Vì một nền tự do mới - Chương 14: Chiến tranh và chính sách đối ngoại
Chủ nghĩa biệt lập, tả khuynh và hữu khuynh
“Chủ nghĩa biệt lập” (Isolationism) được đặt ra như một thuật ngữ mang tính bôi nhọ, dùng để chỉ những người phản đối việc Hoa Kỳ tham chiến trong Thế chiến II. Vì từ này thường được gắn với tội lỗi “liên đới” như thể đồng nghĩa với ủng hộ Đức Quốc xã, nên “chủ nghĩa biệt lập” dần mang màu sắc “cánh hữu” và sắc thái tiêu cực nói chung. Nếu không bị xem là thân Đức Quốc xã, thì “những người theo chủ nghĩa biệt lập” ít nhất cũng bị coi là hẹp hòi, thiển cận và thiếu hiểu biết về thế giới xung quanh – trái ngược với hình ảnh những “người theo chủ nghĩa quốc tế” tinh tế, lịch lãm và nhân ái, những người ủng hộ các cuộc “thập tự chinh” của Mỹ trên toàn cầu. Trong thập kỷ vừa qua, dĩ nhiên, các lực lượng phản chiến lại bị xem là “cánh tả”; và những người theo chủ nghĩa can thiệp – từ Lyndon Johnson đến Jimmy Carter cùng những người hậu thuẫn của họ – đã không ngừng cố gắng gán cho cánh tả ngày nay nhãn mác “chủ nghĩa biệt lập” hoặc ít nhất là “chủ nghĩa tân biệt lập”.
Cánh tả hay cánh hữu? Trong Thế chiến I, những người phản đối chiến tranh cũng bị công kích dữ dội là “cánh tả”, dù trong hàng ngũ họ có cả những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân và ủng hộ chủ nghĩa tư bản tự do kinh doanh. Thực tế, trung tâm phản đối mạnh mẽ nhất đối với cuộc chiến Mỹ – Tây Ban Nha và cuộc chiến mà Mỹ tiến hành để đàn áp cuộc nổi dậy ở Philippines đầu thế kỷ XX lại là những người theo chủ nghĩa tự do ủng hộ tự do kinh doanh, như nhà xã hội học – kinh tế học William Graham Sumner và thương gia Boston Edward Atkinson, người sáng lập “Liên đoàn Chống Đế quốc” (Anti-Imperialist League). Hơn nữa, Atkinson và Sumner hoàn toàn nằm trong truyền thống vĩ đại của các nhà tự do cổ điển Anh thế kỷ XVIII – XIX, đặc biệt là những “người cực đoan laissez-faire” như Richard Cobden và John Bright của “Trường phái Manchester”. Cobden và Bright là những người đi đầu phản đối mọi cuộc chiến tranh và mọi sự can thiệp chính trị của Anh vào nền chính trị nước ngoài trong thời đại của họ; và vì những nỗ lực ấy, Cobden được biết đến không phải là một “người theo chủ nghĩa biệt lập”, mà là “Con người Quốc tế”[1]. Cho đến khi chiến dịch bôi nhọ cuối những năm 1930 nổ ra, những người phản đối chiến tranh vẫn được xem là những “người quốc tế chủ nghĩa” đích thực – phản đối sự bành trướng của nhà nước dân tộc, và ủng hộ hòa bình, tự do thương mại, tự do di cư và giao lưu văn hóa hòa bình giữa các dân tộc trên toàn thế giới. Sự can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác chỉ mang tính “quốc tế” theo cùng nghĩa mà chiến tranh mang tính quốc tế: tức là sự cưỡng ép – dù là đe dọa hay hành động quân sự – luôn vượt qua biên giới giữa các quốc gia.
“Chủ nghĩa biệt lập” nghe có vẻ cánh hữu; “trung lập” và “chung sống hòa bình” nghe có vẻ cánh tả. Nhưng bản chất của chúng là một: phản đối chiến tranh và sự can thiệp vào nền chính trị giữa các quốc gia. Đây là lập trường xuyên suốt của các phong trào phản chiến trong suốt hai thế kỷ qua – từ những người tự do cổ điển thế kỷ XVIII – XIX, đến những “tả khuynh” trong Thế chiến I và Chiến tranh Lạnh, hay những “hữu khuynh” trong Thế chiến II. Trong rất ít trường hợp, những người chống can thiệp ủng hộ “sự cô lập” theo nghĩa đen của từ này; điều họ thực sự ủng hộ là không can thiệp về mặt chính trị vào công việc nội bộ của các quốc gia khác, đi cùng với chủ nghĩa quốc tế về kinh tế và văn hóa – nghĩa là tự do thương mại, tự do đầu tư và giao lưu hòa bình giữa công dân các nước. Và đó cũng chính là tinh thần cốt lõi của chủ nghĩa tự do cá nhân.
Giới hạn quyền lực của chính phủ
Những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân chủ trương bãi bỏ mọi Nhà nước trên toàn thế giới, và thay thế các chức năng hợp pháp hiện đang được các chính phủ đảm nhiệm một cách yếu kém (như cảnh sát, tòa án, v.v.) bằng các phương tiện của thị trường tự do. Họ coi tự do là quyền tự nhiên của con người, và bảo vệ nó không chỉ cho người Mỹ mà cho tất cả mọi dân tộc. Vì vậy, trong thế giới hoàn toàn theo tinh thần tự do cá nhân, sẽ không tồn tại “chính sách đối ngoại”, bởi khi ấy cũng sẽ không còn Nhà nước – không còn chính phủ nào nắm độc quyền cưỡng chế trên bất kỳ vùng lãnh thổ nào. Tuy nhiên, vì chúng ta hiện đang sống trong thế giới của các quốc gia – dân tộc, và vì hệ thống này khó có thể biến mất trong tương lai gần, nên câu hỏi đặt ra là: Thái độ của những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân đối với chính sách đối ngoại trong thế giới đầy rẫy Nhà nước hiện nay là gì?
Trong khi chờ đợi ngày các Nhà nước giải thể, những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân mong muốn giới hạn và thu hẹp quyền lực của chính phủ trên mọi phương diện, càng nhiều càng tốt. Chúng ta đã thấy nguyên tắc “giải thể Nhà nước” có thể được áp dụng ra sao trong nhiều vấn đề “nội trị” quan trọng – nơi mục tiêu là đẩy lùi vai trò của chính quyền, và để cho năng lượng tự nguyện, tự phát của con người tự do được phát huy trọn vẹn thông qua tương tác hòa bình, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường tự do. Trong lĩnh vực đối ngoại, mục tiêu vẫn như thế: ngăn chính phủ can thiệp vào công việc của các quốc gia hay chính phủ khác. Do đó, chủ nghĩa biệt lập và chung sống hòa bình — tức là không can thiệp vào các quốc gia khác — chính là đường lối đối ngoại của chủ nghĩa tự do cá nhân, tương ứng với việc cổ súy chính sách laissez-faire ở trong nước. Ý tưởng chủ đạo là: trói chân trói tay chính phủ, không cho họ hành động ở bên ngoài, cũng như nỗ lực trói buộc nó ở bên trong. Nói cách khác, chủ nghĩa biệt lập hay chung sống hòa bình chính là bản sao trong chính sách đối ngoại của việc giới hạn nghiêm ngặt chính quyền trong nước.
Hiện nay, toàn bộ đất đai trên thế giới đã được phân chia thành các quốc gia khác nhau, mỗi quốc gia lại do một chính phủ trung ương kiểm soát – nắm độc quyền sử dụng bạo lực trên lãnh thổ của mình. Trong quan hệ giữa các quốc gia, mục tiêu của chủ nghĩa tự do cá nhân là ngăn chặn việc bất kỳ Nhà nước nào mở rộng bạo lực của mình sang lãnh thổ khác – sao cho chế độ chuyên chế của mỗi quốc gia ít nhất cũng chỉ bị giới hạn trong phạm vi của chính nó. Bởi lẽ, những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân quan tâm trước hết đến việc giảm thiểu tối đa mọi hành vi xâm phạm của Nhà nước đối với con người tự do. Cách duy nhất để đạt được điều đó trong quan hệ quốc tế là: người dân của mỗi quốc gia phải gây áp lực để chính phủ của họ giới hạn hoạt động trong phạm vi lãnh thổ của mình, không được tấn công hay gây hấn với quốc gia khác hoặc với thần dân của quốc gia đó. Tóm lại, mục tiêu của chủ nghĩa tự do cá nhân là giữ cho bất kỳ Nhà nước hiện hữu nào chỉ được phép xâm phạm ở mức tối thiểu đối với con người và tài sản. Điều đó đồng nghĩa với việc tuyệt đối tránh xa chiến tranh. Người dân ở mỗi quốc gia cần gây áp lực để “chính phủ của họ” không gây chiến với nhau; và nếu chiến sự xảy ra, thì phải rút lui càng sớm càng tốt.
Xin giả định một thế giới chỉ có hai quốc gia giả tưởng: Graustark và Belgravia. Mỗi nước đều do chính quyền riêng cai trị. Điều gì sẽ xảy ra nếu chính phủ Graustark xâm lược lãnh thổ Belgravia? Theo quan điểm của chủ nghĩa tự do cá nhân, hai điều ác sẽ xảy ra tức khắc. Thứ nhất, quân đội Graustark sẽ bắt đầu tàn sát những thường dân Belgravia vô tội, những người hoàn toàn không liên quan đến bất kỳ tội lỗi nào mà chính quyền Belgravia có thể đã gây ra. Chiến tranh, do đó, là một cuộc thảm sát hàng loạt, một sự xâm phạm trắng trợn quyền được sống, quyền tự chủ và quyền sở hữu của vô số người – không chỉ là tội ác, mà đối với người theo phái tự do cá nhân, đó chính là tội ác cao nhất. Thứ hai, bởi mọi chính phủ đều thu nguồn lợi từ hành vi trộm cắp thông qua cưỡng bức thuế khóa, nên bất kỳ cuộc huy động hay triển khai quân đội nào cũng tất yếu kéo theo việc gia tăng thuế khóa và cưỡng chế ở Graustark. Vì cả hai lý do – vì chiến tranh giữa các quốc gia luôn đồng nghĩa với giết người hàng loạt và gia tăng cưỡng bức thuế khóa – nên những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân phản đối chiến tranh. Chấm hết.
Không phải lúc nào cũng như thế Trong thời Trung Cổ, phạm vi của chiến tranh bị giới hạn chặt chẽ hơn nhiều. Trước khi vũ khí hiện đại xuất hiện, năng lực vũ trang còn rất hạn chế, đến mức các chính quyền có thể – và thường thực sự đã – giới hạn bạo lực của mình trong phạm vi quân đội của các chính phủ đối địch. Đúng là việc cưỡng bức thuế khóa có gia tăng, nhưng ít nhất lúc đó không xảy ra những vụ thảm sát hàng loạt người vô tội. Không chỉ vì hỏa lực yếu hơn khiến bạo lực chỉ tập trung vào các đội quân đối địch nhau, mà còn bởi trong thời kỳ tiền hiện đại, chưa tồn tại Nhà nước – dân tộc trung ương nào có thể tự xưng là đại diện cho toàn thể cư dân của một vùng đất nhất định. Nếu một nhóm vua hay lãnh chúa này giao chiến với một nhóm khác, người dân quanh đó không cảm thấy mình buộc phải trở thành phe phái trung thành của ai hết. Hơn nữa, thay vì những đội quân nghĩa vụ khổng lồ bị ép phục vụ cho các nhà cầm quyền của họ, các đội quân lúc đó chủ yếu là những nhóm lính đánh thuê nhỏ lẻ. Thậm chí, một thú vui phổ biến của dân chúng là quan sát các trận chiến từ nơi an toàn trên tường thành thị trấn, và chiến tranh được coi như một cuộc tỉ thí mang tính thể thao. Nhưng kể từ khi Nhà nước tập quyền trỗi dậy và vũ khí hủy diệt hàng loạt ra đời, việc tàn sát dân thường cùng với các đạo quân nghĩa vụ đã trở thành phần thiết yếu của mọi cuộc chiến giữa các quốc gia.
Giả sử rằng, bất chấp sự phản đối có thể có từ những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân, chiến tranh vẫn bùng nổ. Rõ ràng, lập trường của chủ nghĩa tự do cá nhân phải là: chừng nào chiến tranh còn tiếp diễn, thì phạm vi tấn công vào thường dân vô tội cần được giảm thiểu đến mức thấp nhất có thể. Luật pháp quốc tế cổ điển từng có hai công cụ xuất sắc để đạt được mục tiêu này: Luật chiến tranh, và Luật trung lập hay quyền của người trung lập.
Luật trung lập được thiết lập nhằm bảo đảm rằng chiến tranh chỉ giới hạn trong phạm vi các quốc gia tham chiến, không được tấn công các quốc gia trung lập, và đặc biệt không được xâm hại đến người dân của những nước không tham chiến. Do đó, có thể thấy tầm quan trọng của những nguyên tắc cổ xưa – nay gần như đã bị lãng quên – của Hoa Kỳ, như “tự do hàng hải hay những hạn chế nghiêm ngặt đối với quyền của các quốc gia tham chiến trong việc phong tỏa thương mại trung lập với nước đối địch. Tóm lại, người theo chủ nghĩa tự do cá nhân cố gắng khuyến khích các quốc gia trung lập duy trì thái độ trung lập trong mọi cuộc xung đột, đồng thời thúc giục các quốc gia tham chiến tôn trọng đầy đủ quyền lợi của công dân trung lập. Về phần mình, Luật chiến tranh được thiết kế nhằm hạn chế tối đa việc các quốc gia tham chiến xâm phạm quyền của thường dân trong lãnh thổ của chính họ. Như nhà luật học người Anh F.J.P. Veale từng viết:
Nguyên tắc căn bản của bộ luật này là: sự thù địch giữa các dân tộc văn minh phải được giới hạn trong phạm vi lực lượng vũ trang thực sự tham chiến. Bộ luật này phân biệt giữa người tham chiến và người không tham chiến, bằng cách xác định rằng công việc duy nhất của những người tham chiến là chiến đấu với nhau; do đó, những người không tham chiến phải được loại trừ khỏi phạm vi của các hoạt động quân sự[2].
Dưới dạng được sửa đổi là cấm ném bom tất cả các thành phố không nằm trên tuyến đầu, quy tắc này vẫn được duy trì trong các cuộc chiến ở Tây Âu suốt nhiều thế kỷ — cho đến khi Anh quốc phát động chiến dịch ném bom chiến lược nhằm vào dân thường trong Thế chiến II. Ngày nay, dĩ nhiên, hầu như không còn ai nhớ đến khái niệm ấy nữa, bởi vì bản chất của chiến tranh hạt nhân hiện đại chính là sự hủy diệt dân thường.
