Vì một nền tự do mới - Chương 1: Di sản của chủ nghĩa tự do cá nhân (Phần 1)
Trong Ngày Bầu cử năm 1976, liên danh tranh cử tổng thống của Đảng Tự do Cá nhân (Libertarian party) gồm Roger L. MacBride (Tổng thống) và David P. Bergland (Phó tổng thống) đã giành được 174.000 phiếu bầu tại 32 bang trên khắp cả nước. Tạp chí Congressional Quarterly đã phân loại đảng non trẻ này là chính đảng lớn thứ ba ở Mỹ. Tốc độ tăng trưởng đáng kinh ngạc ấy có thể thấy ở chỗ: chỉ mới bắt đầu vào năm 1971 với vài thành viên tụ họp trong một phòng khách ở Colorado. Năm sau, đảng này đã đưa ra ứng cử viên tổng thống và có tên trong lá phiếu tại hai bang. Và giờ đây, nó đã trở thành chính đảng lớn thứ ba của nước Mỹ.
Đáng chú ý hơn, Đảng Tự Do Cá Nhân đạt được tốc độ tăng trưởng này trong khi vẫn kiên định theo đuổi một tín điều tư tưởng mới — “chủ nghĩa tự do cá nhân” — lần đầu tiên sau một thế kỷ đưa vào chính trường Mỹ một đảng quan tâm đến nguyên tắc thay vì chỉ mưu cầu chức vụ và tiền bạc từ công quỹ. Các chuyên gia và giới khoa học chính trị đã nhiều lần khẳng định rằng cái gọi là thiên tài của nước Mỹ và hệ thống đảng phái của chúng ta nằm ở sự thiếu vắng ý thức hệ và “chủ nghĩa thực dụng” (một cách nói nhẹ nhàng cho việc tập trung vào việc vơ vét tiền bạc và chức vụ từ những người đóng thuế khốn khổ). Vậy thì, làm sao có thể lý giải được sự phát triển phi thường của một đảng mới, một đảng công khai và hăng hái dấn thân cho một ý thức hệ?
Một trong những cách lý giải là: người Mỹ không phải lúc nào cũng thực dụng và phi ý thức hệ. Ngược lại, các sử gia ngày nay đã nhận ra rằng chính cuộc Cách mạng Mỹ không chỉ mang tính ý thức hệ, mà còn là kết quả của lòng tận tụy đối với tín điều và các thiết chế của chủ nghĩa Tự do Cá nhân. Các nhà cách mạng Mỹ đã thấm nhuần tín điều ấy – một hệ tư tưởng đã thôi thúc họ dốc cả sinh mạng, tài sản và danh dự thiêng liêng để chống lại những sự xâm phạm các quyền và quyền tự do của họ do chính quyền thực dân Anh tiến hành. Các sử gia từ lâu đã tranh luận về nguyên nhân đích thực của Cách mạng Mỹ: đó là vấn đề hiến pháp, kinh tế, chính trị, hay ý thức hệ? Ngày nay, chúng ta nhận thấy rằng, với tư cách là những người theo chủ nghĩa Tự do Cá nhân, các nhà cách mạng Mỹ không hề thấy mâu thuẫn nào giữa quyền đạo đức và chính trị, ở một bên, với tự do kinh tế, ở bên kia. Trái lại, họ coi tự do dân sự và đạo đức, độc lập chính trị, cùng với quyền tự do thương mại và sản xuất, tất cả đều thuộc về một hệ thống thuần khiết duy nhất – hệ thống mà Adam Smith, cũng ngay trong năm Tuyên ngôn Độc lập ra đời, đã gọi là “hệ thống tự do tự nhiên hiển nhiên và đơn giản.”
