Vì một nền tự do mới - Chương 7: Giáo dục

Vì một nền tự do mới - Chương 7: Giáo dục

Trường công lập và giáo dục bắt buộc

Cho đến vài năm gần đây, hiếm có thiết chế nào ở Mỹ được coi trọng hơn trường công lập – đặc biệt là đối với những người theo phái tự do. Lòng sùng kính đối với trường công đã chiếm lĩnh tâm hồn của ngay cả những người Mỹ đầu tiên – chẳng hạn như những người theo phái Jefferson và Jackson – vốn là những người có khuynh hướng tự do cá nhân ở hầu hết các phương diện khác. Trong suốt nhiều năm, trường công được xem là thành tố thiết yếu của chế độ dân chủ, là cội nguồn của tình huynh đệ, và là kẻ thù của chủ nghĩa tinh hoa cũng như sự chia rẽ trong đời sống Mỹ. Trường công lập trở thành hiện thân cho cái gọi là quyền được học tập của mọi đứa trẻ, và được ca ngợi như chiếc nôi nuôi dưỡng hiểu biết và hòa hợp giữa những con người thuộc mọi nghề nghiệp và tầng lớp xã hội – những người, ngay từ bé, đã được chạm mặt và tiếp xúc với tất cả hàng xóm quanh mình.

Đi liền với sự lan rộng của giáo dục công lập là các đạo luật bắt buộc đi học, ép buộc tất cả trẻ em đến một độ tuổi tối thiểu – vốn liên tục được nâng cao – phải theo học tại trường công hoặc trường tư thục được bộ máy nhà nước chứng nhận là “thích hợp.” Trái với những thập kỷ trước, khi chỉ một tỷ lệ nhỏ dân số được học ở các bậc cao, thì nay toàn bộ quần chúng đã bị chính phủ cưỡng bức phải dành phần lớn những năm tháng dễ bị ảnh hưởng nhất của đời mình trong các cơ sở công lập. Chúng ta hoàn toàn có thể phân tích luật bắt buộc đi học trong chương nói về lao động cưỡng bức, bởi lẽ còn có thiết chế nào hiển nhiên hơn để mô tả một hệ thống giam cầm khổng lồ? Trong những năm gần đây, Paul Goodman cùng các nhà phê bình giáo dục khác đã vạch trần một cách sâu sắc hệ thống trường công – và ở mức độ nào đó là cả hệ thống trường tư – như một nhà tù vĩ đại dành cho thanh thiếu niên, lôi kéo hàng triệu trẻ em bất đắc dĩ và không thích ứng vào guồng máy học đường. Chiến thuật của phái Tân Tả, khi đột nhập vào các trường trung học và hô vang “Vượt ngục!”, có thể vừa phi lý vừa kém hiệu quả, nhưng hẳn đã phản ánh một sự thật hiển nhiên về hệ thống nhà trường. Bởi nếu chúng ta dồn ép toàn bộ giới trẻ vào những nhà tù rộng lớn dưới danh nghĩa “giáo dục,” với giáo viên và quản trị viên đóng vai trò như những quản giáo thay thế, thì cớ sao lại không thể dự liệu được sự bất hạnh, bất mãn, xa lánh và nổi loạn lan tràn trong thanh thiếu niên cả nước? Điều đáng ngạc nhiên duy nhất chính là sự nổi loạn ấy đã diễn ra chậm đến thế. Thế nhưng, hiện nay ngày càng có nhiều người thừa nhận rằng có điều gì đó vô cùng sai lạc trong “thiết chế đáng tự hào nhất” của nước Mỹ; đặc biệt ở các đô thị, trường công đã trở thành ổ tội phạm, trộm cắp vặt và nghiện ngập; và hầu như chẳng có mấy nền giáo dục đích thực nào diễn ra giữa sự méo mó của tâm trí và tâm hồn trẻ thơ[1].

 

Một phần nguyên nhân dẫn đến sự chuyên chế này đối với trẻ em toàn quốc xuất phát từ lòng vị tha đặt sai chỗ của tầng lớp trung lưu có học. Họ cho rằng những người lao động, hay “tầng lớp thấp hơn”, cũng nên có cơ hội được hưởng nền học vấn mà tầng lớp trung lưu coi trọng đến thế. Và nếu cha mẹ hoặc con cái của quần chúng có dốt nát đến mức khước từ cơ hội huy hoàng ấy, thì cần phải dùng đến một chút cưỡng bức—dĩ nhiên là “vì lợi ích của chính họ”.

 

Sai lầm nghiêm trọng của những người sùng bái trường học thuộc tầng lớp trung lưu là nhầm lẫn giữa học đường chính quy và giáo dục nói chung. Giáo dục là một tiến trình học hỏi suốt đời, diễn ra không chỉ trong trường lớp, mà trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Khi trẻ chơi đùa, khi lắng nghe cha mẹ hay bè bạn, khi đọc báo, hoặc khi làm việc, trẻ đang được giáo dục. Trường lớp chính quy chỉ là một phần nhỏ của quá trình ấy, và thực sự chỉ thích hợp cho các môn học chính quy, đặc biệt là những môn nâng cao, có hệ thống. Các môn căn bản như đọc, viết, số học và các ứng dụng của chúng, hoàn toàn có thể được học ở nhà hoặc ngoài nhà trường.

 

Hơn thế nữa, một trong những vinh quang lớn nhất của nhân loại là tính đa dạng—rằng mỗi người là một cá thể độc nhất, với khả năng, sở thích và năng khiếu riêng. Việc cưỡng ép những đứa trẻ không có khả năng cũng chẳng có hứng thú phải chịu đựng học đường chính quy là một sự bóp méo đầy tội ác đối với tâm hồn và trí tuệ của chúng. Paul Goodman từng lên tiếng rằng, phần lớn trẻ em sẽ tốt hơn nhiều nếu được phép đi làm từ sớm, học một nghề, và bắt tay vào làm những điều phù hợp với chúng nhất. Nước Mỹ đã được dựng xây bởi những công dân và lãnh đạo, nhiều người trong số đó ít học hoặc hầu như không hề học chính quy; và quan niệm rằng phải có tấm bằng trung học—hay ngày nay là bằng Cử nhân, rồi chẳng bao lâu nữa có lẽ là Tiến sĩ—thì mới có thể bắt đầu lao động và sống giữa đời, thật là một sự phi lý của thời đại. Hãy bãi bỏ luật giáo dục bắt buộc và trả lại cho trẻ em quyền tự do học tập, chúng ta sẽ có lại một đất nước với những con người năng suất hơn, say mê hơn, sáng tạo hơn, và hạnh phúc hơn. Nhiều nhà phê bình sâu sắc đối với Tân Tả và cuộc nổi loạn của giới trẻ đã chỉ ra rằng phần lớn sự bất mãn và tình trạng xa rời thực tế ở thanh thiếu niên là hệ quả của quãng thời gian ngày càng kéo dài mà họ phải nán lại trong trường học, bị bao bọc trong cái kén của sự phụ thuộc và vô trách nhiệm. Điều đó đúng, nhưng nguyên nhân cốt lõi của chiếc kén ấy là gì? Hiển nhiên chính là toàn bộ hệ thống, đặc biệt là những đạo luật bắt buộc đi học, vốn rao giảng rằng ai cũng phải gắn chặt với nhà trường—ban đầu là trung học, rồi đến đại học, và chẳng mấy chốc có lẽ là cả bằng Tiến sĩ. Chính sự cưỡng bức học đường đại trà ấy đã tạo nên cả bất mãn lẫn sự che chở kéo dài khỏi “thế giới thực”. Trong không một quốc gia nào khác, cũng không một thời đại nào khác, cơn cuồng loạn về học đường đại trà lại ngự trị đến mức đó.

 

Đáng chú ý là cánh hữu tự do cá nhân cổ điển và phe Tân Tả, từ những góc nhìn rất khác nhau và với những luận điệu rất khác nhau, lại đi đến một nhận thức tương đồng về bản chất chuyên chế của nền giáo dục đại chúng. Albert Jay Nock, lý thuyết gia cá nhân chủ nghĩa kiệt xuất của thập niên 1920–1930, đã lên án hệ thống giáo dục vì ép buộc quần chúng “không thể giáo dục” phải vào trường, dựa trên niềm tin bình đẳng hão huyền rằng mọi đứa trẻ đều có khả năng được giáo dục như nhau. Thay vì chỉ để những đứa trẻ có năng khiếu và khả năng cần thiết được đi học, thì tất cả đều bị cưỡng bức đến trường “vì lợi ích của chúng,” và hậu quả là cuộc đời của những trẻ không phù hợp bị bóp méo, còn nền giáo dục đúng nghĩa dành cho những người thực sự có khả năng thì bị phá hoại. Nock cũng đã phê phán thấu đáo những người bảo thủ tấn công “giáo dục tiến bộ,” cho rằng nó làm loãng tiêu chuẩn giáo dục bằng cách đưa vào các khóa như lái xe, đan rổ, hay chọn nha sĩ. Ông chỉ ra rằng, nếu anh ép buộc cả một đám trẻ không thể tiếp thu nền giáo dục cổ điển phải ngồi trong trường, thì tất yếu phải đẩy giáo dục sang hướng đào tạo nghề, nhằm thích ứng với mẫu số chung thấp nhất. Căn nguyên sai lầm chết người không phải là giáo dục tiến bộ, mà chính là xu hướng phổ cập cưỡng bức—mà “giáo dục tiến bộ” chỉ là một phản ứng chắp vá[2].

 

Về phần mình, các nhà phê bình thuộc phe Tân Tả như John McDermott và Paul Goodman cáo buộc rằng tầng lớp trung lưu đã ép buộc con em của tầng lớp lao động—nhiều em trong số đó có giá trị và năng khiếu hoàn toàn khác biệt—vào hệ thống trường công được thiết kế để nặn chúng theo khuôn mẫu trung lưu. Rõ ràng, bất kể người ta thiên về giai cấp nào hay ủng hộ quan niệm giáo dục nào, thì cốt lõi của những lời phê phán vẫn giống nhau: cả một khối trẻ em khổng lồ đang bị lùa vào một thiết chế mà chúng vừa không hứng thú, vừa không có năng khiếu.