Trở lại với hai quốc gia giả định Graustark và Belgravia. Giả sử Graustark đã xâm lược Belgravia, và lúc này một chính phủ thứ ba – Walldavia – nhảy vào cuộc chiến để “bảo vệ Belgravia khỏi sự xâm lược của Graustark.” Liệu hành động ấy có chính đáng không? Chính ở đây, ta thấy mầm mống của học thuyết nguy hại bậc nhất trong thế kỷ XX – “an ninh tập thể”, tức là ý tưởng cho rằng khi một chính phủ “xâm lược” một chính phủ khác, thì các chính phủ còn lại có nghĩa vụ đạo đức phải liên kết với nhau để bảo vệ Nhà nước “bị xâm lược.”
Khái niệm “an ninh tập thể chống lại xâm lược” này có nhiều sai lầm nghiêm trọng mang tính căn bản. Thứ nhất, khi Walldavia – hoặc bất kỳ quốc gia nào khác – lao vào cuộc chiến, chính họ đang mở rộng và làm trầm trọng thêm hành vi xâm lược, bởi vì họ: Giết hại hàng loạt thường dân Graustarkian vô tội, và Gia tăng mức độ cưỡng bức thuế khóa đối với công dân Walldavia. Hơn nữa, trong thời đại mà ranh giới giữa Nhà nước và thần dân trở nên gắn kết chặt chẽ, hành động đó khiến công dân Walldavia dễ trở thành mục tiêu trả đũa của bom đạn hay tên lửa Graustarkian. Do vậy, việc chính phủ Walldavia tham chiến thực chất đã đặt tính mạng và tài sản của chính công dân nước mình – những người mà họ được cho là phải bảo vệ – vào tình trạng hiểm nguy. Và cuối cùng, chính sách cưỡng bức tòng quân – nô dịch công dân Walldavia – cũng sẽ leo thang mạnh mẽ hơn.
Nếu loại hình “an ninh tập thể” này được áp dụng trên quy mô toàn cầu, với tất cả các “Walldavia” đồng loạt nhảy vào mọi xung đột khu vực và không ngừng leo thang, thì mọi va chạm trong khu vực nhỏ sẽ nhanh chóng biến thành một cuộc đại chiến toàn cầu.
Lại có một lỗ hổng trọng yếu khác trong học thuyết “an ninh tập thể.” Ý tưởng tham chiến để ngăn chặn “xâm lược” thực ra chỉ là một phép so sánh sai lầm, dựa trên hình ảnh của hành vi tấn công giữa các cá nhân. Thí dụ: Smith bị bắt gặp đang đánh Jones – tức đang xâm hại anh ta. Cảnh sát gần đó liền chạy đến bảo vệ nạn nhân Jones; họ thực hiện “hành động cảnh sát” để ngăn chặn hành vi xâm lược. Chính vì chạy theo ảo tưởng này, mà Tổng thống Truman đã kiên quyết gọi việc Mỹ tham chiến tại Triều Tiên là một “hành động cảnh sát”, tức là nỗ lực tập thể của Liên Hiệp Quốc nhằm đẩy lùi “hành vi xâm lược.”
Nhưng “xâm lược” chỉ có ý nghĩa ở cấp độ cá nhân kiểu Smith–Jones, cũng như chính thuật ngữ “hành động cảnh sát”. Những thuật ngữ này hoàn toàn vô nghĩa khi áp dụng ở cấp độ liên quốc gia. Thứ nhất, như ta đã thấy, các chính phủ khi tham chiến thực chất trở thành những kẻ xâm lược đối với thường dân vô tội; nói đúng hơn, là những kẻ giết người hàng loạt. Phép so sánh chính xác hơn với hành động cá nhân sẽ là: Smith đánh Jones, cảnh sát lao vào giúp Jones, nhưng trong quá trình cố gắng bắt giữ Smith, họ lại ném bom cả một khu phố và giết hại hàng ngàn người, hoặc xả súng máy vào một đám đông vô tội. Đây mới là phép so sánh chân thực, vì đó chính là điều mà một chính phủ đang tham chiến thực hiện – và trong thế kỷ XX, hành động này diễn ra trên quy mô khổng lồ. Bất kỳ cơ quan cảnh sát nào hành xử như vậy đều trở thành kẻ xâm lược tội phạm, thậm chí còn tệ hại hơn cả Smith – kẻ khởi đầu vụ việc.
Nhưng vẫn còn một sai sót nghiêm trọng khác trong phép so sánh này. Khi Smith đánh Jones hoặc cướp tài sản của anh ta, ta có thể xác định Smith là kẻ xâm phạm quyền cá nhân hoặc tài sản của nạn nhân. Nhưng khi Nhà nước Graustark xâm lược lãnh thổ của Nhà nước Belgravia, thì không thể gọi đó là “xâm lược” theo cùng một nghĩa. Đối với những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân, không chính phủ nào có quyền chính đáng đối với bất kỳ quyền sở hữu hay “chủ quyền” nào trên một vùng lãnh thổ nhất định. Do đó, yêu sách của Nhà nước Belgravia đối với lãnh thổ của mình hoàn toàn khác với quyền sở hữu tài sản của Jones (mặc dù sau này, nếu điều tra, cũng có thể là kết quả của một hành vi chiếm đoạt bất hợp pháp). Không Nhà nước nào có tài sản hợp pháp cả; toàn bộ lãnh thổ của chúng đều là kết quả của những hình thức xâm lược và chinh phục bằng bạo lực. Vì thế, cuộc xâm lược của Nhà nước Graustark thực chất là cuộc chiến giữa hai nhóm kẻ cướp và kẻ xâm lược – chỉ có điều, những người dân vô tội ở cả hai bên đều bị chà đạp.
Ngoài nhận định tổng quát như thế về các chính phủ, cái gọi là Nhà nước “xâm lược” thường lại có yêu sách khá hợp lý đối với “nạn nhân” của mình – hợp lý, dĩ nhiên là, trong bối cảnh của hệ thống quốc gia – dân tộc. Giả sử Graustark vượt qua biên giới Belgravia vì một thế kỷ trước, Belgravia đã từng xâm lược và chiếm đóng các tỉnh đông bắc của Graustark. Cư dân các tỉnh này về văn hóa, sắc tộc và ngôn ngữ đều là người Graustark. Giờ đây, Graustark tiến hành xâm lược để được đoàn tụ với đồng bào của mình. Trong tình huống ấy, người theo chủ nghĩa tự do cá nhân – dù lên án cả hai chính phủ vì gây chiến và giết hại thường dân – vẫn buộc phải thừa nhận rằng Graustark có yêu sách chính đáng hơn, hay ít ra là ít bất công hơn. Nói cách khác: trong trường hợp hiếm hoi mà hai quốc gia có thể quay lại kiểu chiến tranh tiền hiện đại, với (a) vũ khí được giới hạn sao cho không thường dân nào bị thương vong; (b) quân đội hoàn toàn tình nguyện chứ không cưỡng bức; và (c) việc tài trợ chiến tranh bằng phương thức tự nguyện thay vì đánh thuế cưỡng chế — thì trong bối cảnh đó, người theo chủ nghĩa tự do cá nhân có thể hoàn toàn đứng về phía Graustark.
Trong tất cả các cuộc chiến gần đây, không cuộc chiến nào – dù không hoàn toàn – đáp ứng ba tiêu chí vừa nêu cho “cuộc chiến chính nghĩa” hơn cuộc chiến do Ấn Độ tiến hành hồi cuối năm 1971 nhằm giải phóng Bangladesh. Chính phủ Pakistan khi ấy được hình thành như một di sản khủng khiếp cuối cùng của Đế quốc Anh để lại cho tiểu lục địa Ấn Độ. Cụ thể, quốc gia Pakistan là sự thống trị mang tính đế quốc của người Punjab ở Tây Pakistan đối với người Bengal – đông hơn và năng suất hơn – ở Đông Pakistan (và cả người Pathan ở Biên giới Tây Bắc). Người Bengal từ lâu đã khao khát độc lập khỏi ách thống trị; đầu năm 1971, quốc hội bị đình chỉ sau chiến thắng của người Bengal trong bầu cử, và kể từ đó, quân đội Punjab đã tàn sát dân thường Bengal một cách có hệ thống. Sự tham chiến của Ấn Độ đã giúp đỡ lực lượng kháng chiến dân tộc Mukhti Bahini của người Bengal. Mặc dù vẫn có yếu tố thuế khóa và nghĩa vụ quân sự, quân đội Ấn Độ không hề sử dụng vũ khí chống lại thường dân Bengal; trái lại, đây là một cuộc chiến tranh cách mạng thực sự của nhân dân Bengal chống lại Nhà nước Punjab chiếm đóng. Chỉ có binh lính Punjab là những người phải hứng chịu đạn pháo của Ấn Độ mà thôi.
Ví dụ này cho thấy một đặc điểm khác của chiến tranh: chiến tranh du kích cách mạng có thể phù hợp hơn nhiều với các nguyên tắc của chủ nghĩa tự do cá nhân — nếu so với bất kỳ cuộc chiến tranh liên quốc gia nào. Bản chất của hoạt động du kích là bảo vệ dân thường khỏi sự tàn phá của Nhà nước; bởi vì du kích sinh sống trên cùng lãnh thổ với Nhà nước đối địch, họ không thể sử dụng vũ khí hạt nhân hay các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt khác. Hơn nữa, bởi du kích dựa vào sự ủng hộ và trợ giúp của dân thường để giành chiến thắng, nên một phần cốt lõi trong chiến lược của họ là bảo vệ dân thường khỏi thương vong, và chỉ tập trung tấn công vào bộ máy Nhà nước cùng với lực lượng vũ trang của nó. Do đó, chiến tranh du kích đưa chúng ta trở lại với đức tính cổ xưa và đáng trân trọng: xác định chính xác kẻ thù và tha cho người vô tội. Và du kích, như một phần trong nỗ lực giành được sự ủng hộ nhiệt thành của nhân dân, thường tránh cưỡng bức tòng quân và đánh thuế, mà dựa vào sự đóng góp tự nguyện về nhân lực và vật lực.
Những phẩm chất mang tính tự do cá nhân đó chỉ có ở phía cách mạng; còn đối với các lực lượng phản cách mạng của Nhà nước, câu chuyện lại hoàn toàn khác. Mặc dù Nhà nước không thể “tấn công hạt nhân” chính thần dân của mình, nhưng tất yếu phải dựa chủ yếu vào các chiến dịch khủng bố hàng loạt: giết hại, khủng bố và bắt giữ dân thường. Bởi vì du kích, muốn thành công, phải được đa số dân chúng ủng hộ, nên nếu muốn tiến hành chiến tranh, Nhà nước buộc phải tập trung vào việc tiêu diệt dân chúng, hoặc dồn họ vào các trại tập trung để tách họ khỏi lực lượng du kích. Chiến thuật này từng được tướng Tây Ban Nha “Đồ tể” Weyler sử dụng trong việc đàn áp quân nổi dậy Cuba vào thập niên 1890; sau đó được quân đội Mỹ tiếp nối ở Philippines, quân Anh áp dụng trong Chiến tranh Boer, và tiếp tục tồn tại cho đến chính sách “ấp chiến lược” thất bại gần đây ở Nam Việt Nam.
Vì vậy, chính sách đối ngoại của chủ nghĩa tự do cá nhân không phải là chính sách chủ hòa tuyệt đối. Chúng tôi không cho rằng — như những người theo chủ nghĩa hòa bình — rằng không cá nhân nào có quyền sử dụng bạo lực để tự vệ trước các cuộc tấn công bạo lực. Điều chúng tôi khẳng định là: không ai có quyền cưỡng bức tòng quân, đánh thuế, giết hại người khác, hoặc sử dụng bạo lực chống lại kẻ khác nhân danh quyền tự vệ. Bởi mọi Nhà nước đều tồn tại dựa trên sự xâm lược đối với thần dân của mình, cũng như trên nền tảng chiếm đoạt lãnh thổ bằng bạo lực; và bởi các cuộc chiến giữa các quốc gia luôn tàn sát dân thường vô tội, nên những cuộc chiến như thế luôn là bất công — dù có cuộc bất công hơn, có cuộc ít hơn. Chiến tranh du kích chống lại Nhà nước ít nhất cũng có tiềm năng đáp ứng các tiêu chuẩn của chủ nghĩa tự do cá nhân, vì nó xác định rõ ràng mục tiêu là bộ máy Nhà nước và quân đội của nó, đồng thời dựa vào các phương thức tự nguyện để tuyển mộ và tài trợ cho cuộc đấu tranh.
Chính sách đối ngoại của Mỹ
Chúng ta đã thấy rằng những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân có trách nhiệm hàng đầu là tập trung vào những cuộc xâm lược và hành động gây hấn của chính Nhà nước của họ. Những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân ở Graustark phải nỗ lực hạn chế và thu hẹp quyền lực của Nhà nước Graustark; những người ở Walldavia phải cố gắng kiềm chế Nhà nước Walldavia, v.v. Về đối ngoại, những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân ở mọi quốc gia đều phải thúc giục chính phủ của mình tránh xa chiến tranh và can thiệp vào công việc của nước ngoài, cũng như rút khỏi bất kỳ cuộc chiến nào mà họ đang tham dự. Nếu không vì lý do nào khác, thì ít nhất, những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân ở Hoa Kỳ cũng phải tập trung phê phán các hoạt động đế quốc và hiếu chiến của chính phủ nước mình.
Tuy nhiên, vẫn còn những lý do khác để những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân tại đây đặc biệt quan tâm đến các cuộc xâm lược và can thiệp nước ngoài của Hoa Kỳ. Bởi vì, xét theo kinh nghiệm lịch sử — đặc biệt trong toàn bộ thế kỷ XX — chính phủ hiếu chiến nhất, can thiệp nhiều nhất và mang tính đế quốc nhất chính là Hoa Kỳ. Phát biểu này chắc chắn sẽ khiến nhiều người Mỹ sửng sốt, vì trong nhiều thập kỷ qua, họ đã bị bao phủ bởi làn sóng tuyên truyền mãnh liệt của giới cầm quyền về sự “thánh thiện”, “ý hướng hòa bình”, và “tận tâm với công lý” của chính phủ Mỹ trong các vấn đề đối ngoại.
Động lực bành trướng của Nhà nước Mỹ bắt đầu gia tăng mạnh từ cuối thế kỷ XIX — khi nước này mạnh dạn vươn ra hải ngoại qua cuộc chiến tranh với Tây Ban Nha, áp đặt quyền thống trị lên Cuba, chiếm Puerto Rico và Philippines, rồi đàn áp một cách tàn bạo phong trào kháng chiến giành độc lập của người Philippines. Chủ nghĩa đế quốc Mỹ đạt đến đỉnh điểm trong Thế chiến I, khi Tổng thống Woodrow Wilson đưa nước Mỹ nhảy vào cuộc chiến, kéo dài thêm những vụ tàn sát hàng loạt và, một cách vô tình, gieo mầm cho những thảm họa dẫn đến thắng lợi của phe Bolshevik ở Nga và sự trỗi dậy của Đức Quốc xã ở Đức. Thiên tài đặc biệt của Wilson nằm ở chỗ ông đã khoác cho chính sách can thiệp và thống trị toàn cầu của Mỹ một cái áo đạo đức – tôn giáo, nhân danh việc “mang lại hòa bình” và “cứu rỗi nhân loại”. Đó là chính sách muốn định hình mọi quốc gia theo khuôn khổ của Mỹ, vừa đàn áp các chế độ cấp tiến hoặc Marxist, vừa chống lại các chính thể quân chủ bảo thủ.