Tín điều của chủ nghĩa tự do cá nhân bắt nguồn từ các phong trào “tự do cổ điển” ở phương Tây trong các thế kỷ XVII và XVIII, cụ thể là từ cuộc Cách mạng Anh thế kỷ XVII. Phong trào tự do cá nhân cấp tiến này, dù chỉ thành công một phần ngay tại quê hương của nó là Vương quốc Anh, vẫn đủ sức khai mở cuộc Cách mạng Công nghiệp, qua đó giải phóng công nghiệp và sản xuất khỏi những ràng buộc ngột ngạt của guồng máy kiểm soát của Nhà nước và các phường hội đô thị do chính quyền hậu thuẫn. Bởi vì, trên khắp phương Tây, phong trào tự do cổ điển chính là một “cuộc cách mạng” tự do hùng mạnh chống lại cái mà ta có thể gọi là Trật tự Cũ—chế độ cũ đã thống trị thần dân suốt nhiều thế kỷ. Trong giai đoạn đầu của thời cận đại, khởi từ thế kỷ XVI, chế độ này đã dựng lên một Nhà nước trung ương chuyên chế và một vị vua trị vì nhân danh quyền Thiên tử, chồng chất lên mạng lưới độc quyền đất đai phong kiến xưa cũ cùng những biện pháp kiểm soát và hạn chế của phường hội đô thị. Hệ quả là một châu Âu trì trệ, bị trói buộc trong mạng lưới dày đặc của các biện pháp kiểm soát, thuế khóa, và đặc quyền độc quyền sản xuất cũng như thương mại, do chính quyền trung ương (lẫn địa phương) ban phát cho những nhà sản xuất được họ ưu ái. Liên minh giữa Nhà nước trung ương quan liêu, hiếu chiến với giới thương nhân đặc quyền—về sau được các sử gia gọi là “chủ nghĩa trọng thương” (mercantilism)—và tầng lớp địa chủ phong kiến thống trị, chính là Trật tự Cũ mà phong trào tự do cổ điển và những người cấp tiến đã vùng lên chống lại trong các thế kỷ XVII và XVIII.
Mục tiêu của những người theo chủ nghĩa tự do cổ điển là mang lại tự do cá nhân trong mọi khía cạnh liên quan của nó. Trong lĩnh vực kinh tế, thuế sẽ được cắt giảm mạnh mẽ, các biện pháp kiểm soát và quy định sẽ bị loại bỏ, để năng lượng con người, tinh thần nghiệp chủ và thị trường được giải phóng, sáng tạo và sản xuất ra những hàng hóa trao đổi đem lại lợi ích cho tất cả mọi người, đặc biệt là đại đa số người tiêu dùng. Các doanh nhân, rốt cuộc cũng được tự do để cạnh tranh, phát triển và sáng tạo. Xiềng xích của sự kiểm soát đất đai, lao động và vốn sẽ được gỡ bỏ. Tự do cá nhân và quyền tự do dân sự sẽ được bảo đảm, chống lại sự cướp bóc và bạo ngược của nhà vua cùng tay sai của ông ta. Tôn giáo—nguồn gốc của những cuộc chiến tranh đẫm máu kéo dài nhiều thế kỷ, khi các giáo phái tranh giành quyền kiểm soát Nhà nước—sẽ được giải phóng khỏi sự áp đặt và can thiệp của Nhà nước, để mọi tôn giáo, hoặc thậm chí phi tôn giáo, có thể cùng chung sống trong hòa bình. Hòa bình cũng là nền tảng của chính sách đối ngoại mà những người theo chủ nghĩa tự do cổ điển mới khởi xướng; chế độ đế quốc và nhà nước xưa cũ, vốn nhằm bành trướng quyền lực và vinh hoa, sẽ được thay thế bằng chính sách đối ngoại hòa bình và tự do thương mại với tất cả các quốc gia. Và, bởi chiến tranh được xem là sản phẩm của quân đội và hải quân thường trực—của sức mạnh quân sự luôn khao khát bành trướng—nên các thiết chế quân sự này sẽ được thay thế bằng lực lượng dân quân tình nguyện tại địa phương: những công dân bình thường chỉ muốn chiến đấu để bảo vệ chính ngôi nhà và khu xóm của mình.