 

Thật vậy, nếu chúng ta nhìn vào lịch sử của phong trào giáo dục công lập và chế độ giáo dục bắt buộc ở quốc gia này cũng như ở những quốc gia khác, ta sẽ thấy gốc rễ của nó không hẳn là lòng vị tha bị đặt sai chỗ, mà là một âm mưu có chủ đích nhằm cưỡng bách đại bộ phận dân chúng phải đi vào khuôn mẫu mà giới cầm quyền mong muốn. Những nhóm thiểu số ngoan cố sẽ bị ép khuôn theo đa số; toàn thể công dân sẽ được thấm nhuần những “đức hạnh công dân”, mà nổi bật và luôn luôn là sự tuân phục bộ máy Nhà nước. Thật vậy, nếu đại đa số dân chúng được dạy dỗ trong các trường công lập, thì làm sao những ngôi trường này lại không trở thành công cụ hùng mạnh để gieo rắc sự phục tùng đối với chính quyền?

 

Martin Luther, một trong những người khởi xướng đầu tiên của phong trào giáo dục Nhà nước bắt buộc trong thời cận đại, đã diễn đạt điều này một cách điển hình trong bức thư nổi tiếng năm 1524 gửi những người cai trị nước Đức:

 

Kính gửi các nhà cai trị... Tôi khẳng định rằng chính quyền dân sự có nghĩa vụ bắt buộc người dân phải cho con em mình đến trường... Nếu chính phủ có thể bắt buộc những công dân đủ điều kiện phục vụ quân ngũ phải mang giáo mác, súng trường, xây dựng chiến lũy và thực hiện các nhiệm vụ quân sự khác trong thời chiến, thì càng có lý do để bắt buộc người dân phải cho con em mình đi học, bởi vì trong trường hợp này, chúng ta đang giao chiến với ma quỷ, kẻ có âm mưu bí mật làm suy kiệt các thành phố và công quốc của chúng ta[3].

 

Đối với Luther, trường học của Nhà nước là một phần không thể thiếu trong “cuộc chiến chống ma quỷ”, tức là chống lại người Công giáo, người Do Thái, người ngoại đạo và các giáo phái Tin Lành đối địch. Một người ngưỡng mộ Luther và giáo dục bắt buộc thời hiện đại đã nhận xét:

 

Giá trị lâu dài và tích cực của bản tuyên ngôn năm 1524 của Luther nằm ở... những mối liên kết thiêng liêng mà nó đã thiết lập cho nước Đức Tin Lành giữa tôn giáo quốc gia và các nghĩa vụ giáo dục của cá nhân cũng như của nhà nước. Do đó, chắc chắn nó đã tạo ra một dư luận “lành mạnh” khiến nguyên tắc bắt buộc đi học dễ dàng được chấp nhận ở Phổ sớm hơn hẳn so với ở Anh[4].

 

 

Người sáng lập Tin Lành vĩ đại khác, John Calvin - vì những lý do tương tự - cũng nhiệt thành không kém trong việc thúc đẩy hệ thống trường công lập dành cho quần chúng, Do đó, không có gì ngạc nhiên khi hệ thống trường học bắt buộc đầu tiên ở Mỹ được thành lập bởi những người Thanh giáo Calvinist tại vùng Vịnh Massachusetts — những người háo hức gieo trồng một chế độ thần quyền Calvin chuyên chế ở Tân Thế giới. Tháng 6 năm 1642, chỉ một năm sau khi thuộc địa Vịnh Massachusetts ban hành bộ luật đầu tiên, họ đã thiết lập hệ thống giáo dục bắt buộc đầu tiên trong thế giới nói tiếng Anh. Luật này tuyên bố:

 

Vì việc giáo dục tốt cho trẻ em mang lại lợi ích đặc biệt cho bất kỳ cộng đồng nào, và trong khi nhiều bậc phụ huynh và chủ nhân quá nuông chiều hay lơ là nhiệm vụ của họ, thì các ủy viên hội đồng ở mỗi thị trấn… phải luôn cảnh giác với hàng xóm của mình, trước hết là để đảm bảo rằng không ai trong số họ để mặc cho sự man rợ lan tràn trong gia đình đến mức không cố gắng — tự mình hay nhờ người khác — dạy dỗ con cái và học trò của mình[5].

 

Năm năm sau, Vịnh Massachusetts tiếp tục triển khai luật này bằng việc thành lập các trường công lập.

 

Vì vậy, ngay từ thuở ban đầu trong lịch sử Hoa Kỳ, ý muốn uốn nắn, răn dạy và khiến quần chúng phục tùng đã là động lực chính thúc đẩy nền giáo dục công lập. Trong thời thuộc địa, trường công được sử dụng như một công cụ đàn áp bất đồng tôn giáo, cũng như để dạy cho người hầu cứng đầu đức tính phục tùng Nhà nước. Ví dụ điển hình: trong quá trình đàn áp giáo phái Quaker, Massachusetts và Connecticut đã cấm giáo phái bị khinh miệt này lập trường học riêng. Và Connecticut, trong một nỗ lực vô ích nhằm đàn áp phong trào “Ánh sáng Mới”, vào năm 1742 đã cấm họ lập bất kỳ trường học nào của riêng mình. Nếu không, như chính quyền Connecticut lập luận, New Lights “có thể đào tạo thanh thiếu niên theo những nguyên tắc và thực hành sai trái, và gây ra những rối loạn có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng cho hòa bình và thịnh vượng chung của thuộc địa.”[6] Không phải ngẫu nhiên mà thuộc địa tự do thực sự duy nhất ở New England — Rhode Island — cũng là thuộc địa duy nhất trong khu vực không có trường công lập.

 

Sau khi giành độc lập, động lực cho việc xây dựng nền giáo dục công lập và bắt buộc hầu như không khác gì về chất. Do đó, Archibald D. Murphey, cha đẻ của hệ thống trường công ở Bắc Carolina, đã kêu gọi thành lập những ngôi trường này bằng những lời lẽ sau:

 

Tất cả trẻ em sẽ được dạy dỗ trong những ngôi trường này… Trong những ngôi trường ấy, các giáo lý về đạo đức và tôn giáo cần được thấm nhuần, và thói quen phục tùng cùng vâng lời cần được hình thành… Cha mẹ các em không biết cách dạy dỗ các em… Nhà nước, với tình cảm ấm áp và sự quan tâm đến phúc lợi của các em, phải chăm lo cho những đứa trẻ đó, đặt chúng vào ngôi trường nơi trí óc được khai sáng và tâm hồn được rèn luyện để hướng đến đức hạnh[7].

 

Một trong những mục đích phổ biến nhất của giáo dục công lập bắt buộc là áp bức và làm tê liệt các dân tộc thiểu số về sắc tộc và ngôn ngữ, hay các dân tộc bị trị—buộc họ phải từ bỏ ngôn ngữ và văn hóa riêng để phục tùng ngôn ngữ và văn hóa của giai cấp thống trị. Người Anh ở Ireland và Quebec, cũng như các quốc gia khắp Trung và Đông Âu và cả châu Á—tất cả đều lùa các dân tộc thiểu số vào những ngôi trường công do kẻ thống trị điều hành. Một trong những ngọn lửa mạnh mẽ nhất hun đúc sự bất mãn và nổi dậy nơi các dân tộc bị áp bức chính là khát vọng giải thoát ngôn ngữ và di sản của mình khỏi thứ vũ khí mang tên trường công. Chính vì thế, Ludwig von Mises, nhà tư tưởng tự do cổ vũ kinh tế thị trường, đã viết rằng trong các quốc gia đa ngôn ngữ:

 

việc tiếp tục duy trì chính sách giáo dục bắt buộc hoàn toàn không tương thích với những nỗ lực kiến tạo hòa bình trong dài hạn. Câu hỏi ngôn ngữ nào được chọn làm nền tảng cho việc giảng dạy có ý nghĩa quan trọng sống còn. Một quyết định, dù theo hướng nào, qua nhiều năm, có thể định đoạt quốc tịch của cả một vùng đất. Trường học có thể khiến trẻ em tránh xa dân tộc của cha mẹ chúng, và có thể bị dùng như một công cụ để áp bức toàn bộ các dân tộc. Ai kiểm soát trường học, kẻ đó có quyền gây tổn hại cho các dân tộc khác và ban phát lợi ích cho chính mình.

 

Hơn nữa, Mises chỉ ra rằng, sự cưỡng bức vốn có trong chế độ cai trị của một dân tộc đối với dân tộc khác khiến cho việc giải quyết vấn đề bằng cách chính thức cho phép mỗi phụ huynh đưa con đến trường học bằng ngôn ngữ dân tộc mình là điều bất khả thi.

 

Một cá nhân thường không thể—vì sinh kế—công khai tuyên bố mình thuộc dân tộc này hay dân tộc khác. Trong một hệ thống can thiệp, điều đó có thể khiến họ mất sự ủng hộ của khách hàng thuộc sắc tộc khác, hoặc mất việc làm với một doanh nhân khác dân tộc… Nếu để cha mẹ tự chọn trường học cho con cái, thì họ sẽ phải chịu đủ mọi hình thức cưỡng bức chính trị có thể tưởng tượng được. Trong tất cả những khu vực có sự pha trộn sắc tộc, trường học là phần thưởng chính trị quan trọng bậc nhất. Nó không thể nào thoát khỏi tính chất chính trị chừng nào vẫn là một định chế công lập và bắt buộc. Thực tế, chỉ có một giải pháp duy nhất: nhà nước, chính phủ, pháp luật không được phép dính dáng đến bất kỳ việc học hành hay giáo dục nào. Ngân sách công không được sử dụng cho những mục đích như vậy. Việc nuôi dưỡng và giáo dục thanh thiếu niên phải hoàn toàn do cha mẹ, cũng như các hiệp hội và tổ chức tư nhân đảm nhiệm[8].