Chính Woodrow Wilson là người đã định hình những đường nét chủ đạo cho chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong suốt phần còn lại của thế kỷ XX. Hầu như mọi Tổng thống kế nhiệm đều xem mình là “người theo chủ nghĩa Wilson” và tiếp tục duy trì di sản chính trị đó. Không phải ngẫu nhiên mà cả Herbert Hoover lẫn Franklin D. Roosevelt – vốn từ lâu bị xem là hai thái cực đối lập – đều giữ vai trò trọng yếu trong cuộc “thập tự chinh toàn cầu” đầu tiên của Mỹ trong Thế chiến I, và đều lấy kinh nghiệm can thiệp và hoạch định chiến tranh lúc đó làm kim chỉ nam cho các chính sách đối nội và đối ngoại trong tương lai của mình. Và một trong những hành động đầu tiên của Richard Nixon khi trở thành Tổng thống là đặt bức chân dung của Woodrow Wilson lên bàn làm việc của ông ta.
Nhân danh “quyền dân tộc tự quyết” và “an ninh tập thể” chống xâm lược, chính phủ Hoa Kỳ đã liên tục theo đuổi mục tiêu và chính sách nhằm thống trị thế giới, đồng thời sử dụng vũ lực để đàn áp bất kỳ cuộc nổi dậy nào chống lại hiện trạng ở bất kỳ nơi nào trên thế giới. Nhân danh việc chống “xâm lược” ở khắp mọi nơi — với tư cách là “sen đầm” thế giới — chính họ lại trở thành kẻ xâm lược lớn nhất và thường trực nhất.
Bất kỳ ai phản đối cách mô tả như vậy về chính sách của Hoa Kỳ chỉ cần quan sát phản ứng điển hình của người Mỹ trước bất kỳ cuộc khủng hoảng nào — trong nước hay quốc tế — ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, thậm chí ở những vùng xa xôi mà không thể, dù bằng trí tưởng tượng phóng đại nhất, được xem là mối đe dọa trực tiếp hay gián tiếp đối với sinh mạng và an ninh của người dân Mỹ. Khi nhà độc tài quân sự của “Bumblestan” lâm nguy — có lẽ vì thần dân của ông ta đã quá mệt mỏi trước sự bóc lột của ông cùng bè lũ — Hoa Kỳ lập tức tỏ ra vô cùng quan ngại. Báo chí thân cận với Bộ Ngoại giao hoặc Lầu Năm Góc bắt đầu đăng tải những bài cảnh báo về “nguy cơ mất ổn định” của Bumblestan và khu vực xung quanh nếu nhà độc tài bị lật đổ. Bởi lẽ, tình cờ ông ta là một nhà độc tài “thân Mỹ” hoặc “thân phương Tây” — nghĩa là “người của chúng ta”, chứ không phải “của họ”. Hàng triệu, thậm chí hàng tỷ đô la viện trợ quân sự và kinh tế, ngay lập tức được Hoa Kỳ rót vào để nâng đỡ vị thống chế Bumblestan. Nếu nhà độc tài “của chúng ta” được cứu, người ta thở phào nhẹ nhõm, và những lời chúc mừng lan truyền khắp nơi về việc Nhà nước “của chúng ta” được an toàn. Tất nhiên, áp bức đang diễn ra — hoặc ngày càng nặng nề hơn — đối với người đóng thuế Mỹ và công dân Bumblestan không hề được tính đến trong phương trình. Còn nếu nhà độc tài Bumblestan sụp đổ, cơn hoảng loạn có thể bao trùm báo chí và giới chức Mỹ trong một thời gian ngắn. Nhưng rồi, chẳng bao lâu, người Mỹ lại tiếp tục sống như trước — thậm chí thoải mái hơn — nếu điều đó đồng nghĩa với việc tiết kiệm được vài tỷ đô la viện trợ từng dùng để chống đỡ cho chế độ Bumblestan.
Nếu đã hiểu và mặc nhiên chấp nhận rằng Hoa Kỳ sẽ luôn tìm cách áp đặt ý chí của mình lên mọi cuộc khủng hoảng trên thế giới, thì điều đó chính là bằng chứng rõ ràng cho thấy Mỹ là cường quốc can thiệp và đế quốc lớn nhất hành tinh. Nơi duy nhất mà Hoa Kỳ hiện không tìm cách áp đặt ý chí của mình là Liên Xô và các quốc gia cộng sản — mặc dù, dĩ nhiên, họ đã từng làm như thế trong quá khứ. Trong nhiều năm liền, Woodrow Wilson, cùng với Anh và Pháp, đã tìm cách đè bẹp chủ nghĩa Bolshevik ngay từ trong trứng nước, khi quân đội Mỹ và Đồng minh được gửi đến Nga để hỗ trợ lực lượng Sa hoàng (“Bạch vệ”) trong nỗ lực tiêu diệt phe Hồng quân. Sau Thế chiến II, Hoa Kỳ ra sức đẩy Liên Xô ra khỏi Đông Âu, và đã thành công trong việc buộc họ rút khỏi Azerbaijan ở tây bắc Iran. Hoa Kỳ cũng hỗ trợ Anh dập tắt chế độ Cộng sản ở Hy Lạp. Mỹ đã cố duy trì chế độ độc tài của Tưởng Giới Thạch ở Trung Quốc, điều động nhiều đơn vị quân đội của Tưởng tiến lên phía bắc chiếm Mãn Châu khi quân Nga rút lui sau Thế chiến II; đồng thời tiếp tục ngăn cản Trung Quốc chiếm giữ các hải đảo của họ là Kim Môn và Mã Tổ. Sau khi gần như dựng nhà độc tài Batista lên nắm quyền ở Cuba, Hoa Kỳ lại tìm mọi cách để lật đổ chế độ Cộng sản Castro — từ cuộc xâm lược Vịnh Con Lợn do CIA dàn dựng cho đến các âm mưu ám sát Castro do CIA phối hợp với mafia tiến hành.
Trong tất cả các cuộc chiến mà Hoa Kỳ tiến hành trong thời gian gần đây, chắc chắn cuộc chiến gây chấn động nhất đối với người Mỹ và quan niệm của họ về chính sách đối ngoại là Chiến tranh Việt Nam. Cuộc chiến tranh mang tính đế quốc của Mỹ tại Việt Nam thực sự là hình ảnh thu nhỏ cho những sai lầm đầy bi kịch trong chính sách đối ngoại của Mỹ trong thế kỷ này. Sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam không bắt đầu – như nhiều người vẫn nghĩ – dưới thời Kennedy, Eisenhower hay thậm chí là Truman. Nó đã bắt đầu ít nhất từ ngày 26 tháng 11 năm 1941, khi chính phủ Mỹ, dưới thời Franklin Roosevelt, đưa ra tối hậu thư gay gắt và xúc phạm, buộc Nhật Bản rút quân khỏi Trung Quốc và Đông Dương – vùng đất sau này trở thành Việt Nam. Tối hậu thư này đã đặt nền móng không thể tránh khỏi cho sự kiện Trân Châu Cảng. Tham gia vào cuộc chiến ở Thái Bình Dương nhằm đánh bật Nhật Bản khỏi lục địa châu Á, Hoa Kỳ và OSS (tiền thân của CIA) đã ủng hộ và hỗ trợ phong trào kháng chiến dân tộc do Hồ Chí Minh lãnh đạo – một phong trào mang màu sắc cộng sản – trong cuộc đấu tranh chống lại Nhật Bản. Sau Thế chiến II, lực lượng Việt Minh Cộng sản kiểm soát toàn bộ miền Bắc Việt Nam. Nhưng sau đó, Pháp – cựu đế quốc cai trị Việt Nam – đã phản bội thỏa thuận với Hồ Chí Minh và tàn sát lực lượng Việt Minh. Trong vụ phản bội ấy, Pháp được Anh và Hoa Kỳ hậu thuẫn.
Khi Pháp thất bại trước phong trào du kích Việt Minh dưới quyền lãnh đạo của Hồ Chí Minh, Hoa Kỳ đã phê chuẩn Hiệp định Geneva năm 1954, theo đó Việt Nam sẽ nhanh chóng được thống nhất. Bởi vì, nhìn chung, người ta thừa nhận rằng việc chia cắt đất nước thành hai miền Nam – Bắc chỉ là tạm thời và hoàn toàn mang tính quân sự. Tuy nhiên, sau khi bằng thủ đoạn loại bỏ Việt Minh khỏi miền Nam, Hoa Kỳ phá vỡ Hiệp định Geneva và thay thế Pháp cùng vị hoàng đế bù nhìn Bảo Đại bằng Ngô Đình Diệm và gia đình ông ta – những người được Washington dựng lên để cai trị miền Nam Việt Nam bằng chế độ độc tài. Khi Diệm trở thành gánh nặng, CIA đã dàn dựng một cuộc đảo chính ám sát ông và thay thế bằng một chính quyền độc tài khác. Để đàn áp Việt Cộng – phong trào độc lập dân tộc ở miền Nam do Cộng sản lãnh đạo, Hoa Kỳ trút bom đạn tàn phá cả hai miền, sát hại hàng triệu người Việt Nam và lôi kéo nửa triệu lính Mỹ vào những đầm lầy và rừng rậm vô tận của Việt Nam.
Trong suốt cuộc xung đột bi thảm này, Hoa Kỳ vẫn duy trì câu chuyện hư cấu rằng đây là một cuộc “xâm lược” của Bắc Việt Cộng sản đối với chính quyền “thân phương Tây” ở miền Nam kêu gọi viện trợ của Mỹ. Thực chất, đó chỉ là một nỗ lực dài lâu nhưng vô vọng của nước Mỹ đế quốc nhằm đè nén ý chí của đại đa số người dân Việt Nam, duy trì những chính quyền tay sai không được lòng dân ở miền Nam – bằng bạo lực, thậm chí gần như diệt chủng, nếu cần thiết.
Người Mỹ vốn không quen dùng từ “chủ nghĩa đế quốc” để chỉ những hành động của chính phủ mình, nhưng đây là một cách gọi đặc biệt thích đáng. Theo nghĩa rộng, chủ nghĩa đế quốc có thể được định nghĩa là sự xâm lược của Nhà nước A đối với người dân của quốc gia B, rồi duy trì sự cai trị đó bằng cưỡng bức. Trong ví dụ trên, việc Nhà nước Graustark cai trị lâu dài vùng Belgravia trước đây sẽ là một trường hợp như vậy. Tuy nhiên, chủ nghĩa đế quốc không nhất thiết phải biểu hiện dưới hình thức cai trị trực tiếp. Trong thế kỷ XX, hình thức gián tiếp – tức “chủ nghĩa thực dân mới” – ngày càng thay thế kiểu cũ: tinh vi hơn, kín đáo hơn, nhưng không kém phần hiệu quả. Trong trường hợp này, nhà nước đế quốc cai trị dân tộc khác thông qua việc kiểm soát các chính quyền tay sai bản địa. Phiên bản hiện đại của chủ nghĩa đế quốc phương Tây đã được nhà sử học tự do Leonard Liggio định nghĩa một cách sâu sắc như sau:
Quyền lực đế quốc của các quốc gia phương Tây đã áp đặt lên các dân tộc trên thế giới một hệ thống bóc lột kép, hay nói cách khác là được tăng cường — tức là chủ nghĩa đế quốc — theo đó, quyền lực của các chính phủ phương Tây duy trì giai cấp thống trị bản địa để đổi lấy cơ hội chồng thêm sự bóc lột của phương Tây lên trên sự bóc lột vốn đã tồn tại của các nhà nước địa phương[3].
Trong những năm gần đây, quan điểm coi nước Mỹ như một cường quốc đế quốc lâu đời đã được các nhà sử học thừa nhận, đấy là nhờ những công trình nghiên cứu đầy sức thuyết phục và uy tín của một nhóm sử gia Tân Tả theo khuynh hướng xét lại, được truyền cảm hứng từ Giáo sư William Appleman Williams. Tuy nhiên, đây cũng chính là quan điểm từng được chia sẻ bởi những người theo chủ nghĩa biệt lập thuộc cả phe bảo thủ lẫn phe tự do cổ điển trong Thế chiến II và những năm đầu thời Chiến tranh Lạnh[4].
Phê phán của những người theo phái biệt lập
Động lực chống can thiệp và chống đế quốc cuối cùng của những người theo chủ nghĩa biệt lập bảo thủ và tự do cổ điển xuất hiện trong Chiến tranh Triều Tiên. George Morgenstern — nhà báo bảo thủ, biên tập viên chính của tờ Chicago Tribune và là tác giả của cuốn sách xét lại đầu tiên về trận Trân Châu Cảng — đã công bố một bài viết trên tờ tuần báo cánh hữu Human Events ở Washington, trong đó trình bày chi tiết hồ sơ đế quốc tàn khốc của chính phủ Hoa Kỳ, từ Chiến tranh Mỹ–Tây Ban Nha cho đến Chiến tranh Triều Tiên. Morgenstern lưu ý rằng “những lời ngụy biện cao siêu” mà Tổng thống McKinley từng dùng để biện minh cho cuộc chiến chống Tây Ban Nha:
...hẳn rất quen thuộc với bất kỳ ai đã từng nghe những lời biện minh đầy màu sắc Phúc Âm của Wilson cho quá trình can thiệp vào chiến tranh châu Âu, những lời hứa hẹn thiên đường của Roosevelt… những lời Eisenhower ca ngợi ‘cuộc thập tự chinh ở châu Âu’ mà rốt cuộc lại trở nên tồi tệ, hay những bài thuyết giáo về cuộc ‘thánh chiến ở Triều Tiên’ của Truman, Stevenson, Paul Douglas, hoặc The New York Times[5].
Trong bài phát biểu được dư luận đặc biệt chú ý, vào thời điểm thất bại nặng nề nhất của Hoa Kỳ trước lực lượng Trung Quốc ở Bắc Triều Tiên cuối năm 1950, Joseph P. Kennedy — gười theo chủ nghĩa biệt lập bảo thủ — đã kêu gọi Mỹ rút quân khỏi Triều Tiên. Kennedy tuyên bố: “Tôi dĩ nhiên phản đối chủ nghĩa Cộng sản, nhưng tôi nói rằng nếu một phần châu Âu hoặc châu Á muốn theo chủ nghĩa Cộng sản, hay thậm chí bị áp đặt chủ nghĩa đó lên người dân ở đấy, thì chúng ta cũng không thể ngăn chặn được.” Ông cho rằng kết quả của Chiến tranh Lạnh, Học thuyết Truman và Kế hoạch Marshall là thảm họa — thất bại trong việc mua chuộc bạn bè và kéo theo nguy cơ chiến tranh trên bộ tại châu Âu hoặc châu Á. Kennedy cảnh báo:
Một nửa thế giới này sẽ không bao giờ chịu khuất phục trước sự sai khiến của nửa còn lại...Việc gì chúng ta phải ủng hộ chính sách thuộc địa của Pháp ở Đông Dương, hay mưu cầu ‘khái niệm dân chủ’ của ông Syngman Rhee ở Triều Tiên? Lẽ nào chúng ta lại gửi Thủy quân Lục chiến tới dãy Himalaya để giữ cho Đức Đạt Lai Lạt Ma còn ngồi trên ngai vàng?