Do đó, chủ đề nổi tiếng về “tách Nhà thờ khỏi Nhà nước” chỉ là một trong nhiều chủ đề liên hệ với nhau, có thể được khái quát thành: “tách kinh tế ra khỏi Nhà nước”, “tách ngôn luận và báo chí khỏi Nhà nước”, “tách đất đai ra khỏi Nhà nước”, “tách chiến tranh và các vấn đề quân sự ra khỏi Nhà nước” — thực chất là tách Nhà nước ra khỏi hầu hết mọi lĩnh vực.
Tóm lại, Nhà nước phải được thu gọn ở mức cực kỳ nhỏ, với ngân sách hết sức thấp, gần như không đáng kể. Những người theo chủ nghĩa tự do cổ điển chưa bao giờ xây dựng một lý thuyết hoàn chỉnh về thuế khóa, nhưng họ kịch liệt phản đối mọi sự gia tăng thuế cũng như mọi loại thuế mới — ở Mỹ, đã có hai lần việc áp thuế trở thành tia lửa châm ngòi, hoặc suýt châm ngòi, cho Cách mạng (thuế tem[1], thuế trà[2]).
Những lý thuyết gia tiên phong của chủ nghĩa tự do cá nhân cổ điển là các Levelers (người “Bình quân” hay “Cào bằng”) trong Cách mạng Anh, và triết gia John Locke vào cuối thế kỷ XVII; tiếp đó là phong trào “True Whig” — phe đối lập theo khuynh hướng tự do cá nhân cấp tiến chống lại “Whig Settlement”, chế độ chính trị ở Anh thế kỷ XVIII. John Locke đã xác lập các quyền tự nhiên của mỗi cá nhân đối với thân thể và tài sản của mình; và mục đích của chính phủ được giới hạn nghiêm ngặt trong việc bảo vệ những quyền này. Như Tuyên ngôn Độc lập (Mỹ) — vốn lấy cảm hứng từ Locke — viết: “Để bảo đảm những quyền này, Chính phủ được lập nên trong nhân loại, nhận được quyền lực chính đáng từ sự đồng thuận của người dân. Và bất cứ khi nào bất kỳ hình thức Chính phủ nào trở nên phá hoại những mục đích đó, thì Nhân dân có Quyền thay đổi hoặc bãi bỏ nó.”
Trong khi Locke được nhiều người ở các thuộc địa Mỹ tìm đọc, thì triết lý trừu tượng của ông khó có thể kêu gọi con người đứng lên cách mạng. Nhiệm vụ này đã được những người theo tư tưởng cấp tiến của Locke trong thế kỷ XVIII đảm nhận; họ viết với văn phong gần gũi, đanh thép và nhiệt huyết hơn, đồng thời áp dụng triết lý nền tảng ấy vào những vấn đề cụ thể của chính quyền—đặc biệt là chính quyền Anh—thời bấy giờ. Tác phẩm quan trọng nhất theo hướng này là “Những bức thư của Cato” (Cato’s Letters)—một loạt bài báo do hai True Whig (Whig chân chính - những người xuất phát từ đảng Whig – đối lập với đảng Tory – nhưng cho rằng đảng Whig cầm quyền đã thoái hóa, thỏa hiệp với quyền lực vương triều và đi ngược lại tinh thần tự do ban đầu – ND) là John Trenchard và Thomas Gordon xuất bản tại London vào đầu những năm 1720. Nếu Locke từng viết rằng áp lực cách mạng có thể chính đáng khi chính phủ trở thành lực lượng phá hủy tự do, thì Trenchard và Gordon chỉ ra rằng chính phủ luôn luôn có khuynh hướng phá hủy những quyền cá nhân. Theo “Cato’s Letters”, lịch sử nhân loại là biên niên sử về cuộc xung đột không thể dập tắt giữa Quyền lực và Tự do; trong đó, Quyền lực (tức chính phủ) luôn chực chờ mở rộng phạm vi bằng cách xâm phạm quyền lợi và chèn ép tự do của con người. Vì vậy, Cato khẳng định: Quyền lực phải được giữ trong khuôn khổ nhỏ hẹp, và phải luôn bị đặt dưới sự cảnh giác và đối kháng thường trực của nhân dân, để chắc chắn rằng nó không bao giờ vượt khỏi giới hạn của mình.
