều chỉnh giá cả và sản xuất hoàn tất, nền kinh tế và các ngân hàng bắt đầu phục hồi, và các ngân hàng có thể tự thiết lập để trở lại lộ trình mở rộng tín dụng tự nhiên và đáng mong muốn của mình.
Còn giải thích của Trường phái Áo - giải thích duy nhất được đưa ra - về tình trạng đình lạm thì sao? Tại sao trong những vụ suy thoái gần đây, giá cả lại tiếp tục tăng? Trước hết, chúng ta phải sửa đổi luận điểm này bằng cách chỉ ra rằng, đặc biệt là giá hàng hóa tiêu dùng tiếp tục tăng trong thời kỳ suy thoái, làm công chúng bối rối vì họ phải chịu đựng điều tồi tệ nhất của cả hai hiện tượng cùng một lúc: thất nghiệp cao và chi phí sinh hoạt tăng. Ví dụ, trong cuộc suy thoái gần đây nhất, năm 1974–1976, giá hàng hóa tiêu dùng tăng nhanh, nhưng giá bán buôn vẫn ổn định, trong khi giá nguyên liệu công nghiệp thô lại giảm nhanh và giảm đáng kể. Vậy thì, làm sao chi phí sinh hoạt vẫn tiếp tục tăng trong các cuộc suy thoái hiện nay?
Xin cùng quay lại và xem xét chuyện gì đã xảy ra với giá cả trong chu kỳ bùng nổ-suy thoái “cổ điển”, hay chu kỳ bùng nổ-suy thoái kiểu cũ (trước Thế chiến II). Trong thời kỳ bùng nổ, cung tiền tăng, giá cả nói chung cũng tăng, nhưng giá hàng hóa tư bản tăng nhiều hơn hàng tiêu dùng, rút nguồn lực từ ngành hàng tiêu dùng sang ngành hàng hóa tư bản. Tóm lại, trừ đi mức tăng giá chung, so sánh với nhau, trong thời kỳ bùng nổ, giá hàng hóa tư bản tăng còn giá hàng hoá tiêu dùng giảm. Chuyện gì đã xảy ra trong thời kỳ suy thoái? Tình huống ngược lại: cung tiền giảm, giá cả nói chung cũng giảm, nhưng giá hàng hóa tư bản giảm nhiều hơn hàng hoá tiêu dùng, rút nguồn lực từ ngành hàng hoá tư bản trở lại ngành hàng tiêu dùng. Tóm lại, nếu trừ giảm giá chung, trong thời kỳ suy thoái, giá hàng hóa tư bản giảm, còn giá hàng hoá tiêu dùng tăng.
Quan điểm của Trường phái Áo là kịch bản giá tương đối này trong thời kỳ bùng nổ và suy thoái vẫn diễn ra mà không hề thay đổi. Trong giai đoạn bùng nổ, giá hàng hóa tư bản vẫn tăng còn giá hàng tiêu dùng vẫn giảm, đấy là so sánh với nhau, còn trong thời kỳ suy thoái thì ngược lại. Khác biệt là thế giới tiền tệ mới đã xuất hiện, như chúng tôi đã đề cập trước đó trong chương này. Hiện nay, khi chế độ bản vị vàng đã bị xóa bỏ, lúc nào Fed cũng có thể và đang tăng cung tiền, dù đấy có là thời kỳ bùng nổ hay suy thoái thì cũng thế. Cung tiền chưa từng bị thu hẹp kể từ đầu những năm 1930, và có lẽ sẽ không có lần nào như thế trong tương lai gần. Vì vậy, khi cung tiền luôn luôn tăng, giá cả nói chung cũng luôn luôn tăng, có lúc chậm hơn, có lúc nhanh hơn.
Tóm lại, trong thời kỳ suy thoái kinh điển, giá hàng hoá tiêu dùng luôn tăng so với hàng hóa tư bản. Do đó, nếu giá hàng tiêu dùng giảm 10% trong một cuộc suy thoái cụ thể, và giá hàng hóa tư liệu sản xuất giảm 30%, thì giá hàng hoá tiêu dùng đang tăng đáng kể, nếu xét về mặt tương đối. Tuy nhiên, từ góc độ người tiêu dùng, việc chi phí sinh hoạt giảm là điều rất đáng hoan nghênh, và thực sự là đường phủ lên viên thuốc đắng suy thoái hay khủng hoảng. Ngay cả trong Đại suy thoái những năm 1930, với tỷ lệ thất nghiệp rất cao, 75–80% lực lượng lao động vẫn có việc làm và vẫn được mua hàng tiêu dùng với mức giá thấp.