Về mặt kinh tế, Kennedy nói thêm rằng nước Mỹ đang tự đeo gánh nặng những món nợ vô ích do chính sách Chiến tranh Lạnh. “Nếu chúng ta cứ tiếp tục làm suy yếu nền kinh tế bằng những khoản chi tiêu xa xỉ cho các quốc gia khác hoặc cho các cuộc chiến ở nước ngoài, chúng ta sẽ liều lĩnh dẫn đến một cuộc khủng hoảng như năm 1932, và tự hủy hoại chính hệ thống mà chúng ta đang cố gắng bảo vệ”.
Kennedy kết luận rằng giải pháp duy nhất hợp lý của Hoa Kỳ là từ bỏ hoàn toàn chính sách đối ngoại thời Chiến tranh Lạnh —“rút khỏi Triều Tiên, rút khỏi Berlin và châu Âu.” Bởi, theo ông, Hoa Kỳ không thể nào ngăn chặn được quân đội Nga nếu họ quyết định hành quân qua châu Âu; và nếu châu Âu rốt cuộc ngả sang chủ nghĩa Cộng sản, thì đó là điều không thể nào tránh được.
...có thể tự tan rã như một lực lượng thống nhất. Càng có nhiều người phải cai trị, thì những kẻ cầm quyền càng cần phải tự biện minh trước những người bị trị. Càng có nhiều dân tộc nằm dưới ách thống trị của nó, thì khả năng nổi loạn càng lớn.
Và tại thời điểm khi những người ủng hộ Chiến tranh Lạnh vẫn tiên đoán rằng khối Cộng sản toàn cầu sẽ là một thực thể vĩnh cửu, Joseph Kennedy dẫn lời Nguyên soái Tito như một dấu hiệu cho thấy sự tan rã tất yếu của thế giới Cộng sản: “Mao ở Trung Quốc khó có thể nhận lệnh từ Stalin.”
Kennedy nhận thấy:
Chính sách này, tất nhiên, sẽ bị chỉ trích là nhượng bộ. [Nhưng]... liệu việc rút lui khỏi những cam kết thiếu khôn ngoan có thực sự là nhượng bộ? Nếu điều khôn ngoan nhất cho lợi ích của chúng ta là không đưa ra những cam kết có thể đe dọa đến an ninh của chính mình — và nếu như thế bị gọi là ‘nhượng bộ’ — thì tôi ủng hộ nhượng bộ.
Kennedy kết luận: “Những đề xuất tôi đưa ra [sẽ] bảo toàn sinh mạng người Mỹ cho những mục tiêu của người Mỹ, chứ không phải để lãng phí chúng trên những ngọn đồi băng giá của Triều Tiên hay trên những đồng bằng đầy thương tích của Tây Đức.”[6]
Một trong những lời chỉ trích sắc bén và mạnh mẽ nhất đối với chính sách đối ngoại của Mỹ nảy sinh từ Chiến tranh Triều Tiên được nêu ra bởi nhà báo kỳ cựu theo chủ nghĩa tự do cổ điển Garet Garrett. Ông mở đầu tập luận thuyết The Rise of Empire (1952) bằng tuyên bố: “Chúng ta đã bước qua ranh giới ngăn cách giữa Cộng hòa và Đế chế.” Rõ ràng nối tiếp luận điểm trong tác phẩm nổi tiếng thập niên 1930 của ông, The Revolution Was, lên án sự trỗi dậy của quyền lực hành pháp và chế độ nhà nước chuyên chế trong hình thức cộng hòa thời New Deal, Garrett một lần nữa nhìn thấy một “cuộc cách mạng trong hình thức” của nền cộng hòa lập hiến xưa cũ. Ông, chẳng hạn, gọi việc Truman can thiệp vào Triều Tiên mà không tuyên chiến là một “sự chiếm đoạt” quyền hạn của Quốc hội.
Trong tập sách này, Garrett phác ra các tiêu chí — những dấu hiệu đặc trưng cho sự tồn tại của một Đế chế. Thứ nhất, sự thống trị của nhánh hành pháp, thể hiện qua hành động can thiệp trái phép của Tổng thống vào Triều Tiên. Thứ hai, việc đặt chính sách đối nội dưới sự chi phối của chính sách đối ngoại. Thứ ba, “sự lên ngôi của tư duy quân phiệt”. Thứ tư, “một hệ thống các quốc gia vệ tinh”. Và thứ năm, “một phức hợp của sự khoe khoang và sợ hãi” — vừa là sự phô trương sức mạnh vô biên, vừa là nỗi sợ triền miên: sợ kẻ thù, sợ “kẻ man rợ”, sợ cả sự bất tín của các đồng minh vệ tinh. Garrett nhận thấy rằng tất cả những đặc điểm này đều hiện diện đầy đủ trong lòng nước Mỹ.
Sau khi chỉ ra rằng Hoa Kỳ đã mang đầyđủ mọi dấu hiệu của một Đế chế, ông nói thêm rằng nước Mỹ, cũng như các đế chế trước đó, cảm thấy mình là “tù nhân của lịch sử”. Bởi vì, đằng sau nỗi sợ ấy, là lý tưởng “an ninh tập thể”, và là khát vọng đóng trọn “vai trò định mệnh” mà Hoa Kỳ tự gán cho mình trên sân khấu thế giới. Garrett kết luận:
Đến lượt chúng ta rồi.
Đến lượt chúng ta làm gì?
Đến lượt chúng ta gánh vác trách nhiệm lãnh đạo đạo đức của thế giới.
Đến lượt chúng ta duy trì thế cân bằng quyền lực chống lại các thế lực của cái ác ở khắp nơi — ở châu Âu, châu Á, châu Phi, trên Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, trên không trung và dưới biển — mà trong trường hợp này, “cái ác” chính là người Nga man rợ.
Đến lượt chúng ta gìn giữ hòa bình thế giới.
Đến lượt chúng ta cứu nền văn minh.
Đến lượt chúng ta phục vụ nhân loại.
Nhưng đó chính là ngôn ngữ của Đế chế. Đế chế La Mã chưa từng hoài nghi rằng mình là kẻ bảo vệ nền văn minh. Thiện chí của họ là hòa bình, pháp luật và trật tự. Đế chế Tây Ban Nha thêm vào đó yếu tố “cứu rỗi linh hồn”. Đế chế Anh tô điểm thêm huyền thoại cao quý về “gánh nặng của người da trắng”. Còn chúng ta — chúng ta thêm vào những mỹ từ tự do và dân chủ. Thế nhưng, càng thêm vào bao nhiêu, thì rốt cuộc vẫn chỉ là cùng một thứ ngôn ngữ. Ngôn ngữ của quyền lực.[7].
Chiến tranh là sức khoẻ của nhà nước
Nhiều người theo chủ nghĩa tự do cá nhân cảm thấy không thoải mái với các vấn đề về chính sách đối ngoại, và thường thích dành năng lượng của mình cho những câu hỏi nền tảng của học thuyết tự do cá nhân, hoặc cho những mối quan tâm “nội địa” như thị trường tự do, tư nhân hóa dịch vụ bưu chính hay xử lý rác thải. Tuy nhiên, việc phản đối chiến tranh hay chính sách đối ngoại hiếu chiến lại có ý nghĩa sống còn đối với chủ nghĩa tự do cá nhân. Có hai lý do quan trọng. Lý do thứ nhất đã trở thành quen thuộc, song vẫn đúng một cách tuyệt đối: tầm quan trọng tối thượng của việc ngăn chặn thảm họa hạt nhân. Bên cạnh mọi lý do lâu đời, cả về đạo đức lẫn kinh tế, để phản đối chính sách đối ngoại can thiệp, nay còn xuất hiện thêm mối đe dọa hủy diệt toàn cầu luôn cận kề và thường trực. Nếu thế giới này bị hủy diệt, thì mọi vấn đề khác và mọi chủ nghĩa khác — chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa tự do, hay chủ nghĩa tự do cá nhân — đều trở nên vô nghĩa. Vì vậy, chính sách đối ngoại hòa bình và việc chấm dứt đe dọa hạt nhân có tầm quan trọng hàng đầu.
Lý do thứ hai là: ngoài mối nguy hạt nhân, chiến tranh, như lời nhà tư tưởng tự do cá nhân Randolph Bourne, “là sức khỏe của Nhà nước.” Chiến tranh luôn là dịp để quyền lực Nhà nước được thúc đẩy, tăng cường — và thường là vĩnh viễn — trong việc kiểm soát xã hội. Chiến tranh là cái cớ vĩ đại để huy động mọi năng lượng và nguồn lực của quốc gia, nhân danh lòng yêu nước, dưới sự bảo trợ và chỉ huy của bộ máy Nhà nước. Chính trong chiến tranh, Nhà nước mới thật sự bộc lộ bản chất của mình: phình to ra về quyền lực, về số lượng, trong niềm kiêu hãnh, trong sự thống trị tuyệt đối đối với nền kinh tế và đời sống xã hội. Xã hội biến thành một bầy đàn, tìm cách tiêu diệt những kẻ thù được cho là của mình; nhổ tận gốc và đàn áp mọi tiếng nói bất đồng chống lại cuộc chiến chính thức; vui vẻ phản bội sự thật vì cái gọi là “lợi ích chung.” Xã hội trở thành một doanh trại, với các giá trị và đạo đức — như người theo chủ nghĩa tự do Albert Jay Nock từng nói — “của một đội quân đang hành quân.”
Thật trớ trêu, chiến tranh luôn giúp Nhà nước tập hợp sức mạnh của thần dân dưới khẩu hiệu “bảo vệ Tổ quốc khỏi hiểm họa bên ngoài.” Bởi huyền thoại cốt lõi nuôi dưỡng quyền lực Nhà nước chính là ngụy biện, nói rằng chiến tranh là hành động tự vệ của Nhà nước vì dân chúng của mình. Thực tế lại hoàn toàn ngược lại. Nếu chiến tranh là sức khỏe của Nhà nước, thì nó cũng là mối hiểm họa chí tử nhất của Nhà nước. Một Nhà nước chỉ có thể “chết” khi bị đánh bại trong chiến tranh hoặc bị lật đổ bởi cách mạng. Vì thế, trong chiến tranh, Nhà nước điên cuồng huy động thần dân của mình chiến đấu cho chính Nhà nước, chống lại một Nhà nước khác, dưới danh nghĩa rằng nó đang chiến đấu để bảo vệ họ.[8]
Trong lịch sử Hoa Kỳ, chiến tranh nhìn chung luôn là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc gia tăng — và thường là vĩnh viễn — quyền lực của Nhà nước đối với xã hội. Trong Chiến tranh năm 1812 chống lại Vương quốc Anh, như đã nêu ở trên, hệ thống ngân hàng dự trữ theo tỷ lệ mang tính lạm phát hiện đại lần đầu tiên ra đời trên quy mô lớn; cùng với đó là thuế quan bảo hộ, thuế nội địa liên bang, và một lực lượng lục – hải quân thường trực. Hệ quả trực tiếp của tình trạng lạm phát thời chiến là sự tái lập Ngân hàng Trung ương Thứ hai của Hoa Kỳ. Gần như tất cả các chính sách và thể chế nhà nước này đều tiếp tục tồn tại lâu dài sau khi chiến tranh kết thúc. Nội chiến Hoa Kỳ, với hệ thống gần như độc đảng của nó, đã dẫn đến việc thiết lập chính sách trọng thương kiểu mới của “Chính phủ Lớn”, cùng việc trợ cấp cho các tập đoàn kinh doanh lớn thông qua thuế quan bảo hộ, các khoản cấp đất khổng lồ và trợ cấp cho ngành đường sắt, thuế tiêu thụ liên bang đặc biệt, cùng một hệ thống ngân hàng do liên bang kiểm soát. Cuộc chiến này cũng mang đến nghĩa vụ quân sự bắt buộc cấp liên bang và thuế thu nhập lần đầu tiên được áp dụng, đặt ra những tiền lệ nguy hiểm cho tương lai.
Thế chiến I đánh dấu bước ngoặt quyết định và mang tính định mệnh, từ một nền kinh tế tương đối tự do và laissez-faire sang hệ thống hiện tại: nền kinh tế độc quyền của các tập đoàn nhà nước trong nước và sự can thiệp thường trực của Mỹ trên toàn cầu. Việc huy động kinh tế tập thể trong chiến tranh — do Chủ tịch Hội đồng Công nghiệp Chiến tranh Bernard Baruch đứng đầu — đã hiện thực hóa giấc mơ của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp lớn và giới trí thức cấp tiến: xây dựng nền kinh tế độc quyền kiểu cartel, được hoạch định bởi chính phủ liên bang trong sự phối hợp chặt chẽ với giới doanh nghiệp. Chính chủ nghĩa tập thể thời chiến này đã nuôi dưỡng và phát triển phong trào lao động toàn quốc, vốn sẵn sàng đóng vai trò “đối tác cấp dưới” trong nền kinh tế nhà nước – doanh nghiệp mới. Hơn nữa, mô hình tập thể tạm thời ấy đã trở thành ngọn hải đăng và hình mẫu lâu dài cho các nhà lãnh đạo doanh nghiệp lớn và các chính trị gia theo chủ nghĩa tập đoàn — như kiểu nền kinh tế thời bình mà họ mong muốn áp đặt lên Hoa Kỳ. Với vai trò “ông trùm thực phẩm”, Bộ trưởng Thương mại, và sau này là Tổng thống, Herbert C. Hoover đã góp phần biến tầm nhìn đó thành hiện thực — một nền kinh tế nhà nước độc quyền được duy trì liên tục — và tầm nhìn này được Franklin D. Roosevelt hoàn thiện qua chính sách New Deal[9], tái sử dụng hàng loạt cơ quan và cả nhân sự thời chiến. Thế chiến I cũng đánh dấu sự khởi đầu của chủ nghĩa can thiệp toàn cầu kiểu Wilson, cùng với việc củng cố Hệ thống Dự trữ Liên bang vừa được thiết lập, thuế thu nhập vĩnh viễn, ngân sách liên bang khổng lồ, nghĩa vụ quân sự bắt buộc, và liên hệ mật thiết giữa bùng nổ kinh tế, các hợp đồng chiến tranh, cùng các khoản vay dành cho các nước phương Tây.
Thế chiến II là đỉnh điểm và hoàn tất của tất cả những xu hướng trên. Franklin D. Roosevelt cuối cùng đã gắn chặt vào đời sống nước Mỹ lời hứa hẹn đầy mê hoặc của chương trình đối nội và đối ngoại kiểu Wilson: Liên minh lâu dài giữa Chính phủ lớn, doanh nghiệp lớn và công đoàn lớn; một tổ hợp công nghiệp – quân sự không ngừng mở rộng; chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc; lạm phát thường trực và ngày càng gia tăng; cùng vai trò vĩnh viễn và tốn kém của Hoa Kỳ như “sen đầm phản cách mạng” trên toàn thế giới. Thế giới dưới thời Roosevelt – Truman – Eisenhower – Kennedy – Johnson – Nixon – Ford – Carter (và giữa các chính quyền này gần như không có khác biệt đáng kể) chính là “chủ nghĩa tự do doanh nghiệp” – hình thái hoàn chỉnh của Nhà nước doanh nghiệp.