Chúng ta biết, qua vô số ví dụ và kinh nghiệm, rằng những kẻ nắm giữ quyền lực, thay vì buông bỏ nó, sẽ làm bất cứ điều gì để duy trì nó — ngay cả những điều tồi tệ và đen tối nhất — và hiếm khi có ai trên đời này tự nguyện từ bỏ quyền lực, miễn là họ còn có thể thao túng mọi việc theo ý mình…
Dường như chắc chắn rằng lợi ích của thế giới, hay của nhân dân, chưa bao giờ là động cơ thúc đẩy họ để tiếp tục nắm giữ quyền lực, cũng như để từ bỏ nó. Bản chất của quyền lực là luôn luôn xâm lấn, và biến mọi thứ quyền lực đặc biệt — vốn chỉ được trao trong những thời điểm hay hoàn cảnh đặc thù — thành quyền lực thông thường, để sử dụng bất cứ khi nào, ngay cả khi chẳng còn lý do gì. Nó cũng không bao giờ tự nguyện từ bỏ bất kỳ lợi thế nào…
Than ôi! Mỗi ngày quyền lực đều lấn át tự do, với kết quả quá hiển nhiên; và sự cân bằng giữa chúng gần như đã mất hẳn. Chế độ chuyên chế đã nuốt chửng gần như toàn bộ trái đất này, tấn công nhân loại từ gốc đến ngọn, biến thế giới thành một lò sát sinh; và chắc chắn nó sẽ tiếp tục hủy diệt, cho đến khi hoặc chính nó bị hủy diệt, hoặc — có nhiều khả năng hơn — là nó chẳng còn gì để hủy diệt nữa[3].
Những lời cảnh báo như thế đã được các những người thực dân Mỹ hăng hái tiếp thu; họ đã nhiều lần tái bản “Những bức thư của Cato” trên khắp các thuộc địa, kéo dài cho đến tận thời kỳ Cách mạng. Chính thái độ ăn sâu bén rễ ấy đã dẫn đến điều mà nhà sử học Bernard Bailyn khéo léo gọi là “chủ nghĩa tự do cấp tiến mang tính chuyển hóa” của Cách mạng Mỹ.
Bởi vì Cách mạng không chỉ là nỗ lực thành công đầu tiên trong thời hiện đại nhằm lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc phương Tây—lúc ấy là cường quốc hùng mạnh nhất thế giới. Quan trọng hơn, lần đầu tiên trong lịch sử, người Mỹ đã tự giới hạn chính phủ mới của mình bằng nhiều ràng buộc và hạn chế, được ghi rõ trong hiến pháp, và đặc biệt là trong các bản Tuyên ngôn Nhân quyền. Trong tất cả các bang mới thành lập, Giáo hội được tách bạch nghiêm ngặt khỏi Nhà nước, và quyền tự do tôn giáo được ghi vào hiến pháp. Những tàn dư của chế độ phong kiến bị xóa bỏ trên khắp các bang thông qua việc bãi bỏ các đặc quyền phong kiến về entail (thừa kế bất động sản bắt buộc) và primogeniture (quyền thừa kế của con trưởng). (Trong entail, một tổ tiên đã mất có thể buộc bất động sản thuộc về gia tộc mình vĩnh viễn, ngăn cản những người thừa kế bán bất kỳ phần đất nào; còn trong primogeniture, luật định rằng con trai trưởng là người thừa kế duy nhất toàn bộ tài sản.)