 

Thực tế, một trong những động lực chính của đội ngũ “cải cách giáo dục” ở Mỹ vào giữa thế kỷ XIX—những người đã thiết lập hệ thống trường công hiện đại—chính là sử dụng nó để làm tê liệt đời sống văn hóa và ngôn ngữ của những làn sóng người nhập cư, và nhào nặn họ, như nhà cải cách giáo dục Samuel Lewis từng nói, thành “một dân tộc”. Chính mong muốn của đa số người Anglo-Saxon nhằm thuần hóa, định hướng và tái cấu trúc người nhập cư, và đặc biệt là phá bỏ hệ thống trường giáo xứ của người Công giáo, đã tạo thành động lực chủ yếu cho công cuộc “cải cách” giáo dục. Những nhà phê bình Tân Tả, khi nhận ra vai trò của trường công ngày nay trong việc làm tê liệt và uốn nắn tâm trí trẻ em ở khu ổ chuột, thực chất chỉ đang nhìn thấy biểu hiện hiện tại của một mục tiêu đã được giới quyền uy trong hệ thống trường công nuôi dưỡng từ lâu—của Horace Mann, Henry Barnard, và Calvin Stowe. Chính Mann và Barnard, chẳng hạn, đã thúc giục việc dùng trường học để tuyên truyền chống lại “quyền lực quần chúng hỗn loạn” của phong trào Jackson. Và chính Stowe, tác giả của một chuyên luận thể hiện sự ngưỡng mộ hệ thống trường học bắt buộc của Phổ—vốn được khởi hứng từ Martin Luther—đã viết về trường học bằng những ngôn từ mang đậm tính Luther và quân sự, không thể nhầm lẫn được:

 

Nếu vì lý do an ninh công cộng mà chính phủ có quyền bắt buộc công dân thực hiện nghĩa vụ quân sự khi đất nước bị xâm lược, thì cùng lý do đó cũng cho phép chính phủ buộc họ phải lo liệu việc học hành cho con em mình… Một người không có quyền gây nguy hại cho quốc gia bằng cách trút lên đó một gia đình những đứa trẻ dốt nát và sa đọa, cũng như anh ta không có quyền dung nạp gián điệp của đội quân xâm lược[9].

 

Bốn mươi năm sau, Newton Bateman, một nhà giáo dục hàng đầu, đã nói về “quyền sở hữu tối thượng” của Nhà nước đối với “tâm trí, linh hồn và thể xác” của trẻ em trong cả nước. Ông khẳng định rằng giáo dục “không thể bị phó mặc cho những ý thích và ngẫu hứng của cá nhân”[10].

 

Nỗ lực tham vọng nhất của những người ủng hộ trường công nhằm tối đa hóa quyền kiểm soát trẻ em trong cả nước diễn ra ở Oregon vào đầu những năm 1920. Bang Oregon, vốn không hài lòng ngay cả với việc cho phép tồn tại các trường tư thục được bang chứng nhận, đã thông qua vào ngày 7 tháng 11 năm 1922 một đạo luật cấm các trường tư và buộc tất cả trẻ em phải theo học trường công. Đây chính là đỉnh điểm trong giấc mơ của giới giáo dục chủ trương trường công. Cuối cùng, toàn bộ trẻ em đều bị chính quyền bang cưỡng bức đưa vào khuôn mẫu “dân chủ hóa” của một nền giáo dục đồng nhất do nhà nước áp đặt. May mắn thay, năm 1925, đạo luật này đã bị Tòa án Tối cao Hoa Kỳ tuyên bố là vi hiến (Pierce kiện Hội Nữ tu, ngày 1 tháng 6 năm 1925). Tòa án Tối cao khẳng định rằng “trẻ em không chỉ là tạo vật của Nhà nước” và cho rằng luật Oregon đã xung đột với “học thuyết căn bản về tự do, nền tảng của tất cả các chính phủ trong Liên bang này”. Những người cuồng tín trường công không bao giờ dám đi xa đến mức ấy nữa. Nhưng điều cần suy ngẫm là những thế lực nào đứng sau nỗ lực cấm đoán mọi nền giáo dục tư thục cạnh tranh ở bang Oregon. Bởi vì những kẻ đi tiên phong trong đạo luật đó không phải, như ta có thể nghĩ, là các nhà giáo dục hay trí thức tự do cấp tiến, mà chính là tổ chức Ku Klux Klan, lúc ấy còn đang hùng mạnh ở các bang miền Bắc. Klan khao khát nghiền nát hệ thống trường giáo xứ Công giáo và cưỡng ép toàn bộ trẻ em Công giáo cũng như trẻ em nhập cư vào dòng chảy “Mỹ hóa” và tân-Tin Lành hóa trong hệ thống trường công. Thật đáng chú ý, Klan cho rằng một đạo luật như thế là cần thiết để “bảo tồn các thiết chế tự do”. Phải suy ngẫm rằng hệ thống trường công được ca tụng là “tiến bộ” và “dân chủ” ấy lại có những người ủng hộ nhiệt thành nhất trong những ngõ ngách cố chấp và cực đoan nhất của đời sống Mỹ, nơi những kẻ ấy luôn khao khát dập tắt sự đa dạng và phong phú của quốc gia này[11].

 

Đồng nhất hay đa dạng

 

Mặc dù các nhà giáo dục hiện nay không đi xa như Ku Klux Klan, nhưng điều quan trọng cần nhận ra là bản chất của trường công lập vốn đòi hỏi sự áp đặt tính đồng nhất và triệt tiêu sự đa dạng cùng cá tính trong giáo dục.

 

Bởi lẽ, bản chất của bất kỳ bộ máy quan liêu nào của chính phủ cũng là vận hành theo một bộ quy tắc, và áp đặt những quy tắc đó một cách đồng loạt và cứng nhắc. Nếu không làm như vậy, và viên chức chính phủ quyết định các trường hợp riêng lẻ một cách tùy tiện, thì họ sẽ bị buộc tội—và đúng như thế—là không đối xử bình đẳng và đồng nhất với mọi người nộp thuế và công dân. Họ sẽ bị cáo buộc là phân biệt đối xử và tạo đặc quyền. Hơn nữa, về mặt hành chính, việc thiết lập các quy tắc thống nhất trên toàn bộ phạm vi thẩm quyền bao giờ cũng thuận tiện hơn cho quan chức nhà nước. Trái ngược với doanh nghiệp tư nhân tìm kiếm lợi nhuận, quan chức nhà nước không quan tâm đến hiệu quả cũng như không chú trọng phục vụ khách hàng một cách tốt nhất. Không cần phải mưu cầu lợi nhuận và được che chở khỏi nguy cơ thua lỗ, họ có thể, và thực sự thường xuyên, phớt lờ mong muốn và nhu cầu của khách hàng-người dân. Mối bận tâm chính của họ là “không gây sóng gió”, và họ đạt được điều đó bằng cách áp dụng đồng đều một bộ quy tắc cứng nhắc, bất chấp việc chúng có thể không phù hợp trong từng trường hợp cụ thể.

 

Về phần mình, viên chức quản lý trường công phải đối diện với hàng loạt quyết định then chốt và gây tranh cãi khi xác định mô hình giáo dục chính quy cho khu vực mình phụ trách. Họ phải quyết định: Giáo dục nên theo hướng truyền thống hay tiến bộ? tự do cạnh tranh hay xã hội chủ nghĩa? đặt nặng thi đua hay bình đẳng? thiên về nghệ thuật khai phóng hay đào tạo nghề? phân biệt hay hòa nhập? có giáo dục giới tính hay không? tôn giáo hay thế tục? hay nhiều sắc thái khác nằm giữa các cực này. Vấn đề là, dù họ quyết định thế nào, và ngay cả khi quyết định dựa theo mong muốn của đa số, thì vẫn sẽ luôn có một bộ phận đáng kể phụ huynh và trẻ em hoàn toàn bị tước đoạt nền giáo dục mà họ mong muốn. Nếu quyết định nghiêng về kỷ luật truyền thống trong trường học, thì các bậc phụ huynh có tư tưởng tiến bộ sẽ chịu thiệt thòi, và ngược lại; và điều này đúng với tất cả những quyết định hệ trọng khác. Càng nhiều khía cạnh của giáo dục bị công hữu hóa, cha mẹ và con cái càng bị tước đoạt nền giáo dục mà họ cho là cần thiết. Giáo dục càng trở nên công lập, thì sự đồng nhất cứng nhắc càng dập tắt nhu cầu và khát vọng của các cá nhân và cộng đồng thiểu số.

 

Hậu quả là, giáo dục công lập càng lấn át giáo dục tư thục, thì phạm vi và cường độ xung đột trong đời sống xã hội càng gia tăng. Vì nếu chỉ một cơ quan đưa ra quyết định: có giáo dục giới tính hay không, theo lối truyền thống hay tiến bộ, hòa nhập hay phân biệt, v.v., thì việc giành quyền kiểm soát chính phủ và ngăn chặn đối thủ nắm quyền trở nên đặc biệt quan trọng. Do đó, trong giáo dục cũng như trong mọi lĩnh vực khác, chính phủ càng thay thế quyền tự quyết của cá nhân, thì các nhóm khác nhau càng lao vào cuộc đua quyết liệt để bảo đảm rằng quyết định duy nhất trong từng lĩnh vực trọng yếu phải đi theo hướng của mình.

 

Hãy so sánh sự thiếu thốn và xung đột xã hội gay gắt vốn có trong cơ chế quyết định của chính phủ với tình hình trên thị trường tự do. Nếu giáo dục hoàn toàn mang tính tư nhân, thì mỗi nhóm phụ huynh đều có thể – và sẽ – chọn loại hình trường học riêng của mình. Vô số trường học đa dạng sẽ mọc lên để đáp ứng nhu cầu giáo dục muôn màu muôn vẻ của phụ huynh và con em họ. Có trường theo mô hình truyền thống, có trường theo mô hình tiến bộ. Các trường trải dài từ truyền thống đến tiến bộ; một số thử nghiệm giáo dục bình đẳng, không phân hạng; số khác nhấn mạnh việc học nghiêm ngặt và chấm điểm cạnh tranh. Có trường thế tục, có trường nhấn mạnh những tín điều tôn giáo khác nhau; có trường theo chủ nghĩa tự do, đề cao các giá trị của kinh doanh tự do; lại có trường rao giảng nhiều hình thức chủ nghĩa xã hội khác nhau.