Thật trớ trêu là, những người bảo thủ, vốn ít nhất trên lời nói vẫn xưng là những người ủng hộ kinh tế thị trường tự do, lại tỏ ra tự mãn và thậm chí ngưỡng mộ cái tổ hợp công nghiệp – quân sự khổng lồ này. Không có gì làm sai lệch thị trường tự do ở nước Mỹ hiện nay lớn hơn thế. Phần lớn các nhà khoa học và kỹ sư của chúng ta đã bị chuyển hướng khỏi nghiên cứu dân sự, khỏi công cuộc nâng cao năng suất và mức sống của người tiêu dùng, để lao vào những dự án quân sự và không gian lãng phí, kém hiệu quả và phi sản xuất. Những “dự án” đó lãng phí không kém mà tàn phá còn ghê gớm hơn cả những kim tự tháp đồ sộ của các các Pharaoh Ai Cập. Không phải tình cờ mà kinh tế học của Lord Keynes lại trở thành hình mẫu điển hình cho mô hình Nhà nước tự do doanh nghiệp (the corporate liberal State[10]). Bởi vì, các nhà kinh tế học trường phái Keynes đánh giá mọi hình thức chi tiêu của chính phủ đều là tích cực như nhau – dù đó là chi cho kim tự tháp, tên lửa hay nhà máy thép; theo định nghĩa của họ, mọi khoản chi tiêu đều làm tăng tổng sản phẩm quốc nội, bất kể chúng lãng phí đến mức nào. Chỉ gần đây, một số người theo chủ nghĩa tự do mới bắt đầu tỉnh ngộ trước những tác hại mà chủ nghĩa tự do doanh nghiệp kiểu Keynes đã mang lại cho nước Mỹ – gồm lãng phí, lạm phát và chủ nghĩa quân phiệt ngày càng bén rễ sâu vào xã hội.
Khi phạm vi chi tiêu của chính phủ — cả quân sự lẫn dân sự — ngày càng mở rộng, khoa học và công nghiệp càng bị kéo sang các mục tiêu không sinh lợi và những quy trình cực kỳ kém hiệu quả. Mục tiêu làm thỏa mãn người tiêu dùng một cách hiệu quả nhất ngày càng bị thay thế bởi việc lấy lòng các nhà thầu chính phủ, thường thông qua các hợp đồng “chi phí cộng” (cost-plus) rất lãng phí. Chính trị, ở từng lĩnh vực, đã thay thế kinh tế trong việc định hướng hoạt động của công nghiệp. Hơn nữa, khi cả những ngành và vùng kinh tế của đất nước trở nên phụ thuộc vào các hợp đồng của chính phủ và quân đội, một nhóm lợi ích khổng lồ đã được hình thành để duy trì các chương trình này, bất chấp việc chúng có còn giữ được ngay cả lý do mong manh về sự cần thiết về mặt quân sự hay không. Thịnh vượng kinh tế của chúng ta đã biến thành thứ “ma túy” của các khoản chi công không sinh lợi và rất kém hiệu quả[11].
Một trong những người phê phán sâu sắc và có tầm nhìn về việc Hoa Kỳ bước vào Thế chiến II là nhà văn theo truyền thống tự do cổ điển, John T. Flynn. Trong As We Go Marching, viết ngay giữa lúc cuộc chiến mà ông cố gắng ngăn chặn đang diễn ra, Flynn tố cáo rằng New Deal, đạt tới đỉnh điểm trong thời chiến, cuối cùng đã lập ra “Nhà nước doanh nghiệp” mà những thành phần trọng yếu của giới doanh nghiệp lớn đã tìm kiếm từ đầu thế kỷ XX. “Ý tưởng chung,” Flynn viết, là
tái cấu trúc xã hội bằng cách biến nó thành nền kinh tế có kế hoạch và bị cưỡng chế thay vì nền kinh tế tự do, trong đó các doanh nghiệp sẽ được tập hợp thành những phường hội lớn hoặc một cấu trúc doanh nghiệp khổng lồ, kết hợp yếu tố tự quản với sự giám sát của chính phủ, cùng một hệ thống kiểm soát kinh tế quốc gia để thực thi những sắc lệnh này… Rốt cuộc, điều này cũng không khác mấy so với những gì giới doanh nhân từng bàn tới[12].
New Deal ban đầu đã cố tạo ra xã hội mới thông qua Cơ quan Phục hồi Quốc gia (National Recovery Administration) và Cơ quan Điều chỉnh Nông nghiệp (Agricultural Adjustment Administration) — những cỗ máy mạnh mẽ của “chế độ hóa” được cả giới lao động lẫn doanh nghiệp hoan nghênh. Giờ đây, Thế chiến II đã tái lập chương trình tập thể này — “một nền kinh tế được chống đỡ bằng những dòng nợ khổng lồ dưới sự kiểm soát gần như hoàn toàn, với hầu hết các cơ quan hoạch định hoạt động với quyền lực gần như toàn trị bên trong bộ máy quan liêu khổng lồ.” Sau chiến tranh, Flynn tiên đoán, New Deal sẽ cố biến hệ thống này thành vĩnh viễn trong chính sách đối ngoại. Ông dự đoán rằng trọng tâm lớn của những khoản chi công khổng lồ sau chiến tranh sẽ tiếp tục là quân sự, vì đây là dạng chi tiêu công mà phe bảo thủ khó phản đối, và người lao động cũng dễ ủng hộ vì nó tạo việc làm. “Do đó, chủ nghĩa quân phiệt là một dự án công trình công cộng hào nhoáng mà nhiều thành phần trong cộng đồng có thể tìm được sự đồng thuận.”[13]
Flynn dự đoán rằng chính sách hậu chiến của Mỹ sẽ mang tính “quốc tế” theo nghĩa chủ nghĩa đế quốc. Chủ nghĩa đế quốc “tất nhiên là quốc tế... theo nghĩa chiến tranh là quốc tế,” và nó sẽ nối tiếp chính sách quân phiệt. “Chúng ta sẽ làm những gì các nước khác đã làm; chúng ta sẽ tiếp tục gieo nỗi khiếp sợ trong dân chúng về tham vọng xâm lược của các quốc gia khác, và chính chúng ta sẽ bước vào những dự án đế quốc của riêng mình.” Chủ nghĩa đế quốc sẽ bảo đảm rằng Hoa Kỳ sẽ có những “kẻ thù” vĩnh viễn, tiến hành cái mà Charles A. Beard sau này gọi là “cuộc chiến tranh vĩnh viễn nhằm giành lại một nền hòa bình vĩnh viễn.” Bởi vì, như Flynn chỉ ra,
chúng ta đã xoay sở để có được các căn cứ trên khắp thế giới… Không có nơi nào trên thế giới mà rắc rối có thể nảy sinh mà chúng ta không thể viện dẫn rằng lợi ích của mình đang bị đe dọa. Bị đe dọa như vậy, khi chiến tranh chấm dứt, sẽ còn đó những lý lẽ dai dẳng trong tay phe ủng hộ chủ nghĩa nhằm quốc để duy trì lực lượng hải quân hùng mạnh và quân đội khổng lồ, sẵn sàng tấn công bất cứ nơi nào hoặc chống lại cuộc tấn công từ mọi kẻ thù mà ta chắc chắn sẽ phải có[14].
Một trong những bức tranh xúc động nhất mô tả sự thay đổi trong đời sống người Mỹ do Thế chiến II gây ra được viết bởi John Dos Passos — một người suốt đời theo chủ nghĩa cá nhân và cấp tiến, nhưng đã bị đẩy từ “cực tả” sang “cực hữu” bởi làn sóng của New Deal. Dos Passos thể hiện thái độ cay đắng ấy trong cuốn tiểu thuyết thời hậu chiến Bản Thiết kế Vĩ đại (The Grand Design):
Ở trong nước, chúng ta tổ chức các ngân hàng máu và lực lượng phòng vệ dân sự, và bắt chước phần còn lại của thế giới bằng cách lập nên các trại tập trung (chỉ khác là chúng ta gọi chúng là “trung tâm tái định cư”), rồi nhốt vào đó những công dân Mỹ gốc Nhật... mà không hề cho họ được hưởng quyền habeas corpus — quyền được tòa án bảo vệ khỏi giam giữ tùy tiện.
Tổng thống Hoa Kỳ nói năng như một người dân chủ chân thành, và các thành viên Quốc hội cũng vậy. Trong chính quyền có những người thực tâm tin vào tự do dân sự. “Giờ chúng ta đang bận chiến đấu, bốn quyền tự do ấy sẽ được triển khai sau,” họ nói...
Chiến tranh là thời của các Caesar...
Và người dân Mỹ được kỳ vọng sẽ nói lời cảm ơn cho “thế kỷ của Người Bình Thường” (the century of the Common Man) — nay bị tống ra sau hàng rào thép gai, xin Chúa phù hộ cho anh ta.
Chúng ta đã học được nhiều điều, nhưng cho đến giờ, bất chấp Hiến pháp, Tuyên ngôn Độc lập, và những cuộc tranh luận vĩ đại ở Richmond và Philadelphia, chúng ta vẫn chưa học được cách trao quyền lực đối với sinh mệnh con người vào tay một người duy nhất mà khiến ông ta sử dụng nó một cách khôn ngoan[15].
Chính sách đối ngoại của Liên Xô
Trong chương trước, chúng ta đã bàn về vấn đề quốc phòng, tách khỏi câu hỏi liệu người Nga có thực sự quyết tâm tiến hành một cuộc tấn công quân sự nhằm vào Hoa Kỳ hay không. Kể từ sau Thế chiến II, chính sách quân sự và đối ngoại của Mỹ — ít nhất là trên phương diện ngôn từ — đã được xây dựng trên giả định về đe dọa tấn công đang rình rập từ Liên Xô. Chính giả định này đã giúp thu hút được sự ủng hộ của công chúng đối với chính sách can thiệp trên toàn cầu của Mỹ, cũng như biện minh cho việc chi tiêu hàng chục tỷ đô la cho quân sự. Nhưng giả định đó thực tế đến mức nào? Nó có cơ sở vững chắc ra sao?
Trước hết, không còn nghi ngờ gì rằng Liên Xô, cũng như mọi quốc gia theo chủ nghĩa Marx – Lenin khác, đều mong muốn thay thế toàn bộ các hệ thống xã hội hiện có bằng các chế độ cộng sản. Tuy nhiên, khát vọng ấy tự thân không đồng nghĩa với mối đe dọa tấn công thực sự — cũng như một ý muốn xấu xa trong đời sống cá nhân không thể là cơ sở hợp lý để cho rằng một cuộc tấn công sắp diễn ra. Trái lại, chính chủ nghĩa Marx – Lenin lại tin rằng chiến thắng của chủ nghĩa cộng sản là tất yếu, không phải nhờ sức mạnh cưỡng bức từ bên ngoài, mà từ những mâu thuẫn và căng thẳng tích tụ trong lòng mỗi xã hội. Do đó, chủ nghĩa Marx – Lenin coi cách mạng nội bộ (hoặc, theo phiên bản “Cộng sản châu Âu” hiện nay, là sự chuyển hoá dân chủ) là con đường tất yếu để thiết lập chủ nghĩa cộng sản. Đồng thời, học thuyết này xem mọi nỗ lực áp đặt chủ nghĩa cộng sản từ bên ngoài bằng vũ lực là điều đáng nghi ngờ, thậm chí phản tác dụng, vì nó cản trở quá trình chuyển hoá xã hội một cách tự nhiên và hữu cơ. Bởi vậy, bất kỳ ý tưởng nào về việc “xuất khẩu” chủ nghĩa cộng sản sang các nước khác bằng sức mạnh quân sự của Liên Xô đều hoàn toàn đi ngược lại tinh thần của lý thuyết Marx – Lenin.
Tất nhiên, chúng ta không nói rằng các nhà lãnh đạo Liên Xô sẽ luôn hành xử đúng với lý thuyết Marx – Lenin. Nhưng ở chừng mực họ hành động như những nhà cai trị bình thường của một quốc gia – dân tộc Nga hùng mạnh, thì luận điểm cho rằng Liên Xô đang chuẩn bị đe dọa Hoa Kỳ trở nên hết sức mong manh. Bởi vì, nền tảng duy nhất của mối đe dọa ấy — như được các “chiến binh Chiến tranh Lạnh” của chúng ta tô vẽ — chính là giả định rằng Liên Xô tận tụy với học thuyết Marx – Lenin và mục tiêu cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản thống trị toàn cầu. Nhưng nếu giới cầm quyền Liên Xô chỉ hành động như những nhà độc tài dân tộc chủ nghĩa, chỉ quan tâm đến lợi ích riêng của nước Nga, thì toàn bộ cơ sở để coi Liên Xô là một thế lực ma quỷ độc nhất vô nhị đang chuẩn bị tấn công quân sự sẽ hoàn toàn sụp đổ.
Năm 1917, khi những người Bolshevik giành được chính quyền ở Nga, họ hầu như chưa nghĩ đến việc hoạch định chính sách đối ngoại cho Liên Xô, bởi họ tin chắc rằng cuộc cách mạng cộng sản sẽ sớm lan sang các nước công nghiệp tiên tiến ở Tây Âu. Khi hy vọng đó tan vỡ sau khi Thế chiến I kết thúc, Lenin cùng các đồng chí Bolshevik đã xây dựng học thuyết “chung sống hòa bình” làm nền tảng cơ bản của chính sách đối ngoại của Nhà nước Cộng sản. Ý tưởng như sau: với tư cách phong trào cộng sản thành công đầu tiên, nước Nga Xô Viết sẽ trở thành ngọn hải đăng và nguồn nâng đỡ tinh thần cho các đảng cộng sản khác trên toàn thế giới. Nhưng với tư cách một quốc gia, Liên Xô sẽ duy trì quan hệ hòa bình với các nước khác, và không tìm cách xuất khẩu chủ nghĩa cộng sản bằng chiến tranh giữa các quốc gia. Điều này không chỉ xuất phát từ lý thuyết Marx – Lenin, mà còn là chủ trương mang tính thực dụng sâu sắc: đặt sự tồn vong của Nhà nước Cộng sản hiện có lên hàng đầu trong chính sách đối ngoại — nghĩa là, không bao giờ mạo hiểm sự tồn tại của Liên Xô bằng cách phát động chiến tranh quốc tế. Người ta kỳ vọng rằng các quốc gia khác, theo thời gian, sẽ tự tiến hóa thành cộng sản thông qua những tiến trình nội tại của chính họ.