Nhưng giờ đây, với “chính sách điều chỉnh tinh tế” theo trường phái Keynes đang được áp dụng, viên thuốc đắng đã bị lột mất lớp vỏ bọc đường. Giờ đây, khi nguồn cung tiền — và do đó mức giá chung — không bao giờ được phép giảm, thì sự gia tăng tương đối của giá hàng hóa tiêu dùng trong thời kỳ suy thoái cũng sẽ hiện ra trước mắt người tiêu dùng như một sự gia tăng lên rõ rệt của giá danh nghĩa. Trong giai đoạn suy thoái, chi phí sinh hoạt của họ lại tăng lên, khiến họ phải gánh chịu điều tồi tệ nhất của cả hai thế giới; còn trong chu kỳ kinh doanh cổ điển, trước thời đại của Keynes và Hội đồng Cố vấn Kinh tế, ít nhất họ chỉ phải chịu một tai ương tại mỗi thời điểm mà thôi.
Vậy thì, từ phân tích chu kỳ kinh doanh của Trường phái Áo, ta có thể nhanh chóng và dễ dàng rút ra những kết luận nào? Chúng hoàn toàn trái ngược với những kết luận của giới kinh tế học theo trường phái Keynes. Vì căn nguyên của sự méo mó trong sản xuất và giá cả bắt nguồn từ việc mở rộng tín dụng ngân hàng mang tính lạm phát, nên phương thuốc mà Trường phái Áo kê cho chu kỳ kinh doanh là như sau: Thứ nhất, nếu đang trong giai đoạn bùng nổ, chính phủ và các ngân hàng của họ phải lập tức ngừng tạo thêm lạm phát. Đúng là việc chấm dứt chất kích thích nhân tạo này chắc chắn sẽ kết thúc cơn bùng nổ lạm phát và mở đầu cho giai đoạn suy thoái hoặc khủng hoảng không thể tránh khỏi. Nhưng càng trì hoãn việc này, chính phủ sẽ càng khiến những điều chỉnh cần thiết trở nên đau đớn hơn. Càng sớm để quá trình điều chỉnh suy thoái diễn ra, thì càng tốt. Điều đó cũng có nghĩa là chính phủ tuyệt đối không được tìm cách trì hoãn suy thoái; hãy để nó tự diễn ra càng nhanh càng tốt để sự phục hồi thực chất có thể bắt đầu. Cũng vì thế, chính phủ phải đặc biệt tránh mọi hình thức can thiệp mà những người theo trường phái Keynes vốn ưa thích. Không được chống lưng cho các doanh nghiệp yếu kém; không được cứu trợ hay cho họ vay vốn. Làm vậy chỉ kéo dài cơn đau và biến một giai đoạn suy thoái ngắn và dứt khoát thành căn bệnh dai dẳng và mãn tính. Không được cố định hay nâng đỡ tiền công và giá cả — nhất là trong các ngành công nghiệp hàng hóa vốn — vì làm thế chỉ khiến quá trình điều chỉnh bị kéo dài vô thời hạn. Hậu quả là suy thoái và thất nghiệp hàng loạt trong các ngành then chốt này sẽ tiếp diễn không dứt. Chính phủ cũng không được tái lạm phát với hy vọng thoát khỏi suy thoái; bởi ngay cả khi tái lạm phát có thành công (một điều chẳng hề chắc chắn), nó cũng chỉ gieo thêm rắc rối và kéo theo những đợt suy thoái nghiêm trọng hơn sau đó. Chính phủ cũng không nên khuyến khích tiêu dùng hay tăng chi tiêu của mình, vì làm vậy chỉ khiến tỷ lệ tiêu dùng/đầu tư của toàn xã hội tăng thêm — trong khi điều duy nhất giúp quá trình điều chỉnh diễn ra nhanh hơn là hạ thấp tỷ lệ tiêu dùng/tiết kiệm, để những khoản đầu tư sai lệch hiện nay có thể được điều chỉnh và trở nên hiệu quả. Cách duy nhất chính phủ có thể thực sự hỗ trợ là cắt giảm ngân sách của mình, qua đó làm tăng tỷ lệ đầu tư so với tiêu dùng trong nền kinh tế — vì chi tiêu của chính phủ, xét cho cùng, cũng chỉ là một hình thức tiêu dùng của giới quan chức và chính trị gia.