 

Ví dụ, xin xem xét cấu trúc của ngành xuất bản tạp chí và sách hiện nay, đồng thời nhớ rằng bản thân tạp chí và sách cũng là một hình thức giáo dục hết sức quan trọng. Thị trường tạp chí, vốn gần như tự do, bao gồm đủ loại để đáp ứng nhiều sở thích và nhu cầu khác nhau của người tiêu dùng: có tạp chí phổ thông phát hành toàn quốc; có tạp chí theo khuynh hướng tự do, bảo thủ và đủ loại tư tưởng khác nhau; có ấn phẩm học thuật chuyên ngành; lại có vô số tạp chí dành riêng cho những sở thích và thú vui đặc biệt như bridge, cờ vua, âm thanh hi-fi, v.v. Một cấu trúc tương tự cũng hiện diện trong thị trường sách: có sách phát hành rộng rãi, sách dành cho các thị trường chuyên biệt, và sách thuộc mọi khuynh hướng tư tưởng. Nếu xóa bỏ trường công, thì thị trường tạp chí và sách vốn tự do, đa dạng và phong phú sẽ có một hình mẫu song hành trong “thị trường trường học”. Ngược lại, nếu chỉ có một tạp chí cho mỗi thành phố hay bang, hãy nghĩ xem những cuộc chiến và xung đột sẽ bùng nổ: Tạp chí ấy nên bảo thủ, tự do hay xã hội chủ nghĩa? Nên dành bao nhiêu chỗ cho tiểu thuyết hay cho bài bridge? Áp lực và xung đột sẽ cực lớn, và không một giải pháp nào có thể thỏa mãn, bởi bất kỳ quyết định nào cũng sẽ tước đi những gì mà vô số người mong muốn và cần đến. Vậy thì, điều mà người theo chủ nghĩa tự do cá nhân kêu gọi không hề kỳ quặc như thoạt nhìn, mà chính là một hệ thống trường học tự do và đa dạng, giống như hầu hết các phương tiện giáo dục khác hiện nay.

 

Tiếp tục tập trung vào các phương tiện truyền thông giáo dục khác, vậy chúng ta sẽ nghĩ sao về một đề xuất rằng chính phủ liên bang hoặc bang dùng tiền thuế của dân để lập ra một hệ thống báo hoặc tạp chí công lập trên toàn quốc, rồi buộc tất cả mọi người – hoặc ít nhất tất cả trẻ em – phải đọc chúng? Hơn nữa, chúng ta sẽ nghĩ sao nếu chính phủ cấm tất cả báo và tạp chí khác, hoặc ít nhất là cấm những tờ không đáp ứng một số “tiêu chuẩn” nào đó do một ủy ban chính phủ định ra về những gì trẻ em nên đọc? Một đề xuất như vậy chắc chắn sẽ bị cả nước ghê tởm, thế nhưng đó lại chính là kiểu chế độ mà chính phủ đã áp đặt trong các trường học. Một nền báo chí công lập bắt buộc sẽ bị coi là xâm phạm quyền tự do báo chí căn bản; vậy thì, chẳng phải tự do học đường ít nhất cũng quan trọng như tự do báo chí sao? Chẳng phải cả hai đều là những phương tiện thiết yếu để truyền đạt thông tin, giáo dục, để tìm tòi tự do và truy cầu chân lý hay sao? Thực ra, việc đàn áp giáo dục tự do còn phải bị coi là điều kinh hoàng hơn cả việc đàn áp báo chí tự do, bởi ở đây, chính tâm hồn non nớt, chưa trưởng thành của trẻ em bị ảnh hưởng trực tiếp hơn.

 

Thú vị là, ít nhất một số người ủng hộ trường công lập đã nhận ra sự tương đồng giữa giáo dục và báo chí, và đã theo đuổi logic đó sang cả lĩnh vực báo chí. Chẳng hạn, nổi bật trong chính trường Boston những năm 1780–1790 là nhóm theo phái Liên bang gọi là “Essex Junto” – một nhóm thương gia và luật sư hàng đầu, xuất thân từ Quận Essex, Massachusetts.

 

Những người thuộc nhóm Essex đặc biệt mong muốn có một hệ thống trường công lập rộng lớn để thanh thiếu niên được “dạy cho biết phục tùng đúng mực”. Stephen Higginson, một người trong nhóm Essex, thẳng thắn tuyên bố rằng “người dân phải được dạy cách tin tưởng và tôn kính những người cai trị của mình”. Và, nhất quán với quan điểm rằng báo chí cũng là một hình thức giáo dục quan trọng như trường học chính quy, một thương gia kiêm nhà lý luận hàng đầu khác của Essex, Jonathan Jackson, đã lên án báo chí tự do vì tất yếu phải chiều theo độc giả của mình, và ông ủng hộ việc lập ra một tờ báo do nhà nước sở hữu, có thể độc lập với độc giả, từ đó truyền đạt những đức tính đúng đắn cho toàn thể công dân[12].

 

Giáo sư E.G. West cũng đã đưa ra một phép so sánh đầy ý nghĩa giữa việc cung cấp giáo dục và việc cung cấp thực phẩm – một ngành chắc chắn có tầm quan trọng ngang bằng, nếu không muốn nói là lớn hơn, đối với cả trẻ em lẫn người lớn. West viết:

 

Việc bảo vệ trẻ em khỏi nạn đói hay suy dinh dưỡng có lẽ cũng quan trọng như việc bảo vệ các em khỏi nạn dốt nát. Tuy nhiên, thật khó hình dung rằng bất kỳ chính phủ nào, trong khi lo bảo đảm trẻ em có mức tối thiểu về lương thực và quần áo, lại thông qua luật bắt buộc và phổ cập việc ăn uống, hoặc áp dụng các biện pháp tăng thuế hay phí để cung cấp thực phẩm cho trẻ em “miễn phí” tại các bếp ăn hay cửa hàng của chính quyền địa phương. Càng khó hình dung hơn rằng hầu hết mọi người sẽ chấp nhận hệ thống này mà không hè thắc mắc, nhất là khi nó đã phát triển đến mức mà vì “lý do hành chính”, cha mẹ bị phân bổ đến những cửa hàng gần nhà họ nhất… Tuy vậy, những biện pháp giả định nghe có vẻ kỳ lạ khi áp vào việc cung cấp lương thực và quần áo, lại chính là điển hình của… giáo dục nhà nước[13].

 

Một số nhà tư tưởng tự do cá nhân, từ cả cánh “tả” lẫn “hữu”, đã đưa ra những phê phán sắc bén về bản chất toàn trị của hệ thống giáo dục công lập bắt buộc. Nhà phê bình người Anh theo khuynh hướng tự do cá nhân cánh tả, Herbert Read, viết:

 

Nhân loại vốn được phân hóa thành nhiều loại hình, và việc ép tất cả vào cùng một khuôn mẫu chắc chắn sẽ dẫn đến méo mó và đàn áp. Trường học phải có nhiều loại, theo những phương pháp khác nhau và đáp ứng các khuynh hướng khác nhau. Có thể lập luận rằng ngay cả một nhà nước toàn trị cũng phải thừa nhận nguyên tắc này; nhưng sự thật là, phân hóa là một tiến trình hữu cơ, là sự liên kết tự phát và linh hoạt của các cá nhân vì những mục đích riêng biệt… Toàn bộ cấu trúc giáo dục, vốn là một tiến trình tự nhiên như ta đã hình dung, sẽ sụp đổ nếu ta tìm cách biến nó thành một cấu trúc nhân tạo[14].

 

Và nhà triết học cá nhân chủ nghĩa vĩ đại người Anh cuối thế kỷ XIX, Herbert Spencer, đã đặt câu hỏi:

 

Nói rằng chính phủ nên giáo dục dân chúng nghĩa là gì? Tại sao họ cần được giáo dục? Giáo dục để làm gì? Rõ ràng là để chuẩn bị cho con người thích nghi với đời sống xã hội – để biến họ thành những công dân tốt. Nhưng ai định nghĩa thế nào là công dân tốt? Chính phủ – không có thẩm phán nào khác. Và ai quyết định làm thế nào để tạo ra những công dân như vậy? Chính phủ – cũng không có thẩm phán nào khác. Thế nên, đề xuất ấy có thể chuyển thành thế này: chính phủ phải nhào nặn trẻ em thành những công dân tốt. Muốn vậy, trước hết chính phủ phải hình dung cho mình một khuôn mẫu công dân nhất định; rồi từ đó xây dựng một hệ thống kỷ luật mà họ cho là tốt nhất để đào tạo ra những công dân theo khuôn mẫu ấy. Hệ thống kỷ luật đó họ buộc phải áp dụng đến tận cùng. Bởi nếu không, họ sẽ để mặc con người trở nên khác với điều mà chính phủ cho là phải trở thành, và như vậy, họ đã thất bại trong nhiệm vụ được giao phó[15].

 

Và nhà văn theo chủ nghĩa cá nhân người Mỹ thế kỷ XX, Isabel Paterson, khẳng định:

 

Các giáo trình tất yếu phải mang tính chọn lọc – về nội dung, ngôn ngữ và quan điểm. Khi việc giảng dạy do các trường tư thục đảm nhiệm, sẽ có sự khác biệt đáng kể giữa các trường; phụ huynh buộc phải cân nhắc và lựa chọn họ muốn con em mình được học cái gì, dựa trên chương trình mà mỗi trường đưa ra. … Sẽ không có nơi nào xuất hiện động lực để giảng dạy “quyền tối thượng của nhà nước như một hệ tư tưởng bắt buộc”. Nhưng trong mọi hệ thống giáo dục bị kiểm soát bởi chính trị, sớm muộn gì cũng sẽ thấm nhuần học thuyết về quyền tối thượng của nhà nước, dù dưới hình thức “quyền thiêng liêng của các ông vua”, hay “ý chí của nhân dân” trong chế độ “dân chủ”. Một khi học thuyết ấy được chấp nhận, việc phá vỡ vòng kìm kẹp của quyền lực chính trị đối với đời sống công dân trở thành một nhiệm vụ gần như siêu phàm. Bởi lẽ quyền lực đó đã chiếm hữu thân thể, tài sản và tâm trí của con người ngay từ tấm bé. Một con bạch tuộc còn dễ buông mồi hơn thế.

 

Một hệ thống giáo dục bắt buộc, được nuôi dưỡng bằng thuế khóa, chính là mô hình hoàn chỉnh của một nhà nước toàn trị[16].