Như vậy, thật may mắn, từ sự kết hợp giữa cơ sở lý thuyết và thực tiễn của riêng mình, Liên Xô đã sớm đạt được điều mà những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân xem là chính sách đối ngoại duy nhất đúng đắn và có nguyên tắc. Hơn nữa, cùng với thời gian, chính sách này được củng cố thêm bởi “chủ nghĩa bảo thủ” — vốn xuất hiện trong mọi phong trào sau khi họ đã giành và duy trì được quyền lực đủ lâu, khi lợi ích của việc duy trì quyền lực quốc gia dần được đặt lên trên lý tưởng ban đầu về cách mạng thế giới. Chính xu hướng bảo thủ ngày càng tăng này, dưới thời Stalin và những người kế nhiệm, đã làm mạnh thêm và củng cố đường lối “chung sống hòa bình”, không xâm lược lẫn nhau.
Thật vậy, những người Bolshevik đã mở đầu câu chuyện thành công của mình bằng việc trở thành đảng chính trị duy nhất ở Nga, ngay từ đầu Thế chiến I, kêu gọi Nga lập tức rút khỏi cuộc chiến. Thậm chí, họ còn đi xa hơn, chấp nhận bị công chúng chỉ trích nặng nề khi kêu gọi đánh bại chính phủ “của chính mình” (một lập trường gọi là “chủ nghĩa thất bại cách mạng”). Khi Nga bắt đầu hứng chịu tổn thất khổng lồ, quân đội đào ngũ hàng loạt và chiến tranh trở nên cực kỳ mất lòng dân, những người Bolshevik, dưới sự lãnh đạo của Lenin, vẫn là đảng duy nhất đòi chấm dứt chiến tranh ngay lập tức — trong khi các đảng khác vẫn thề sẽ chiến đấu với Đức đến cùng. Khi nắm được chính quyền, Lenin — bất chấp sự phản đối dữ dội của ngay cả đa số trong Ủy ban Trung ương Bolshevik — đã kiên quyết ký kết hòa ước “nhượng bộ” Brest-Litovsk vào tháng 3 năm 1918. Tại đây, ông đã đưa Nga ra khỏi cuộc chiến, dù phải trả giá bằng việc nhường cho quân đội Đức toàn bộ các vùng lãnh thổ khi ấy đang bị chiếm đóng (bao gồm cả Bạch Nga và Ukraina). Như vậy, Lenin và những người Bolshevik đã khởi đầu triều đại của mình không chỉ như một đảng chủ trương hòa bình, mà gần như là một đảng “hòa bình bằng mọi giá”.
Sau Thế chiến I và thất bại của Đức, nhà nước Ba Lan mới đã tấn công Nga và chiếm được một phần lớn Bạch Nga cùng với Ukraina. Tận dụng tình trạng hỗn loạn và cuộc nội chiến đang diễn ra ở Nga, nhiều nhóm dân tộc khác — Phần Lan, Estonia, Latvia và Litva — cũng quyết định tách khỏi đế chế Nga tiền chiến và tuyên bố độc lập. Mặc dù về mặt lý thuyết, chủ nghĩa Lenin có nói đến quyền tự quyết dân tộc, song đối với các nhà cầm quyền Xô Viết, ngay từ đầu đã rõ rằng biên giới của nhà nước Nga cũ phải được giữ nguyên. Hồng quân vì thế đã tái chiếm Ukraina, không chỉ từ phe Bạch vệ, mà còn từ các lực lượng dân tộc chủ nghĩa Ukraina, cũng như đạo quân không chính quyền bản địa do Nestor Makhno chỉ huy. Nhìn chung, có thể thấy Nga, giống như Đức trong những năm 1920–1930, là một quốc gia “xét lại” đối với trật tự hậu chiến Versailles — nghĩa là kim chỉ nam của cả hai nước đều là giành lại biên giới thời tiền chiến, những gì mà họ xem là ranh giới “thực sự” của đất nước mình. Cần lưu ý rằng mọi đảng phái và khuynh hướng chính trị ở cả Nga lẫn Đức, dù cầm quyền hay đối lập, đều đồng thuận với mục tiêu phục hồi toàn bộ lãnh thổ quốc gia.
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, trong khi Đức dưới thời Hitler áp dụng các biện pháp quyết liệt để tái chiếm những vùng đất đã mất, thì các nhà lãnh đạo Liên Xô thận trọng và bảo thủ lại không có bất cứ hành động nào. Chỉ sau khi hiệp ước Stalin–Hitler được ký kết và Đức chinh phục Ba Lan, Liên Xô — khi ấy không còn bị đe dọa — mới tái chiếm các vùng lãnh thổ đã mất. Cụ thể, Nga đã thu hồi Estonia, Latvia, Litva, cũng như Bạch Nga và Ukraina — những phần lãnh thổ từng thuộc miền đông Ba Lan. Và họ làm được điều đó mà không cần giao chiến. Đến lúc này, nước Nga tiền chiến đã được phục hồi gần như toàn vẹn, chỉ trừ Phần Lan. Tuy nhiên, Phần Lan đã sẵn sàng chiến đấu. Trong trường hợp này, người Nga không đòi sáp nhập toàn bộ Phần Lan, mà chỉ yêu cầu một phần eo đất Karelia, nơi có đông dân Nga sinh sống. Khi Phần Lan từ chối, Chiến tranh Mùa Đông (1939–1940) đã bùng nổ và kết thúc với việc Phần Lan chỉ nhượng lại vùng Karelia thuộc Nga[16].
Ngày 22 tháng 6 năm 1941, Đức — sau khi đã chiến thắng tất cả mọi đối thủ ở phương Tây, ngoại trừ Anh — bất ngờ phát động cuộc tấn công ồ ạt và vô cớ vào Liên Xô, một hành động xâm lược được hỗ trợ và tiếp tay bởi các quốc gia thân Đức ở Đông Âu: Hungary, Romania, Bulgaria, Slovakia và Phần Lan. Cuộc xâm lược này nhanh chóng trở thành một trong những bước ngoặt trọng yếu nhất trong lịch sử châu Âu hiện đại. Stalin đã hoàn toàn không chuẩn bị cho cuộc tấn công, vì quá tin tưởng vào tính “hợp lý” của hiệp định hòa bình Đức–Nga ở Đông Âu, đến mức để quân đội Nga rơi vào tình trạng suy yếu nghiêm trọng. Thực tế, Stalin thiếu hẳn tinh thần hiếu chiến, đến nỗi Đức gần như đã chinh phục được nước Nga, dù phải đối mặt với những trở ngại khổng lồ. Bởi nếu không có cuộc phiêu lưu này, Đức có thể đã duy trì quyền kiểm soát châu Âu trong thời gian vô hạn định. Nhưng Hitler, bị hấp dẫn bởi tiếng gọi của hệ tư tưởng chống Cộng, đã từ bỏ con đường lý trí và thận trọng, mở đầu cho cuộc chiến dẫn đến thất bại cuối cùng của mình.
Những người theo “huyền thoại Chiến tranh Lạnh” thường thừa nhận rằng trước Thế chiến II, Liên Xô không hề có hành động gây hấn trên trường quốc tế — thực ra họ bị buộc phải thừa nhận điều đó, bởi phần lớn họ đều ủng hộ liên minh Hoa Kỳ – Liên Xô chống Đức trong cuộc chiến tranh này. Họ cho rằng, chính trong và ngay sau Thế chiến II, Liên Xô đã trở thành bành trướng và mở rộng thế lực vào Đông Âu.
Tuy nhiên, luận điểm này bỏ qua một thực tế cốt lõi: chính Đức và các đồng minh của mình đã phát động cuộc tấn công vào Nga vào tháng 6 năm 1941. Do đó, để đánh bại quân xâm lược, dĩ nhiên Nga phải đẩy lùi các đạo quân tấn công và chinh phục Đức cùng các quốc gia Đông Âu tham chiến. Nếu muốn gọi đó là “chủ nghĩa bành trướng”, thì việc Hoa Kỳ chinh phục và chiếm đóng Ý cùng một phần Đức còn dễ bị quy như thế hơn — bởi Hoa Kỳ chưa từng bị Đức tấn công trực tiếp.
Trong Thế chiến II, Hoa Kỳ, Anh và Nga, ba đồng minh chủ chốt, đã thỏa thuận cùng chia sẻ quyền chiếm đóng quân sự đối với tất cả các lãnh thổ bị chinh phục. Tuy nhiên, Hoa Kỳ là nước đầu tiên phá vỡ thỏa thuận, khi không cho phép Nga tham gia bất kỳ vai trò nào trong việc chiếm đóng quân sự tại Ý. Dù đó là vi phạm nghiêm trọng, Stalin vẫn duy trì ưu tiên nhất quán của mình đối với lợi ích bảo thủ của nhà nước dân tộc Nga, hơn là bám chặt vào hệ tư tưởng cách mạng, bằng cách nhiều lần phản bội các phong trào Cộng sản bản địa. Nhằm giữ gìn quan hệ hòa bình giữa Nga và phương Tây, Stalin liên tục kiềm chế sự nổi lên của các phong trào Cộng sản ở châu Âu. Ông đã thành công ở Pháp và Ý, nơi các nhóm du kích Cộng sản hoàn toàn có thể nắm quyền sau khi quân Đức rút lui; nhưng Stalin ra lệnh cho họ không làm như thế, và thay vào đó thuyết phục họ tham gia các chính phủ liên hiệp do các đảng chống Cộng đứng đầu. Ở cả hai nước, các đảng Cộng sản nhanh chóng bị loại khỏi liên minh. Ở Hy Lạp, nơi lực lượng Cộng sản suýt giành được chính quyền, Stalin đã khiến họ suy yếu không thể cứu vãn bằng cách bỏ rơi họ và thúc giục họ giao nộp chính quyền cho quân đội Anh đang tiến vào.
Ở các nước khác, đặc biệt là những nơi có các đảng phái Cộng sản mạnh, những người Cộng sản đã thẳng thừng từ chối yêu cầu của Stalin. Ở Nam Tư, Tito – người giành được thắng lợi – đã từ chối yêu cầu của Stalin buộc ông phải quy phục Mihailovich, nhân vật chống Cộng, trong một liên minh cầm quyền; Mao cũng từ chối yêu cầu tương tự của Stalin rằng ông phải phục tùng Tưởng Giới Thạch. Không còn nghi ngờ gì rằng, chính những sự từ chối này đã mở đầu cho những rạn nứt cực kỳ nghiêm trọng về sau trong phong trào Cộng sản quốc tế.
Do đó, nước Nga cai trị Đông Âu với tư cách là lực lượng chiếm đóng quân sự sau khi giành chiến thắng trong cuộc chiến được phát động chống lại mình. Mục tiêu ban đầu của Nga không phải là cộng sản hóa Đông Âu bằng sức mạnh của Hồng quân, mà là đạt được sự bảo đảm rằng Đông Âu sẽ không còn là con đường rộng mở cho các cuộc tấn công vào Nga, như đã từng xảy ra ba lần chỉ trong nửa thế kỷ — lần gần nhất là trong cuộc chiến làm cho hơn 20 triệu người Nga thiệt mạng. Tóm lại, Nga mong muốn các quốc gia láng giềng của mình không chống Cộng về mặt quân sự và không bị lợi dụng làm bàn đạp cho một cuộc xâm lược khác. Tình hình chính trị ở Đông Âu lúc đó cho thấy chỉ riêng Phần Lan, vốn phát triển hơn, mới có những chính trị gia phi Cộng sản mà Nga có thể tin tưởng sẽ theo đuổi đường lối đối ngoại hòa bình. Và ở Phần Lan, là nhờ tầm nhìn xa của một chính khách lỗi lạc — nhà lãnh đạo nông nghiệp Julio Paasikivi. Chính vì Phần Lan, khi đó và kể từ đó, kiên định theo đuổi “đường lối Paasikivi” mà Nga sẵn sàng rút quân khỏi nước này và không khăng khăng đòi cộng sản hóa — dù hai nước đã từng giao chiến hai lần chỉ trong sáu năm trước đó.
Ngay cả ở các quốc gia Đông Âu khác, Nga vẫn duy trì các chính phủ liên minh trong nhiều năm sau chiến tranh, và chỉ hoàn toàn cộng sản hóa vào năm 1948 — sau ba năm chịu sức ép không ngừng nghỉ từ phía Mỹ trong Chiến tranh Lạnh nhằm tìm cách đẩy Nga ra khỏi khu vực này. Ở các nơi khác, Nga cũng sẵn sàng rút quân khỏi Áo và Azerbaijan.
Những người ủng hộ Chiến tranh Lạnh khó lòng giải thích được hành động của Nga ở Phần Lan. Nếu Nga luôn quyết tâm áp đặt chế độ Cộng sản ở bất cứ nơi nào có thể, thì tại sao họ lại theo “đường lối mềm mỏng” với Phần Lan? Lời giải thích hợp lý duy nhất là động cơ thực sự của Nga là bảo đảm an ninh quốc gia trước nguy cơ bị tấn công, còn việc mở rộng chủ nghĩa cộng sản thế giới chỉ giữ vai trò rất thứ yếu trong thang ưu tiên của họ.
Thực tế cho thấy, những người ủng hộ Chiến tranh Lạnh chưa bao giờ có thể giải thích hay thấu hiểu được đầy đủ những chia rẽ sâu sắc trong phong trào Cộng sản quốc tế. Bởi nếu toàn bộ những người Cộng sản đều bị chi phối bởi một hệ tư tưởng chung, thì tất cả các Đảng Cộng sản ở khắp mọi nơi lẽ ra phải hợp thành một khối thống nhất — và xét đến thành công ban đầu của những người Bolshevik, tất cả sẽ trở thành cấp dưới hay “cơ quan trực thuộc” của Moscow. Nhưng nếu họ được thúc đẩy chủ yếu bởi liên kết ý thức hệ Mác–Lênin, thì tại sao lại có sự chia rẽ sâu sắc Trung–Xô, đến mức Nga duy trì một triệu quân sẵn sàng trên biên giới? Tại sao lại có sự thù địch giữa các quốc gia Cộng sản Nam Tư và Albania? Tại sao lại có cả xung đột quân sự giữa những người Cộng sản Campuchia và Việt Nam? Câu trả lời, dĩ nhiên, là khi phong trào cách mạng nắm được chính quyền, nó nhanh chóng khoác lên mình những đặc điểm của giai cấp thống trị — với lợi ích giai cấp riêng trong việc duy trì quyền lực Nhà nước. Cuộc cách mạng thế giới, từ đó, dần trở nên thứ yếu trong tầm nhìn của họ. Và vì giới tinh hoa cầm quyền có thể, và thực sự có, những xung đột về lợi ích quyền lực và của cải, nên chẳng có gì ngạc nhiên khi các cuộc xung đột giữa các nhà nước Cộng sản trở thành phổ biến.