Vì vậy, theo phân tích của Trường phái Áo về suy thoái và chu kỳ kinh doanh, điều mà chính phủ nên làm là: không làm gì hết. Chính phủ cần chấm dứt việc tự mình gây ra lạm phát, rồi sau đó duy trì một chính sách tự do tuyệt đối, “buông tay” để thị trường tự vận hành. Bất cứ hành động can thiệp nào của chính phủ cũng đều sẽ trì hoãn và cản trở quá trình tự điều chỉnh của thị trường; ngược lại, càng ít can thiệp bao nhiêu, thì quá trình điều chỉnh thị trường càng nhanh chóng phát huy tác dụng, và sự phục hồi kinh tế chân chính sẽ càng diễn ra nhanh hơn.
Do đó, “phương thuốc” mà Trường phái Áo kê cho thời kỳ suy thoái là hoàn toàn ngược lại với thuyết của Keynes: chính phủ phải tuyệt đối đứng ngoài nền kinh tế, chỉ giới hạn ở việc ngừng lạm phát và cắt giảm chi tiêu ngân sách của chính mình.
Rõ ràng là phân tích của Trường phái Áo về chu kỳ kinh doanh hoàn toàn phù hợp với quan điểm của chủ nghĩa tự do cá nhân về chính phủ và nền kinh tế tự do. Vì Nhà nước luôn muốn lạm phát và can thiệp vào nền kinh tế, nên phương thuốc của chủ nghĩa tự do cá nhân nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tách biệt hoàn toàn tiền tệ và hoạt động ngân hàng ra khỏi Nhà nước. Có nghĩa là, ít nhất sẽ bao gồm bãi bỏ Hệ thống Dự trữ Liên bang và quay trở lại tiền hàng hóa (ví dụ: vàng hoặc bạc) để đơn vị tiền tệ một lần nữa sẽ là đơn vị đo trọng lượng của một mặt hàng do thị trường sản xuất thay vì là tên của một tờ giấy do bộ máy sản xuất tiền giả của Nhà nước in ra.
[1] Những người theo trường phái Keynes tạo ra được môn “kinh tế vĩ mô” và là học trò của Lord Keynes, nhà kinh tế học giàu có và có sức cuốn hút của Đại học Cambridge, với tác phẩm General Theory of Employment, Interest, and Money (New York: Harcourt Brace, 1936) is the cornerstone of Keynesian eco (New York: Harcourt Brace, 1936) là nền tảng của kinh tế học Keynes.
[2] Dẫn nhập ngắn về lý thuyết chu kỳ kinh doanh của trường phái Áo, mời đọc Murray N. Rothbard, Depressions: Their Cause and Cure (Lansing, Mich.: Constitutional Alliance, March 1969). Lý thuyết được trình bày, rồi được áp dụng vào cuộc Đại Khủng hoảng giai đoạn 1929–1933, và cũng được sử dụng ngắn gọn để lý giải tình trạng đình lạm hiện nay của chúng ta, mời đọc Rothbard, America’s Great Depression, 3rd ed. (Kansas City, Kans.: Sheed and Ward, 1975)
Nguồn tham khảo tốt nhất về lý thuyết tiền tệ của trường phái Áo vẫn là tác phẩm ban đầu của nó: Ludwig von Mises, Theory of Money and Credit, 3rd ed. (Irvingtonon-Hudson, N.Y.: Foundation for Economic Education, 1971). Dẫn nhập, xin mời đọc Rothbard, What Has Government Done to Our Money? 2nd ed. (Los Angeles: Libertarian Publishers, 1974)
[3] “Checkbook money” (còn gọi là tiền sổ séc hoặc deposit money) là loại tiền không tồn tại dưới dạng tiền mặt, mà chỉ tồn tại dưới dạng tiền gửi ngân hàng. Người sở hữu có thể chi tiêu bằng cách viết séc (check) hoặc chuyển khoản – ND.
[4] Muốn tìm hiểu phân tích phần còn lại của chương này, xin mời đọc Rothbard, Depressions: Their Cause and Cure, pp. 13–26.
Nguyên tác: For a New Liberty, Murray N. Rothbard
Bản dịch: Phạm Nguyên Trường dịch