 

Như E.C. West đã chỉ ra, sự tiện lợi của guồng máy hành chính luôn thúc đẩy các bang chia trường công theo địa giới, đặt một ngôi trường trong mỗi khu vực, rồi buộc học sinh phải theo học tại ngôi trường gần nơi cư trú nhất. Trong khi ở một thị trường trường tư tự do, hầu hết trẻ em dĩ nhiên sẽ học ở trường gần nhà, thì hệ thống hiện hành lại áp đặt độc quyền “mỗi khu vực – một trường”, và như thế, áp đặt sự đồng nhất trong phạm vi từng khu vực. Những học sinh muốn, vì bất kỳ lý do gì, được theo học ở trường thuộc khu khác đều bị cấm. Hệ quả tất yếu là sự đồng nhất về mặt địa lý bị áp đặt; và điều đó cũng đồng nghĩa với việc tính chất của mỗi ngôi trường hoàn toàn phụ thuộc vào khu dân cư nơi nó tọa lạc. Do vậy, thay vì đồng nhất tuyệt đối, các trường công lập sẽ mang tính đồng nhất trong từng khu vực; thành phần học sinh, nguồn tài chính và chất lượng giáo dục sẽ phụ thuộc trực tiếp vào giá trị, mức sống và cơ sở thuế của từng địa bàn. Hệ quả tiếp theo, không thể tránh khỏi, là các khu vực giàu sẽ có điều kiện học tập tốn kém hơn và chất lượng cao hơn, lương giáo viên cao hơn, môi trường giảng dạy thuận lợi hơn so với các khu nghèo. Giáo viên tự nhiên sẽ xem các trường giàu có là vị trí giảng dạy ưu tú, và những người giỏi sẽ tìm đến đó, trong khi các trường thuộc khu nghèo buộc phải chấp nhận những điều kiện kém hơn. Thế nên, việc tổ chức trường công lập theo địa giới tất yếu dẫn đến sự phủ nhận chính mục tiêu bình đẳng – vốn được xem là lý tưởng nền tảng của hệ thống giáo dục công lập ngay từ buổi đầu.

 

Hơn nữa, nếu các khu dân cư vốn đã bị phân tách theo chủng tộc, như thường xảy ra, thì hệ quả tất yếu của việc độc quyền địa lý bắt buộc chính là sự phân tách chủng tộc bắt buộc trong các trường công lập. Những phụ huynh mong muốn con em mình được học trong môi trường hòa nhập sẽ phải đối diện với rào cản này. Hơn thế nữa, như có người từng châm biếm: “Ngày nay, cái gì không bị cấm thì lại là bắt buộc,” xu hướng gần đây của giới quan liêu giáo dục không phải là tổ chức đưa đón tự nguyện để mở rộng quyền lựa chọn cho phụ huynh, mà trái lại, là áp đặt việc đưa đón bắt buộc và hội nhập chủng tộc bắt buộc—thường dẫn đến những cuộc di chuyển kỳ quặc, đưa trẻ em đến những ngôi trường xa xôi ngoài khu vực sinh sống của chúng. Một lần nữa, ta lại thấy mô hình điển hình của Nhà nước: hoặc là phân tách bắt buộc, hoặc là hòa nhập bắt buộc. Con đường tự nguyện—trao quyền quyết định cho phụ huynh liên quan—luôn đi ngược với bản chất của bất kỳ bộ máy hành chính nhà nước nào.

 

Kỳ lạ là những phong trào gần đây kêu gọi quyền kiểm soát giáo dục công lập của phụ huynh địa phương lại có lúc bị dán nhãn “cực hữu”, lúc khác lại bị coi là “cực tả”, trong khi động lực tự do trong cả hai trường hợp thực ra hoàn toàn giống nhau. Thế nên, khi phụ huynh da trắng phản đối việc buộc con em họ phải đến học ở những ngôi trường xa nhà, giới giáo dục lập tức kết án họ là “cuồng tín” và “cánh hữu”. Nhưng khi phụ huynh da đen—như trong trường hợp Ocean Hill-Brownsville tại New York—đòi quyền kiểm soát địa phương đối với hệ thống trường học, thì phong trào ấy lại bị lên án là “cực tả” và “hư vô”. Kỳ lạ nhất là chính các phụ huynh trong cả hai trường hợp đều không nhận ra khát vọng chung của họ về quyền kiểm soát địa phương, và họ lại quay sang phê phán lẫn nhau—nhóm này gọi nhóm kia là “cuồng tín” hoặc “hung hăng”. Thật đáng buồn, cả cộng đồng da trắng lẫn da đen đều không nhận ra mục tiêu chung trong cuộc đấu tranh chống lại giới quyền uy trong giáo dục: chống lại sự kiểm soát độc đoán đối với việc học của con em họ bởi một guồng máy quan liêu vốn khăng khăng áp đặt một hình thức giáo dục mà nó cho là phải cưỡng bức áp đặt lên quần chúng. Một trong những nhiệm vụ cốt yếu của những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân chính là làm sáng tỏ mục tiêu chung của mọi nhóm phụ huynh trong việc chống lại sự chuyên chế giáo dục của Nhà nước. Và dĩ nhiên, cũng cần khẳng định rằng: chừng nào hệ thống trường công lập chưa được bãi bỏ hoàn toàn, và việc học hành chưa trở lại là một hoạt động tự do thì chừng đó phụ huynh sẽ không bao giờ thật sự thoát khỏi ách kiểm soát giáo dục của Nhà nước.

 

Bản chất địa lý của hệ thống trường công lập cũng dẫn đến mô hình phân tách cư trú theo thu nhập, và do đó là phân tách theo chủng tộc, trên khắp cả nước, đặc biệt ở vùng ngoại ô. Như mọi người đều biết, kể từ sau Thế chiến II, dân số Hoa Kỳ không tăng mạnh ở các thành phố trung tâm mà lại bùng nổ tại những khu ngoại ô xung quanh. Khi các gia đình trẻ chuyển đến đây, gánh nặng chủ yếu và ngày càng phình to của ngân sách địa phương chính là chi trả cho các trường công, vốn phải tiếp nhận cư dân trẻ với tỷ lệ trẻ em cao. Các trường này chủ yếu được tài trợ từ thuế bất động sản, đánh thẳng vào nhà ở ở ngoại ô. Có nghĩa là: gia đình càng giàu, nhà càng đắt, thì mức đóng góp thuế cho trường học địa phương càng lớn. Vì vậy, khi gánh nặng thuế trường học cứ đều đặn leo thang, cư dân ngoại ô buộc phải tìm cách thu hút người giàu cùng những căn nhà đắt đỏ, đồng thời chặn đứng, không cho người nghèo kéo vào. Nói gọn lại, có một mức giá nhà “hòa vốn”: trên mức đó, một gia đình mới đến sẽ đóng thuế đủ (thậm chí dư) cho việc học của con cái; dưới mức đó, họ sẽ không đóng đủ, và gánh nặng chênh lệch lại dồn lên dân cư hiện hữu. Nhận rõ điều ấy, các khu ngoại ô thường ban hành luật quy hoạch nghiêm ngặt, cấm xây dựng nhà dưới mức giá tối thiểu—từ đó loại bỏ dòng người nghèo tìm chỗ ở ở đó. Vì tỷ lệ người da đen nghèo cao hơn hẳn so với người da trắng nghèo, chính sách này cũng đồng thời ngăn cản họ tham gia vào làn sóng di cư ra ngoại ô. Cộng thêm việc trong những năm gần đây, ngày càng nhiều việc làm và ngành công nghiệp dịch chuyển từ trung tâm ra ngoại ô, hệ quả tất yếu là áp lực thất nghiệp đè nặng lên cộng đồng da đen—và sẽ càng khốc liệt hơn khi xu thế dịch chuyển này tăng tốc. Việc bãi bỏ hệ thống trường công lập, và theo đó, tháo gỡ liên kết giữa gánh nặng trường học và thuế bất động sản, sẽ là bước tiến lớn trong việc xóa bỏ các hạn chế quy hoạch và chấm dứt tình trạng ngoại ô trở thành pháo đài riêng của tầng lớp da trắng trung lưu lớp trên.

 

 

Gánh nặng và trợ cấp

 

Hơn nữa, sự tồn tại của hệ thống trường công lập còn kéo theo một mạng lưới phức tạp các khoản thuế và trợ cấp bắt buộc, tất cả đều khó có thể biện minh trên bất kỳ nền tảng đạo đức nào. Trước hết, trường công buộc những phụ huynh muốn cho con học trường tư phải gánh một gánh nặng kép: họ vừa bị ép buộc phải trợ cấp cho những đứa trẻ học trường công, vừa phải tự chi trả học phí cho chính con mình. Chỉ có sự suy thoái rõ rệt của giáo dục công lập ở các đô thị lớn mới duy trì được một hệ thống trường tư thục phát triển; còn trong bậc đại học, nơi sự suy thoái chưa quá trầm trọng, các trường tư đang nhanh chóng bị loại khỏi cuộc chơi bởi sự cạnh tranh đến từ học phí miễn phí (do được trợ cấp thuế) và mức lương giảng viên cao hơn (cũng do thuế tài trợ). Tương tự, vì theo Hiến pháp, trường công lập buộc phải là thế tục, nên các bậc cha mẹ có đức tin tôn giáo lại bị bắt phải góp phần tài trợ cho những trường thế tục. Dù “tách biệt giáo hội và nhà nước” là một nguyên tắc cao quý—và cũng là một phần trong nguyên tắc tự do rộng lớn hơn: tách biệt mọi thứ khỏi nhà nước—nhưng rõ ràng đã đi quá xa khi ép buộc người có đạo phải trợ cấp cho người vô đạo thông qua quyền lực cưỡng chế của nhà nước.