Từ sau chiến thắng trước Đức và các cuộc xâm lược quân sự liên quan trong Thế chiến II, Liên Xô vẫn tiếp tục duy trì chính sách quân sự bảo thủ. Mục đích duy nhất của họ là bảo vệ lãnh thổ trong khối Cộng sản, thay vì mở rộng hơn nữa. Vì vậy, khi Hungary đe dọa rời khỏi khối Liên Xô vào năm 1956, hoặc Tiệp Khắc vào năm 1968, Liên Xô đã can thiệp bằng quân sự - chắc chắn là đáng lên án, nhưng vẫn hành động theo hướng bảo thủ và phòng thủ hơn là bành trướng. (Liên Xô dường như đã cân nhắc kỹ lưỡng việc xâm lược Nam Tư khi Tito đưa nước này ra khỏi khối Liên Xô, nhưng đã bị ngăn cản bởi những phẩm chất đáng gờm của quân đội Nam Tư trong chiến tranh du kích.) Dù sao mặc lòng, Nga chưa bao giờ sử dụng quân đội để mở rộng khối Xô Viết hay chinh phục thêm lãnh thổ.
Giáo sư Stephen F. Cohen, giám đốc Chương trình Nghiên cứu Nga tại Đại học Princeton, gần đây đã mô tả bản chất của chủ nghĩa bảo thủ Liên Xô trong chính sách đối ngoại như sau:
Thật có vẻ nghịch lý khi một hệ thống ra đời từ cách mạng và vẫn tuyên xưng những tư tưởng cách mạng lại trở thành một trong những hệ thống bảo thủ nhất thế giới. Nhưng mọi yếu tố được xem là then chốt trong nền chính trị Liên Xô đều góp phần tạo nên xu hướng bảo thủ này: truyền thống quan liêu của chính quyền Nga trước Cách mạng; quá trình quan liêu hóa sau đó của đời sống Xô Viết — vốn nhân rộng các chuẩn mực bảo thủ và hình thành một tầng lớp cố hữu những người bảo vệ nhiệt thành đặc quyền quan liêu; bản chất già cỗi của giới tinh hoa hiện nay; và thậm chí cả hệ tư tưởng chính thống, vốn từ nhiều năm trước đã chuyển hướng từ việc kiến tạo trật tự xã hội mới sang việc ca ngợi trật tự hiện có...
Nói cách khác, động lực chủ yếu của chủ nghĩa bảo thủ Liên Xô ngày nay là duy trì những gì họ đã có, cả trong và ngoài nước, thay vì mạo hiểm đánh mất nó. Một chính phủ bảo thủ, dĩ nhiên, vẫn có thể thực hiện các hành động quân sự nguy hiểm — như chúng ta đã thấy ở Tiệp Khắc — nhưng đó là những hành động mang tính bảo hộ đế quốc, tức chủ nghĩa quân phiệt phòng vệ, chứ không phải cách mạng hay bành trướng. Chắc chắn, đối với hầu hết các nhà lãnh đạo Liên Xô — cũng như có lẽ đối với phần lớn các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ — hòa hoãn không phải là nỗ lực vị tha, mà là theo đuổi lợi ích quốc gia. Ở một nghĩa nào đó, điều này có thể làm cho ta thấy buồn; nhưng có lẽ cũng đúng: lợi ích chung mang lại nền tảng bền vững hơn cho hòa hoãn, so với thứ “chủ nghĩa vị tha cao cả” nhưng cuối cùng lại trống rỗng[17].
Tương tự, ngay cả một nguồn chống Liên Xô có uy tín như cựu Giám đốc CIA William Colby cũng cho rằng bận tâm hàng đầu của Liên Xô là mục tiêu phòng vệ, nhằm tránh lặp lại một cuộc xâm lược thảm khốc khác trên lãnh thổ của họ. Như Colby đã làm chứng trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện:
Quý vị sẽ thấy ở họ [Liên Xô] lo lắng — thậm chí có phần hoang tưởng — về an ninh của chính mình. Quý vị sẽ thấy quyết tâm rằng họ sẽ không bao giờ để bị xâm lược và phải trải qua những biến động mà họ từng chịu đựng qua nhiều cuộc chiến khác nhau... Tôi nghĩ rằng họ đang cố ‘tự bảo vệ quá mức’ để bảo đảm điều đó không bao giờ tái diễn[18].
Ngay cả Trung Quốc, bất chấp những lời lẽ hùng hồn và phô trương, cũng đã theo đuổi chính sách đối ngoại mang tính bảo thủ và ôn hòa. Họ không những chưa từng xâm lược Đài Loan — được quốc tế công nhận là một phần của Trung Quốc — mà còn để các đảo nhỏ ngoài khơi Kim Môn và Mã Tổ tiếp tục nằm trong tay Tưởng Giới Thạch. Không hề có hành động nào nhằm chiếm lại các vùng lãnh thổ do Anh và Bồ Đào Nha chiếm giữ là Hồng Kông và Ma Cao. Và thậm chí, Trung Quốc đã có bước đi hiếm thấy là tuyên bố ngừng bắn đơn phương và rút quân về biên giới, sau khi dễ dàng giành thắng lợi trước quân Ấn Độ trong chiến tranh biên giới leo thang[19].
Tránh áp đặt định kiến tiên nghiệm lên lịch sử
Đa số người Mỹ, và thậm chí cả một số người theo chủ nghĩa tự do cá nhân, vẫn chia sẻ một quan niệm chung có thể khiến họ không tiếp thu được phân tích trong chương này: huyền thoại do Woodrow Wilson khởi xướng, cho rằng các chế độ dân chủ tất yếu phải yêu chuộng hòa bình, còn các chế độ độc tài tất yếu phải hiếu chiến. Quan điểm này, dĩ nhiên, rất tiện lợi để che đậy trách nhiệm của chính Wilson trong việc lôi kéo nước Mỹ vào một cuộc chiến tranh vô nghĩa và tàn khốc. Nhưng ngoài điều đó ra, hoàn toàn không có bằng chứng nào ủng hộ giả định này. Nhiều chế độ độc tài đã hướng nội, chỉ giới hạn trong việc áp bức chính người dân của mình – từ Nhật Bản tiền hiện đại, đến Albania Cộng sản, và vô số chế độ độc tài trong Thế giới thứ ba hiện nay. Idi Amin của Uganda – có lẽ là nhà độc tài tàn bạo nhất thế giới ngày nay – cũng không hề tỏ ra muốn liều lĩnh xâm lược các quốc gia láng giềng. Ngược lại, chế độ dân chủ không thể nghi ngờ như Vương quốc Anh lại từng bành trướng chủ nghĩa đế quốc cưỡng bức của mình trên toàn cầu suốt thế kỷ XIX và cả trước đó nữa.
Lý do lý thuyết khiến việc tập trung vào “dân chủ” hay “độc tài” là sai trọng tâm, nằm ở chỗ: tất cả các quốc gia – mọi quốc gia – đều cai trị dân chúng của mình và tự quyết định có gây chiến hay không. Và tất cả, dù là dân chủ, độc tài, hay một hình thức cai trị nào khác, đều do tầng lớp tinh hoa nắm quyền điều hành. Việc các tầng lớp tinh hoa này có phát động chiến tranh hay không phụ thuộc vào mạng lưới nhân tố phức tạp: tính khí của giới cầm quyền, sức mạnh của đối thủ, động cơ chiến tranh, và dư luận quần chúng. Dù ở thể chế nào, dư luận vẫn phải được đo lường; điểm khác biệt duy nhất là trong các chế độ dân chủ, chính quyền cần tuyên truyền mạnh hơn để thuyết phục dân chúng ủng hộ chiến tranh. Tuyên truyền, dĩ nhiên, là điều cần thiết cho mọi quốc gia tham chiến – như ta thấy qua việc tất cả các nhà nước hiện đại hăng hái định hình dư luận. Nhưng các nhà nước dân chủ phải làm việc ấy nhanh hơn, tinh vi hơn, và giả hình hơn – bằng cách viện dẫn những giá trị được lòng quần chúng: công lý, tự do, lợi ích quốc gia, lòng yêu nước, hòa bình thế giới, v.v. Nghệ thuật tuyên truyền ở đó phải tinh tế hơn, song bản chất vẫn như nhau: tất cả các chính phủ, đặc biệt là chính phủ dân chủ, đều phải thuyết phục thần dân rằng mọi hành vi áp bức của mình thực ra là vì lợi ích tốt nhất của họ.
Tương tự, không hề có tương quan nào giữa mức độ tự do trong nước và mức độ hiếu chiến đối ngoại. Một số quốc gia có thể duy trì tự do trong nước trong khi gây chiến ở ngoài; ngược lại, có những quốc gia cai trị toàn trị nhưng vẫn theo đuổi chính sách đối ngoại hòa bình. Những ví dụ như Uganda, Albania, Trung Quốc, và Anh đều minh chứng điều này.
Tóm lại, những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân và người Mỹ nói chung phải cảnh giác trước thói quen áp đặt định kiến tiên nghiệm lên lịch sử – cụ thể là giả định rằng trong bất kỳ xung đột nào, quốc gia dân chủ hơn hoặc tự do hơn tất yếu là nạn nhân của quốc gia độc tài hơn. Không hề có chứng cứ lịch sử nào cho giả định ấy. Để xác định đúng – sai, hay mức độ xâm lược trong một tranh chấp quốc tế, không có cách nào khác ngoài việc khảo cứu lịch sử cụ thể và thực chứng. Vì vậy, cũng không có gì đáng ngạc nhiên nếu kết quả cho thấy nước Mỹ dân chủ và tương đối tự do lại hung hăng và đế quốc hơn nước Nga hay Trung Quốc toàn trị. Ngược lại, việc thừa nhận rằng quốc gia ít hiếu chiến hơn không hề có nghĩa người quan sát tán thành cách cai trị trong nước của quốc gia ấy. Điều quan trọng – thực sự là vấn đề sống còn – là người Mỹ phải đủ bình tĩnh và sáng suốt để nhìn vào hồ sơ đối ngoại của chính phủ mình mà không bị che mắt bởi huyền thoại, giống như họ đã bắt đầu làm được với chính trị nội địa. Bởi vì chiến tranh và những “mối đe dọa bên ngoài” giả tạo từ lâu đã là công cụ chính để nhà nước giành lại lòng trung thành của thần dân. Như ta đã thấy, chính chiến tranh và chủ nghĩa quân phiệt đã là những kẻ đào huyệt chôn vùi chủ nghĩa tự do cổ điển; và chúng ta không được để Nhà nước lại tiếp tục dùng mưu mẹo này thêm một lần nào nữa.[20]
Chương trình chính sách đối ngoại
Để kết thúc phần thảo luận này, nội dung trọng tâm của một chương trình chính sách đối ngoại theo chủ nghĩa tự do cá nhân đối với Hoa Kỳ phải là: kêu gọi Hoa Kỳ từ bỏ hoàn toàn chính sách can thiệp toàn cầu — rút quân ngay lập tức và triệt để, cả về quân sự lẫn chính trị, khỏi châu Á, châu Âu, Mỹ Latinh, Trung Đông, và tất cả các nơi khác trên thế giới. Lời kêu gọi của những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân ở Hoa Kỳ nên là: Hoa Kỳ hãy rút lui ngay, dưới mọi hình thức sự can dự của chính phủ liên bang. Hoa Kỳ cần tháo dỡ các căn cứ quân sự, rút toàn bộ binh lính, chấm dứt mọi sự can thiệp chính trị không ngừng nghỉ và giải thể Cục Tình báo Trung ương (CIA). Đồng thời, cần chấm dứt tất cả các chương trình viện trợ nước ngoài — vốn chỉ là công cụ buộc người đóng thuế Hoa Kỳ phải trợ cấp cho hàng xuất khẩu và các quốc gia được ưu ái, tất cả đều được che đậy dưới danh nghĩa “giúp đỡ những dân tộc đang đói khổ trên thế giới.” Tóm lại, chính phủ Hoa Kỳ nên hoàn toàn thu mình trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, và duy trì chính sách “cô lập” hay trung lập nghiêm ngặt trong tất cả các lĩnh vực đối ngoại.
Tinh thần của chính sách đối ngoại “cô lập tuyệt đối” theo khuynh hướng tự do cá nhân này từng được thể hiện trong những năm 1930 bởi Thiếu tướng Thủy quân Lục chiến đã nghỉ hưu Smedley D. Butler. Mùa thu năm 1936, Tướng Butler đã đề xuất một tu chính án hiến pháp nay đã bị quên lãng — bản tu chính án mà những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân hẳn sẽ rất hoan nghênh nếu nó được xem xét nghiêm túc trở lại. Dưới đây là toàn văn đề xuất tu chính án của Butler:
-
Việc di chuyển các thành viên của lực lượng vũ trang trên bộ ra khỏi phạm vi lãnh thổ lục địa Hoa Kỳ và Khu vực Kênh đào Panama, vì bất kỳ lý do gì, đều bị nghiêm cấm.
-
Các tàu của Hải quân Hoa Kỳ, hoặc của các lực lượng vũ trang khác, bị nghiêm cấm di chuyển trên biển — vì bất kỳ lý do gì, ngoại trừ sứ mệnh nhân đạo — vượt quá năm trăm dặm tính từ bờ biển quốc gia.
-
Các máy bay thuộc Lục quân, Hải quân và Thủy quân Lục chiến bị cấm bay, vì bất kỳ lý do gì, quá bảy trăm năm mươi dặm ngoài bờ biển Hoa Kỳ[21].
Giải trừ quân bị
Do đó, chủ nghĩa biệt lập nghiêm ngặt cùng lập trường trung lập là nền tảng đầu tiên của chính sách đối ngoại theo tinh thần tự do cá nhân, bên cạnh việc thừa nhận trách nhiệm chủ yếu của Nhà nước Mỹ trong việc khơi mào Chiến tranh Lạnh và can dự vào hầu hết các cuộc xung đột của thế kỷ này. Tuy nhiên, khi đã chọn chính sách biệt lập, Hoa Kỳ nên theo đuổi đường lối vũ trang nào? Nhiều người theo chủ nghĩa biệt lập thời kỳ đầu từng ủng hộ chính sách “vũ trang đến tận răng”; nhưng trong thời đại hạt nhân, chương trình như thế vẫn tiếp tục mang đến nguy cơ khủng khiếp của thảm họa toàn cầu, đồng thời nuôi dưỡng một Nhà nước vũ trang hùng mạnh, cùng với sự lãng phí và méo mó khổng lồ mà các khoản chi tiêu kém hiệu quả của chính phủ gây ra cho nền kinh tế.
Ngay cả khi chỉ xét từ góc độ quân sự, Hoa Kỳ và Liên Xô đều có đủ năng lực để hủy diệt lẫn nhau không chỉ một lần; và Hoa Kỳ hoàn toàn có thể duy trì sức mạnh răn đe hạt nhân của mình chỉ bằng cách loại bỏ mọi vũ khí khác, ngoại trừ các tàu ngầm Polaris — loại phương tiện gần như bất khả xâm phạm, được trang bị tên lửa hạt nhân mang nhiều đầu đạn nhắm đến nhiều mục tiêu khác nhau. Thế nhưng, đối với những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân, hay thậm chí với bất kỳ ai lo ngại trước sự tàn sát quy mô lớn của vũ khí hạt nhân, thì ngay cả việc chỉ còn lại các tàu ngầm Polaris cũng khó có thể được xem là giải pháp thỏa đáng. Hòa bình thế giới vẫn sẽ phải dựa vào “cán cân sợ hãi” mong manh — một thế cân bằng luôn có thể bị phá vỡ bởi tai nạn hoặc sự điên rồ của những kẻ cầm quyền. Không, muốn nhân loại thực sự thoát khỏi hiểm họa hạt nhân, điều cốt yếu là phải đạt được giải trừ hạt nhân trên phạm vi toàn cầu — mà các thỏa thuận SALT năm 1972 cùng những cuộc đàm phán SALT II chỉ mới là khởi đầu đầy do dự mà thôi.