 

Sự tồn tại của trường công cũng có nghĩa là các cặp đôi chưa kết hôn hoặc không có con bị cưỡng bức phải trợ cấp cho những gia đình có con. Nguyên tắc đạo đức nào có thể biện minh cho điều này? Và trong bối cảnh tăng dân số không còn được xem là xu hướng, hãy nhìn vào nghịch lý: những người theo phái tự do chủ trương chống bùng nổ dân số lại ủng hộ hệ thống trường công vốn không chỉ trợ cấp cho gia đình có con, mà còn trợ cấp tỷ lệ thuận với số con của họ. Ta chẳng cần phải tán thành mọi yếu tố của cơn “cuồng loạn chống dân số” hiện nay để vẫn có thể đặt câu hỏi: liệu việc cố tình khuyến khích số con trong mỗi gia đình thông qua chính sách của nhà nước có phải là khôn ngoan? Điều đó đồng nghĩa, những người độc thân nghèo hoặc các cặp vợ chồng nghèo không con lại bị buộc phải gánh trợ cấp cho những gia đình giàu có có con. Liệu có thể tìm thấy chút ý nghĩa đạo đức nào trong sự bất công này?

 

Những năm gần đây, phe ủng hộ trường công đã cổ xúy học thuyết rằng: “Mọi đứa trẻ đều có quyền được học hành, và vì vậy, người nộp thuế phải bị ép buộc để đảm bảo quyền đó.” Nhưng quan niệm này hoàn toàn hiểu sai bản chất của “quyền”. Về mặt triết học, một “quyền” đích thực phải gắn liền với bản chất con người và thực tại, có thể được bảo toàn và duy trì trong bất cứ thời điểm hay bối cảnh nào. “Quyền” sở hữu chính mình, quyền tự vệ bảo toàn tính mạng và tài sản của mình, hiển nhiên thuộc loại đó: nó áp dụng được cho người Neanderthal thời tiền sử, cho cư dân Calcutta hiện đại, hay cho người Mỹ đương đại. Quyền ấy độc lập với thời gian và không gian. Ngược lại, “quyền có việc làm”, “quyền được ba mỗi ngày bữa ăn” hay “quyền được đi học mười hai năm” thì không thể được bảo đảm như thế. Giả sử những điều ấy đơn giản là không tồn tại—như trong thời Neanderthal, hay như ở Calcutta hiện đại—thì sao? Gọi đó là “quyền” nghĩa là biến nó thành một đặc ân chỉ có thể thực hiện trong điều kiện công nghiệp hiện đại, chứ không phải một quyền tự nhiên của con người. Hơn nữa, “quyền” sở hữu chính mình theo quan điểm của chủ nghĩa tự do cá nhân không đòi hỏi sự cưỡng bức của nhóm này để trao cho nhóm kia. Mọi người đều có thể đồng thời hưởng quyền ấy mà không cần ai phải hy sinh. Nhưng trong trường hợp “quyền được đi học”, nó chỉ có thể tồn tại khi những người khác bị ép buộc để làm cho nó thành hiện thực. Khi ấy, cái gọi là “quyền đi học, quyền có việc làm, quyền được ăn ba bữa” thực chất không bắt nguồn từ bản chất của con người, mà phụ thuộc vào sự tồn tại của một tầng lớp bị bóc lột—những người bị cưỡng chế phải cung cấp các “quyền” ấy cho kẻ khác.

 

Hơn nữa, toàn bộ khái niệm về “quyền được học hành” luôn phải được đặt trong bối cảnh rằng giáo dục chính quy chỉ là một phần nhỏ trong hành trình học tập của mỗi con người trong suốt cuộc đời. Nếu thật sự mọi đứa trẻ đều có “quyền” được học hành, vậy tại sao lại không có “quyền” được đọc báo và tạp chí? Và nếu thế thì tại sao chính phủ không đánh thuế tất cả mọi người để cung cấp tạp chí công cộng miễn phí cho bất kỳ ai muốn có?

 

Giáo sư Milton Friedman, một nhà kinh tế học tại Đại học Chicago, đã có đóng góp quan trọng trong việc tách bạch các khoản chi tiền khỏi nhiều khía cạnh khác nhau của trợ cấp chính phủ — cả trong giáo dục lẫn trong các lĩnh vực khác. Dù đáng tiếc là Friedman vẫn chấp nhận quan điểm cho rằng mọi trẻ em đều nên được người đóng thuế chi trả học phí, ông đã chỉ ra sự phi lý khi dùng quan điểm ấy để biện minh cho hệ thống trường công: Hoàn toàn có thể để người đóng thuế trợ cấp việc học của trẻ em mà không cần đến bất kỳ trường công nào![17] Trong “kế hoạch phiếu giáo dục” (voucher plan) nổi tiếng của Friedman, chính phủ sẽ cấp cho mỗi phụ huynh một phiếu để trả một khoản học phí nhất định cho mỗi đứa con, tại bất kỳ ngôi trường nào mà phụ huynh lựa chọn. Kế hoạch này vẫn duy trì việc cung cấp giáo dục được tài trợ bằng thuế cho mọi trẻ em, nhưng đồng thời cho phép xóa bỏ bộ máy quan liêu độc quyền, kém hiệu quả và mang tính áp đặt của các trường công. Nhờ đó, phụ huynh có thể gửi con mình tới bất kỳ loại trường tư nào họ muốn, và phạm vi lựa chọn cho cả phụ huynh lẫn con cái sẽ được mở rộng tối đa. Đứa trẻ có thể theo học bất kỳ loại hình trường nào — tiến bộ hay truyền thống, tôn giáo hay thế tục, doanh nghiệp tự do hay xã hội chủ nghĩa — tùy vào mong muốn của phụ huynh. Khoản trợ cấp bằng tiền sẽ được tách biệt hoàn toàn khỏi việc chính phủ trực tiếp cung cấp giáo dục qua hệ thống trường công.

 

Mặc dù kế hoạch của Friedman sẽ là một bước cải tiến lớn so với hệ thống hiện tại khi cho phép phụ huynh có nhiều lựa chọn hơn và mở đường cho việc bãi bỏ hệ thống trường công, nhưng những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân vẫn nhận thấy còn nhiều vấn đề nghiêm trọng. Trước hết, sự vô đạo đức của việc trợ cấp cưỡng bức cho giáo dục vẫn sẽ tiếp diễn. Thứ hai, không thể tránh khỏi rằng quyền trợ cấp luôn đi kèm với quyền quản lý và kiểm soát: Chính phủ sẽ không bao giờ phát phiếu giáo dục cho bất kỳ hình thức học tập nào một cách tùy tiện. Rõ ràng, họ chỉ chi trả phiếu cho các trường tư thục được Nhà nước chứng nhận là “phù hợp và đúng đắn”, đồng nghĩa với việc chính phủ sẽ can thiệp chi tiết vào các trường tư thục — từ chương trình giảng dạy, phương pháp, hình thức tài chính, v.v. Quyền lực của Nhà nước đối với các trường tư, thông qua quyền chứng nhận hoặc từ chối chứng nhận để cấp phiếu, thậm chí sẽ còn lớn hơn hiện nay[18].

Từ sau vụ án ở Oregon[19], những người ủng hộ trường công chưa bao giờ đi xa tới mức đòi xóa bỏ hoàn toàn trường tư, nhưng các trường tư vẫn bị quản lý và hạn chế theo nhiều cách khác nhau. Mỗi bang, chẳng hạn, đều quy định rằng mọi trẻ em phải được giáo dục tại những trường được bang chứng nhận, và điều này lại buộc các trường phải rập khuôn theo chương trình mà chính phủ mong muốn. Để được công nhận là trường tư hợp chuẩn, cả nhà trường lẫn giáo viên đều phải tuân thủ hàng loạt quy định vừa vô nghĩa vừa tốn kém; nhiều giáo viên buộc phải tham gia vô số khóa “giáo dục” hình thức để được coi là đủ điều kiện giảng dạy. Nhiều trường tư có chất lượng hiện nay về mặt kỹ thuật đang hoạt động trong tình trạng “bất hợp pháp”, chỉ vì họ từ chối tuân thủ những quy định mang tính gò bó và làm thui chột sáng tạo. Có lẽ bất công nghiêm trọng nhất là, ở hầu hết các bang, phụ huynh bị cấm tự dạy con mình, bởi bang không chấp nhận họ như một “trường học” đúng nghĩa. Trong khi thực tế, có rất nhiều phụ huynh hoàn toàn đủ khả năng để tự dạy con, nhất là ở bậc tiểu học. Hơn nữa, họ hiểu rõ năng lực và nhịp độ học tập của từng đứa trẻ hơn bất kỳ người ngoài nào, và có thể điều chỉnh việc dạy học theo đúng nhu cầu và khả năng riêng của từng em. Không một trường chính quy nào, vốn bị ràng buộc trong những lớp học đồng nhất, có thể làm được việc này.

Trường học “miễn phí”, dù là trường công lập hiện nay hay trường được tài trợ bằng phiếu giáo dục trong tương lai, tất nhiên không thực sự miễn phí; ai đó — tức là người đóng thuế — phải trả tiền cho các dịch vụ giáo dục liên quan. Tuy nhiên, khi dịch vụ giáo dục bị tách rời khỏi việc chi trả, thường sẽ xảy ra tình trạng có quá nhiều trẻ em đổ vào trường học (chưa kể các luật bắt buộc đi học cũng tạo ra hiệu ứng tương tự), và bản thân trẻ em sẽ thiếu hứng thú với một dịch vụ mà gia đình chúng không phải trả tiền. Kết quả là, nhiều trẻ em vốn không phù hợp hoặc không hứng thú với trường lớp — những em lẽ ra nên ở nhà hoặc đi làm — lại bị ép buộc phải đến trường và ở lại đó lâu hơn mức cần thiết. Cơn sốt giáo dục đại trà đã tạo ra một khối lượng lớn trẻ em bất mãn và cảm thấy như bị giam cầm, cùng với quan niệm phổ biến rằng ai cũng phải hoàn tất trung học (thậm chí là đại học) thì mới xứng đáng được tuyển dụng. Gia tăng thêm áp lực ấy là sự bùng nổ chóng mặt của các chiến dịch tuyên truyền “chống bỏ học” trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Một phần của hiện tượng này cũng do doanh nghiệp, vì giới chủ rất hài lòng khi lực lượng lao động được đào tạo không phải bởi chính họ hay ngay tại nơi làm việc, mà lại bằng chi phí của những người đóng thuế khốn khổ. Vậy phải chăng sự bành trướng của giáo dục công đại chúng chính là cách để giới chủ đẩy chi phí đào tạo lao động sang cho toàn xã hội gánh chịu?

Người ta có thể dự đoán rằng hình thức đào tạo này — dù miễn phí đối với giới chủ — lại sẽ cực kỳ tốn kém, kém hiệu quả và kéo dài quá mức. Thực tế, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy một phần rất lớn chương trình học hiện nay là không cần thiết cho lao động sản xuất. Như Arthur Stinchcombe đã đặt câu hỏi:

 

Liệu trường trung học có thể dạy được điều gì mà các nhà tuyển dụng lao động chân tay sẵn sàng trả tiền, nếu được học thật tốt? Nhìn chung, câu trả lời là không. Cả năng lực thể chất lẫn độ tin cậy — hai yếu tố chính mà các nhà tuyển dụng lao động chân tay quan tâm — đều không chịu ảnh hưởng nhiều từ việc đi học. Nhà tuyển dụng, khi cần nguồn nhân lực đáng tin cậy, có thể yêu cầu bằng tốt nghiệp trung học như một minh chứng về kỷ luật. Ngoài ra, họ hoàn toàn có thể đào tạo công nhân ngay tại nơi làm việc, với hiệu quả cao hơn và chi phí thấp hơn so với trường trung học[20].

 

Và, như Giáo sư Banfield chỉ ra, hầu hết các kỹ năng làm việc đều được học tại nơi làm việc[21].

Sự vô dụng tương đối của hệ thống trường công trong việc đào tạo lao động chân tay được minh chứng qua một công trình đáng chú ý của MIND — dịch vụ giáo dục tư nhân hiện do Công ty Tinh chế Sản phẩm Ngô ở Greenwich, bang Connecticut, điều hành. MIND chủ động tuyển chọn những học sinh bỏ học, vốn không có kỹ năng cho các công việc chân tay, và chỉ trong vài tuần ngắn ngủi, nhờ chương trình đào tạo chuyên sâu cùng với máy móc giảng dạy, đã có thể truyền đạt cho họ các kỹ năng cơ bản và kỹ năng đánh máy, rồi sắp xếp cho họ vào làm việc tại các công ty. Mười năm học trường công chẳng đem lại cho những học sinh này được bao nhiêu, trong khi chưa đầy vài tuần đào tạo hướng nghiệp tư nhân đã đủ! Việc cho phép các em thoát khỏi tình trạng phụ thuộc cưỡng bức để trở thành những người tự lập và tự chủ chỉ có thể mang lại lợi ích to lớn không kể xiết, cho chính các em lẫn cho toàn xã hội.

Có nhiều bằng chứng cho thấy liên hệ giữa luật bắt buộc đi học và tình trạng phạm pháp ngày càng gia tăng của trẻ vị thành niên, đặc biệt ở những em lớn tuổi hơn, vốn đang cảm thấy chán nản. Stinchcombe nhận xét rằng hành vi nổi loạn và phạm pháp “phần lớn là phản ứng đối với chính nhà trường”; còn Ủy ban Crowther ở Anh phát hiện rằng, khi chính phủ nâng độ tuổi tối thiểu được rời trường từ mười bốn lên mười lăm vào năm 1947, thì tình trạng phạm pháp ở nhóm trẻ mười bốn tuổi vừa bị buộc ở lại trường đã tăng vọt ngay lập tức[22].

Các công đoàn cũng phải chịu một phần trách nhiệm: để giảm bớt sự cạnh tranh từ lực lượng lao động trẻ vị thành niên, họ tìm cách đẩy thanh thiếu niên ra khỏi thị trường lao động và buộc phải ở trong hệ thống giáo dục càng lâu càng tốt. Do đó, cả công đoàn lẫn giới chủ đều tạo áp lực mạnh mẽ cho việc áp dụng chế độ bắt buộc đi học, và qua đó khiến phần lớn thanh thiếu niên trên cả nước không thể tham gia lao động.

Giáo dục đại học

Ngoài những ảnh hưởng của luật bắt buộc đi học, thì những phê phán nghiêm khắc mà chúng ta đã áp dụng đối với các trường công lập cũng có thể được hướng tới giáo dục đại học công lập, với một điểm đáng chú ý sau đây. Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy, đặc biệt là trong giáo dục đại học công lập, các khoản trợ cấp bắt buộc phần lớn đi theo hướng buộc những người nghèo phải tài trợ cho việc học của những người giàu có hơn! Có ba lý do cơ bản: cơ cấu thuế dành cho giáo dục không thực sự “luỹ tiến”, tức là không đánh thuế người giàu theo tỷ lệ cao hơn; những sinh viên theo học đại học thường có cha mẹ khá giả hơn so với những người không học; và những sinh viên này, sau đó, sẽ có mức thu nhập trọn đời cao hơn so với những người không theo học. Như vậy, đã xảy ra sự phân phối lại thu nhập từ người nghèo sang người giàu thông qua hệ thống đại học công lập! Vậy cơ sở đạo đức ở đây là gì?

Các Giáo sư Weisbrod và Hansen đã chứng minh hiệu ứng tái phân phối này trong các công trình nghiên cứu của họ về giáo dục đại học công lập ở Wisconsin và California. Họ phát hiện, chẳng hạn, rằng trong giai đoạn 1964–1965, thu nhập gia đình trung bình của những người dân Wisconsin không có con học tại các trường đại học bang Wisconsin là 6.500 đô la, trong khi thu nhập gia đình trung bình của các gia đình có con học tại Đại học Wisconsin là 9.700 đô la. Ở California, các con số tương ứng là 7.900 đô la và 12.000 đô la, và sự chênh lệch trợ cấp còn lớn hơn nữa bởi vì cơ cấu thuế ở bang này kém “luỹ tiến” hơn. Douglas Windham cũng phát hiện hiệu ứng tái phân phối tương tự từ người nghèo sang người giàu ở bang Florida. Từ công trình nghiên cứu của mình ở California, Hansen và Weisbrod rút ra kết luận:

Nhìn chung, tác động của các khoản trợ cấp này là làm gia tăng chứ không phải giảm bớt bất bình đẳng giữa những người thuộc các hoàn cảnh kinh tế – xã hội khác nhau, bằng cách cung cấp những khoản hỗ trợ đáng kể mà các gia đình thu nhập thấp hoặc là không đủ điều kiện, hoặc không thể tận dụng do những điều kiện và ràng buộc khác gắn liền với hoàn cảnh thu nhập của họ.

Hiện tượng mà chúng tôi nhận thấy ở California—sự phân bổ trợ cấp cực kỳ bất bình đẳng thông qua hệ thống giáo dục đại học công lập—rất có khả năng còn đúng hơn nữa ở các bang khác. Không bang nào có hệ thống Cao đẳng Cộng đồng rộng lớn như California, và vì vậy, không bang nào có tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông theo học tiếp tại các trường công lập cao như thế. Do đó, chúng tôi có thể khá tự tin khi nói rằng California có tỷ lệ thanh thiếu niên không nhận được chút trợ cấp nào thấp hơn các bang khác[23].

Hơn nữa, bên cạnh việc đẩy các trường đại học tư thục vào tình trạng tài chính nguy hiểm do sự cạnh tranh không công bằng được chống lưng bằng trợ cấp thuế, các bang còn áp đặt những biện pháp kiểm soát chặt chẽ đối với giáo dục đại học tư thục thông qua nhiều quy định khác nhau. Chẳng hạn, ở New York, không ai có thể thành lập cơ sở giáo dục nào được gọi là “cao đẳng” hoặc “đại học” nếu không nộp trái phiếu trị giá 500.000 đô la cho chính quyền bang. Rõ ràng, điều này là một sự phân biệt nghiêm trọng đối với những cơ sở nhỏ và nghèo hơn, trên thực tế, khiến họ không thể bước chân vào lĩnh vực giáo dục đại học. Ngoài ra, các hiệp hội cao đẳng khu vực, thông qua quyền “kiểm định”, có thể khiến bất kỳ trường nào không tuân thủ các tiêu chuẩn chính thống về chương trình hoặc tài chính đều bị loại khỏi cuộc chơi. Ví dụ, các hiệp hội này kiên quyết từ chối công nhận bất kỳ trường nào—dù chất lượng giảng dạy xuất sắc đến đâu—nếu đó là trường tư lợi hoặc vì lợi nhuận, thay vì do hội đồng quản trị điều hành. Trong khi đó, các trường tư lợi, do có động lực mạnh mẽ hơn để hoạt động hiệu quả và phục vụ người học, lại thường thành công về mặt tài chính. Bởi vậy, sự phân biệt đối xử này đặt thêm gánh nặng kinh tế nặng nề lên giáo dục đại học tư thục. Những năm gần đây, trường Cao đẳng Cộng đồng Marjorie Webster, một trường tư khá thành công ở Washington, D.C., đã suýt bị xóa sổ vì hiệp hội khu vực từ chối công nhận. Và cho dù người ta có thể nói rằng các hiệp hội khu vực là tư nhân chứ không phải công lập, thì trên thực tế họ lại phối hợp chặt chẽ với chính phủ liên bang—ví dụ như chính phủ từ chối cấp học bổng hay chế độ ưu đãi dành cho cựu chiến binh (GI benefits) đối với các trường không được kiểm định[24].

Sự phân biệt đối xử của chính phủ đối với các trường đại học tư thục (và cả những tổ chức khác) không chỉ dừng lại ở việc kiểm định và cấp học bổng. Toàn bộ cơ cấu thuế thu nhập còn phân biệt đối xử với họ một cách nghiêm trọng hơn. Bằng cách miễn thuế thu nhập cho các tổ chức được quản lý theo lối ủy thác và đánh thuế nặng đối với các tổ chức sinh lợi, chính quyền liên bang và bang đã làm tê liệt và kìm hãm hình thức giáo dục tư thục vốn có thể là hiệu quả và bền vững nhất. Giải pháp của phái tự do cá nhân cho tình trạng bất công này, tất nhiên, không phải là đặt gánh nặng ngang nhau lên các trường được quản lý theo lối ủy thác, mà là dỡ bỏ gánh nặng thuế khóa đối với các trường tư lợi. Đạo lý của chủ nghĩa tự do cá nhân không phải là áp đặt sự nô dịch ngang nhau cho mọi người, mà là kiến tạo sự tự do ngang nhau.