Vì lợi ích sinh tồn của tất cả mọi người, kể cả của các nhà cầm quyền, là không bị tiêu diệt trong một cuộc đại họa hạt nhân, nên lợi ích chung đó chính là nền tảng vững chắc và hợp lý để thống nhất thực thi chính sách “giải trừ toàn diện và triệt để” đối với vũ khí hạt nhân và các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt hiện đại khác. Giải trừ như thế đã hoàn toàn khả thi kể từ khi Liên Xô chấp thuận các đề xuất của phương Tây về vấn đề này vào ngày 10 tháng 5 năm 1955 — sự chấp thuận lại khiến phương Tây hoảng hốt và vội vàng rút lui khỏi chính các đề xuất của mình[22]!
Lâu nay, lập luận của phía Mỹ vẫn là: chúng ta muốn giải trừ kèm theo thanh tra, còn Liên Xô thì chỉ muốn giải trừ mà không thanh tra. Nhưng thực tế lại hoàn toàn khác: kể từ tháng 5 năm 1955, Liên Xô ủng hộ mọi hình thức giải trừ cùng với thanh tra không giới hạn đối với bất cứ thứ gì đã được giải trừ; trong khi Mỹ thì đòi thanh tra không giới hạn nhưng lại đi kèm rất ít, hoặc hầu như không có, giải trừ nào cả. Đó chính là bản chất thật của đề xuất “Bầu trời mở” (Open Skies) nổi tiếng nhưng về cơ bản là thiếu trung thực của Tổng thống Eisenhower, vốn được đưa ra để thay thế cho những đề xuất giải trừ quân bị mà Mỹ đã vội vã rút lại sau khi Liên Xô chấp thuận vào tháng 5 năm 1955. Ngay cả đến nay, khi “bầu trời mở” đã gần như trở thành hiện thực nhờ các vệ tinh không gian của Mỹ và Nga, thì Hiệp định SALT năm 1972, dù gây nhiều tranh cãi, vẫn không mang lại sự giải trừ thực sự, mà chỉ dừng lại ở việc hạn chế mở rộng thêm kho vũ khí hạt nhân. Hơn nữa, vì sức mạnh chiến lược của Hoa Kỳ trên toàn cầu chủ yếu dựa vào vũ khí hạt nhân và không quân, nên thật có cơ sở để tin vào thiện chí của Liên Xô trong bất kỳ hiệp ước nào nhằm loại bỏ tên lửa hạt nhân hoặc máy bay ném bom tấn công.
Không chỉ cần giải trừ vũ khí hạt nhân theo một thỏa thuận chung, mà còn phải giải trừ tất cả các loại vũ khí có khả năng khai hỏa hàng loạt vượt qua biên giới quốc gia — đặc biệt là máy bay ném bom. Chính những phương tiện hủy diệt hàng loạt như tên lửa và máy bay ném bom không bao giờ có thể được nhắm bắn chính xác đến mức tránh thiệt hại cho dân thường vô tội. Hơn nữa, việc từ bỏ hoàn toàn tên lửa và máy bay ném bom sẽ bắt buộc tất cả các chính phủ, trong đó có chính quyền Mỹ, phải theo đuổi chính sách biệt lập và trung lập. Chỉ khi chính phủ bị tước đoạt khả năng tiến hành chiến tranh xâm lược thì họ mới bị buộc phải hướng tới chính sách biệt lập và hòa bình. Xét đến hồ sơ đen tối của hầu hết các chính phủ, kể cả chính phủ Mỹ, thật là ngu xuẩn nếu để những sứ giả của tội ác và hủy diệt đại quy mô ấy nằm trong tay họ, rồi tin rằng họ sẽ không bao giờ sử dụng chúng. Nếu việc chính phủ sử dụng những vũ khí như vậy là trái đạo lý, thì tại sao lại cho phép chúng tồn tại, vẫn sẵn sàng và đầy đạn, trong những bàn tay không hoàn toàn trong sạch đó?
Sự tương phản giữa quan điểm phe bảo thủ và phe tự do cá nhân về chiến tranh và chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ được thể hiện rõ trong cuộc tranh luận giữa William F. Buckley, Jr. và nhà người theo tự do cá nhân Ronald Hamowy vào những ngày đầu của phong trào tự do cá nhân đương đại. Khinh bỉ những phê phán của phe tự do cá nhân đối với lập trường đối ngoại bảo thủ, Buckley viết:
Trong bất kỳ xã hội nào cũng có chỗ cho những người chỉ quan tâm đến việc giữ sổ sách; nhưng hãy để họ nhận ra rằng chính nhờ thái độ sẵn sàng hy sinh của phe bảo thủ để chống kẻ thù [Liên Xô] mà họ mới có thể tận hưởng cuộc sống ẩn dật, và bận rộn với những buổi hội thảo vụn vặt về việc có nên tư nhân hóa hay không công việc thu gom rác.
Hamowy đáp lại một cách sắc bén:
Có thể nghe dường như là vô ơn, nhưng tôi phải từ chối cảm ơn ông Buckley vì đã cứu mạng tôi. Hơn nữa, tôi tin rằng nếu quan điểm của ông thắng thế và ông tiếp tục 'giúp đỡ' một cách không mong muốn ấy, thì kết quả rất có thể sẽ là cái chết của tôi (và của hàng chục triệu người khác) trong chiến tranh hạt nhân, hoặc là tôi sẽ sắp bị bỏ tù vì tội ‘phản quốc…
Tôi nhất quyết bảo vệ quyền tự do cá nhân, và chính vì vậy tôi khẳng định không ai có quyền ép buộc quyết định của mình lên người khác. Ông Buckley thà chết chứ không chịu sống dưới ách Cộng sản — tôi cũng vậy. Nhưng tôi khẳng định mọi người phải được quyền tự quyết. Một cuộc thảm sát hạt nhân sẽ quyết định thay cho họ[23].
Chúng ta có thể thêm rằng bất kỳ ai muốn đều có quyền chọn cho mình quan điểm “thà chết chứ không làm Cộng sản” hay “cho tôi tự do hoặc chết”. Điều họ không có quyền làm là áp đặt những quyết định ấy lên người khác — chính sách ủng hộ chiến tranh của phe bảo thủ đang làm như thế. Thực chất, thông điệp của những người bảo thủ là: “Thà chết còn hơn là sống dưới chế độ Cộng sản,” và “cho tôi tự do hay để họ chết” — đó không phải là tiếng gọi của những người anh hùng cao cả mà là của kẻ phạm tội diệt chủng.
Ở một khía cạnh duy nhất Buckley có lý: trong thời đại hạt nhân, quan tâm đến chiến tranh và chính sách đối ngoại quan trọng hơn việc có nên tư nhân hóa việc thu gom rác — dù việc sau cũng có giá trị. Nhưng nếu chúng ta đặt an ninh toàn cầu lên hàng đầu, thì hệ luận trái ngược với kết luận của Buckley là hiển nhiên: vì không quân và tên lửa hiện đại không thể được nhắm một cách chính xác nhằm tránh tổn hại dân thường, nên chính sự tồn tại của chúng phải bị lên án. Vì thế, giải trừ vũ khí hạt nhân và giải trừ lực lượng không quân trở thành một mục tiêu tối quan trọng, đáng theo đuổi vì chính giá trị của nó, thậm chí còn quan trọng hơn cả việc tư nhân hóa dịch vụ thu gom rác.
[1] Xem William H. Dawson, Richard Cobden and Foreign Policy (London: George Allen and Unwin, 1926).
[2] F.J.P. Veale, Advance to Barbarism (Appleton, Wisc.: C.C. Nelson Publishing, 1953), p. 58.
[3] Leonard P. Liggio, Why the Futile Crusade? (New York: Center for Libertarian Studies, 1978), p. 3.
[4] Muốn biết những người “Tân Tả” xét lại (New Left), ngoài chính Williams, còn có thể kể đến các công trình của Gabriel Kolko, Lloyd Gardner, Stephen E. Ambrose, N. Gordon Levin, Jr., Walter LaFeber, Robert F. Smith, Barton Bernstein và Ronald Radosh. Đi đến những kết luận tương tự nhưng xuất phát từ truyền thống xét lại khác hẳn là Charles A. Beard và Harry Elmer Barnes, người theo phái tự do cá nhân James J. Martin, cùng các những người theo phái tự do cổ điển là John T. Flynn và Garet Garrett..
Trong tác phẩm Prophets on the Right: Profiles of Conservative Critics of American Globalism, New York: Simon and Schuster, 1975), Ronald Radosh khắc hoạ một cách trân trọng quan điểm biệt lập của phe bảo thủ đối đầu can thiệp của Hoa Kỳ trong Thế chiến II. Trong nhiều bài viết và trong cuốn Not to the Swift: The Old Isolationists in the Cold War Era, (Lewisburg, Pa.: Bucknell University Press, 1978), Justus D. Doenecke phân tích kỹ lưỡng và đầy cảm thông tâm thức của những người theo chủ nghĩa biệt lập thời Thế chiến II khi đối diện với giai đoạn đầu Chiến tranh Lạnh. Lời kêu gọi về phong trào chung giữa phe tả và phe hữu chống can thiệp và chống chủ nghĩa đế quốc có thể được tìm được trong cuốn Containment and Change (New York: Macmillan, 1967) của Carl Oglesby và Richard Shaull. Thư mục chú giải các tác phẩm của những người theo chủ nghĩa biệt lập, mời đọc Doenecke, The Literature of Isolationism (Colorado Springs, Colo.: Ralph Myles, 1972).
[5] George Morgenstern, “The Past Marches On,” Human Events (22 tháng 4 năm 1953). Tác phẩm mang tính xét lại về Trân Châu Cảng là của Morgenstern, Pearl Harbor: Story of a Secret War (New York: Devin-Adair, 1947).
Muốn tìm hiểu thêm về những người theo phái biệt lập thuộc phe bảo thủ và phê phán của họ đối với Chiến tranh Lạnh, xem Murray N. Rothbard, “The Foreign Policy of the Old Right,” Journal of Libertarian Studies.
[6] Joseph P. Kennedy, “Present Policy is Politically and Morally Bankrupt,” Vital Speeches (January 1, 1951): 170–73.
[7] Garet Garrett, The People’s Pottage (Caldwell, Idaho: Caxton Printers, 1953), pp. 158–59, 129–74. Muôn tìm hiểu thêm những lập luận mang tính phê phán Chiến tranh Lạnh từ quan điểm chống đế quốc của phe bảo thủ hoặc những người theo phái tự do cổ điển, mời đọc Doenecke, Not to the Swift, p. 79
[8] Muốn tìm hiểu thêm lý thuyết về chính sách đối ngoại của phe tự do cá nhân, xin mời đọc Murray N. Rothbard, “War, Peace and the State,” trong Egalitarianism as a Revolt Against Nature and other Essays (Washington, D.C.: Libertarian Review Press, 1974), pp. 70–80
[9] Gần đây, nhiều nhà sử học theo khuynh hướng xét lại đã phát triển diễn giải này về lịch sử Hoa Kỳ thế kỷ XX. Đặc biệt, có thể xem các công trình của Gabriel Kolko, James Weinstein, Robert Wiebe, Robert D. Cuff, William E. Leuchtenburg, Ellis D. Hawley, Melvin I. Urofsky, Joan Hoff Wilson, Ronald Radosh, Jerry Israel, David Eakins và Paul Conkin—một lần nữa, tương tự như trong xu hướng xét lại chính sách đối ngoại, đều chịu ảnh hưởng từ William Appleman Williams. Một loạt các tiểu luận vận dụng cách tiếp cận này có thể được tìm thấy trong tuyển tập do Ronald Radosh và Murray N. Rothbard biên tập, A New History of Leviathan (New York: Dutton, 1972).
[10] the corporate liberal State là Nhà nước theo phái tự do chủ nghĩa nhưng lại được định hình và điều hành theo lợi ích của các tập đoàn - ND.
[11] Về những méo mó về kinh tế mà các chính sách công nghiệp-quân sự tạo ra, mời đọc Seymour Melman, ed. The War Economy of the United States (New York: St. Martin’s Press, 1971).
[12] John T. Flynn, As We Go Marching (New York: Doubleday, Doran,1944), pp. 193–94.
[13] Ibid., pp. 198, 201, 207.
[14] Ibid., pp. 212–13, 225–26.
[15] John Dos Passos, The Grand Design (Boston: Houghton Mifflin, 1949), pp. 416–18.
[16] Muốn có góc nhìn sáng tỏ về xung đột Nga-Phần Lan, xin mời đọc Max Jakobson, The Diplomacy of the Winter War (Cambridge, Mass.: Harvard University Press, 1961)
[17] Stephen F. Cohen, “Why Detente Can Work,” Inquiry (December 19, 1977): 14–15.
[18] Trích trong Richard J. Barnet, “The Present Danger: American Security and the U.S.-Soviet Military Balance,” Libertarian Review (November 1977): 12.
[19] Mời đọc Neville Maxwell, India’s China War (New York: Pantheon Books, 1970). Việc Trung Quốc tái chiếm và trấn áp cuộc nổi dậy mang tinh thần dân tộc ở Tây Tạng cũng không phải là một luận điểm có giá trị nhằm phản bác luận đề của chúng tôi. Bởi vì, cả Tưởng Giới Thạch lẫn những người Trung Hoa khác, qua nhiều thế hệ, đều coi Tây Tạng là một phần của “Đại Lục”; và trong trường hợp này, Trung Quốc hành động theo đúng cách thức của một quốc gia–dân tộc bảo thủ, tương tự như như Liên Xô.
[20] Muốn tìm hiểu phê phán đối những nỗ lực gần đây của các chiến binh thời Chiến tranh Lạnh nhằm khơi dậy lại cái “bóng ma” về đe dọa quân sự từ Liên Xô, mời đọc Barnet, The Present Danger
[21] The Woman’s Home Companion (September 1936): 4. In lại trong Mauritz A. Hallgren, The Tragic Fallacy (New York: Knopf, 1937), p. 194n.
[22] Những chi tiết trong hồ sơ đáng hổ thẹn của phương Tây trong những cuộc đàm phán này, và như là hiệu chỉnh đối với cách tường thuật của báo chí Hoa Kỳ, xin mời đọc Philip Noel-Baker, The Arms Race (New York: Oceana Publications, 1958).
[23] Ronald Hamowy and William F. Buckley, Jr. “National Review: Criticism and Reply,” New Individualist Review (November 1961): 9,11.
Nguyên tác: For a New Liberty, Murray N. Rothbard
Bản dịch: Phạm Nguyên Trường dịch