Quản trị theo lối ủy thác, nhìn chung, là một phương thức kém hiệu quả trong việc điều hành bất kỳ tổ chức nào. Trước hết, trái ngược với các công ty, tập đoàn hay doanh nghiệp sinh lợi, tổ chức được quản lý theo lối ủy thác không thực sự thuộc quyền sở hữu của bất cứ ai. Các ủy viên quản trị không thể thu lợi nhuận từ việc vận hành thành công tổ chức, vì thế không có động lực để hoạt động hiệu quả hoặc để phục vụ khách hàng một cách đúng mực. Chừng nào trường đại học hay tổ chức ấy không chịu thâm hụt quá lớn, họ có thể tiếp tục tồn tại với hiệu suất thấp. Vì ban quản trị không thể tạo lợi nhuận bằng cách nâng cao dịch vụ cho khách hàng, nên họ thường buông lỏng trong vận hành. Hơn nữa, hiệu quả tài chính của họ còn bị trói buộc bởi điều lệ; chẳng hạn, ban quản trị của trường đại học bị cấm cứu vãn tổ chức của mình bằng cách chuyển một phần khuôn viên thành hoạt động thương mại—chẳng hạn như một bãi đỗ xe sinh lợi.

Sự thiệt thòi đối với “khách hàng” càng trở nên trầm trọng hơn trong trường hợp các trường đại học hiện nay được quản trị theo lối ủy thác—nơi sinh viên chỉ trả một phần nhỏ chi phí giáo dục, còn phần lớn được tài trợ bằng trợ cấp hoặc quỹ hiến tặng. Tình huống thị trường thông thường, nơi nhà sản xuất bán sản phẩm và người tiêu dùng trả toàn bộ chi phí, đã biến mất; và sự tách rời giữa dịch vụ và thanh toán này dẫn đến tình trạng không thỏa mãn cho tất cả mọi bên. Người tiêu dùng, chẳng hạn, cảm thấy rằng ban quản trị mới là kẻ quyết định. Trái lại, như một người theo chủ nghĩa tự do cá nhân từng nhận xét vào cao điểm của các cuộc bạo loạn sinh viên cuối thập niên 1960: “chẳng có ai ngồi chiếm giữ ở Berlitz cả.” Hơn nữa, việc “người tiêu dùng” thực sự lại là chính phủ, các quỹ hay cựu sinh viên—những người chi trả phần lớn chi phí—có nghĩa là giáo dục đại học tất yếu bị lệch theo nhu cầu của họ, hơn là tập trung vào việc dạy dỗ sinh viên. Như các Giáo sư Buchanan và Devletoglou nhận xét:

Chính phủ chen vào giữa các trường đại học và sinh viên-người tiêu dùng đã tạo ra tình huống mà trong đó các trường không thể đáp ứng nhu cầu cũng như khai thác trực tiếp nguồn lực để thỏa mãn sở thích của sinh viên-người tiêu dùng. Để có được nguồn lực, các trường đại học buộc phải cạnh tranh với những hoạt động được tài trợ bằng thuế khác (quân đội, trường phổ thông, các chương trình phúc lợi, v.v.). Trong quá trình ấy, nhu cầu của sinh viên-người tiêu dùng bị bỏ rơi, và sự bất mãn của sinh viên từ đó trở thành mầm mống cho tình trạng hỗn loạn mà chúng ta đang chứng kiến. … Sự lệ thuộc ngày càng tăng vào nguồn tài trợ của chính phủ—đặc biệt được thể hiện qua chế độ miễn học phí—chính nó có thể là nguyên nhân đáng kể của sự bất ổn hiện nay[25].

Vậy, đề xuất của phái tự do cá nhân để giải quyết mớ hỗn độn trong giáo dục có thể được tóm gọn như sau: Hãy để chính phủ rút khỏi tiến trình giáo dục. Chính phủ đã tìm cách nhồi sọ và định hình giới trẻ toàn quốc thông qua hệ thống trường công, và định hình các nhà lãnh đạo tương lai bằng việc Nhà nước trực tiếp điều hành và kiểm soát giáo dục đại học. Việc bãi bỏ luật giáo dục bắt buộc sẽ chấm dứt vai trò của trường học như những nhà tù giam giữ tuổi trẻ, và sẽ giải phóng tất cả những người vốn thích hợp hơn khi ở ngoài trường học để họ có thể độc lập và làm việc hữu ích. Bãi bỏ trường công sẽ chấm dứt gánh nặng thuế tài sản và mở ra một loạt hình thức giáo dục nhằm đáp ứng mọi nhu cầu và đòi hỏi đa dạng của xã hội chúng ta. Bãi bỏ giáo dục công lập cũng sẽ chấm dứt việc trợ cấp cưỡng bức bất công, vốn thường ưu ái các gia đình đông con, thậm chí nghiêng về tầng lớp thượng lưu và chống lại người nghèo. Sự ngột ngạt do chính phủ áp đặt—cố gắng định hình giới trẻ Hoa Kỳ theo hướng mà Nhà nước mong muốn—sẽ được thay thế bằng những hành động tự nguyện và tự do lựa chọn. Nói tóm lại, đó sẽ là một nền giáo dục thực sự tự do và chân chính, cả trong lẫn ngoài các trường học chính quy.


[1]Xem, chẳng hạn, Paul Goodman, Compulsory Mis-education and the Community of Scholars (New York: Vintage Press, 1964), cùng với nhiều tác phẩm khác của Goodman, John Holt, Jonathan Kozol, Herbert Kohl, Ivan Illich và nhiều tác giả khác.

[2] Xem chẳng hạn Albert Jay Nock, The Theory of Education in the United States (Chicago: Henry Regnery, 1949); and idem, Memoirs of a Superfluous Man (New York: Harper and Bros., 1943).

[3] Xem John William Perrin, The History of Compulsory Education in New England (1896)

[4] A.E. Twentyman, “Education; Germany,” Encyclopaedia Britannica, 14th ed. (1929), vol. VII, pp. 999–1000.

[5] Xem Perrin, The History of Compulsory Education in New England.

[6] Xem Merle Curti, The Social Ideas of American Educators (New York: Charles Scribner’s Sons, 1935).

[7] The Papers of Archibald D. Murphey (Raleigh: University of North Carolina Press, 1914), vol. II, pp. 53–54.

[8] Ludwig von Mises, The Free and Prosperous Commonwealth (Princeton, N.J.: D. Van Nostrand, 1962), pp. 114–15.

[9] Calvin E. Stowe, The Prussian System of Public Instruction and its Applicability to the United States (Cincinnati, 1830), pp. 61ff. Về những động cơ “tinh hoa” của các nhà cải cách giáo dục, xem Michael B. Katz, The Irony of Early School Reform (Boston: Beacon Press, 1970).

[10] Trích trong Edward C. Kirkland, Dream and Thought in the Business Community, 1860–1900 (Chicago: Quadrangle Books, 1964), p. 54.

[11] Xem Lloyd P. Jorgenson, “The Oregon School Law of 1922: Passage and Sequel,” Catholic Historical Review (October 1968): 455–60.

[12] Xem David Hackett Fischer, “The Myth of the Essex Junto,” William and Mary Quarterly (April 1964): 191–235. Xem thêm Murray N. Rothbard, “Economic Thought: Comment,” in D.T. Gilchrist, ed., The Growth of the Seaport Cities, 1790–1825 (Charlottesville: University Press of Virginia, 1967), pp. 178–79.

[13] E.G. West, Education and the State (London: Institute of Economic Affairs, 1965), pp. 13–14.

[14] Herbert Read, The Education of Free Men (London: Freedom Press, 1944), pp. 27–28.

[15] Herbert Spencer, Social Statics (London: John Chapman, 1851), pp. 332–33.

[16] Isabel Paterson, The God of the Machine (New York: G.P. Putnam, 1943), pp. 257–58.

[17] Milton Friedman, Capitalism and Freedom (Chicago: University of Chicago Press, 1962), pp. 85–107

[18]Phê phán theo quan điểm tự do cá nhân đối với chương trình voucher, mời đọc George Pearson, Another Look at Education Vouchers (Wichita, Kan.: Center for Independent Education).

[19] “The Oregon case” ở đây nhắc đến một sự kiện pháp lý quan trọng trong lịch sử giáo dục Hoa Kỳ, cụ thể là vụ án Pierce v. Society of Sisters (1925) ở bang Oregon. Năm 1922, cử tri bang Oregon thông qua một đạo luật buộc tất cả trẻ em từ 8–16 tuổi phải theo học trường công lập. Điều này trên thực tế sẽ xóa bỏ toàn bộ trường tư, bao gồm cả trường tôn giáo (đặc biệt là Công giáo). Năm 1925, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ ra phán quyết trong vụ Pierce v. Society of Sisters, tuyên bố đạo luật này vi hiến. Tòa khẳng định rằng cha mẹ có quyền hiến định trong việc lựa chọn hình thức giáo dục cho con cái, và Nhà nước không thể độc quyền áp đặt trường công - ND.

[20] Arthur L. Stinchcombe, Rebellion in a High School (Chicago: Quadrangle Books, 1964), p. 180. Trích trong Edward C. Banfield, The Unheavenly City (Boston: Little, Brown, 1970), p. 136.

[21] Ibid., p. 292.

[22] Ibid., pp. 149ff.

[23] W. Lee Hansen and Burton A. Weisbrod, Benefits, Costs, and Finance of Public Higher Education (Chicago: Markham, 1969), p. 78. Ở Wisconsin và so sánh với California, xem W. Lee Hansen, “Income Distribution Effects of Higher Education,” American Economic Review, Papers and Proceedings (May 1969): 335–40. Về vấn đề phổ biến của việc chuyển của cải từ người nghèo sang người giàu trong “các nhà nước phúc lợi hiện đại”, xem Leonard Ross, “The Myth that Things are Getting Better,” New York Review of Books (August 12, 1971): 7–9.

[24] Về Marjorie Webster Junior College case, xem James D. Koerner, “The Case of Marjorie Webster,” The Public Interest (Summer, 1970): 40–64.

[25] James M. Buchanan and Nicos E. Devletoglou, Academia in Anarchy: An Economic Diagnosis (New York: Basic Books, 1970), pp. 32–33.

Nguyên tác: For a New Liberty, Murray N. Rothbard

Bản dịch: Phạm Nguyên Trường dịch

Dịch giả:
Phạm Nguyên Trường