Chính phủ liên bang mới được thành lập theo Các Điều khoản Hợp bang (Articles of Confederation) không được phép áp đặt bất kỳ loại thuế nào lên công chúng; và mọi sự mở rộng căn bản về quyền lực của chính phủ đều phải có sự đồng thuận tuyệt đối của tất cả các chính quyền các bang. Trên hết, sức mạnh quân sự và quyền gây chiến của chính phủ quốc gia bị bao vây bởi sự kiềm chế và ngờ vực; bởi những nhà tư tưởng tự do thế kỷ XVIII đã hiểu rằng chiến tranh, quân đội thường trực và chủ nghĩa quân phiệt từ lâu đã là công cụ chủ yếu để Nhà nước bành trướng quyền lực của mình[4].
Bernard Bailyn đã tóm lược thành tựu của những người cách mạng Mỹ như sau:
Sự hiện đại hóa chính trị và chính phủ Mỹ trong và sau Cách mạng diễn ra như một sự thức tỉnh đột ngột và triệt để của chương trình mà giới trí thức đối lập đã lần đầu tiên đề xuất đầy đủ dưới triều đại George Đệ Nhất. Trong khi phe đối lập ở Anh, chống chọi với trật tự xã hội và chính trị tự mãn, chỉ có thể phấn đấu và mơ tưởng, thì người Mỹ — cũng được thúc đẩy bởi những khát vọng tương tự, nhưng sống trong xã hội hiện đại hơn về nhiều mặt, và nay đã được giải phóng về chính trị — có thể lập tức hành động. Trong khi phe đối lập Anh chỉ uổng công kêu gọi những cải cách cục bộ, thì các nhà lãnh đạo Mỹ lại tiến hành nhanh chóng và với rất ít xáo trộn xã hội, nhằm thực thi một cách có hệ thống những khả năng tận cùng nhất của toàn bộ tư tưởng giải phóng triệt để.
Trong tiến trình ấy, họ đã thổi vào văn hóa chính trị Mỹ những chủ đề cốt lõi của chủ nghĩa tự do cá nhân cấp tiến thế kỷ XVIII, được hiện thực hóa ngay tại đây. Trước hết là niềm tin rằng quyền lực vốn là điều xấu xa — có thể là cần thiết, nhưng vẫn là một tất yếu đầy hiểm họa; rằng nó làm con người tha hóa đến tận cùng; và rằng nó phải bị kiểm soát, bị giới hạn, bị trói buộc bằng mọi phương thức có thể, miễn sao vẫn duy trì được một mức tối thiểu của trật tự dân sự. Hiến pháp thành văn; phân chia quyền lực; các bản tuyên ngôn nhân quyền; những ràng buộc đối với hành pháp, lập pháp và tư pháp; những hạn chế đối với quyền cưỡng bức và gây chiến — tất cả đều biểu lộ sự ngờ vực sâu sắc đối với quyền lực, vốn nằm ở trung tâm tư tưởng của Cách mạng Mỹ, và đã ở lại với chúng ta như một di sản vĩnh cửu từ đó về sau[5].
Như vậy là, mặc dù tư tưởng tự do cổ điển khởi nguồn ở nước Anh, nhưng chính ở Mỹ nó mới đạt đến sự phát triển nhất quán và triệt để nhất — và trở thành hiện thân sống động nhất. Vì, các thuộc địa Mỹ không bị chi phối bởi chế độ độc quyền đất đai phong kiến hay tầng lớp quý tộc thống trị đã ăn sâu bén rễ ở châu Âu; ở Mỹ, những người cai trị chỉ là quan chức thuộc địa Anh và một nhóm nhỏ thương nhân đặc quyền, những kẻ dễ dàng bị gạt sang một bên khi Cách mạng bùng nổ và chính quyền Anh bị lật đổ. Do đó, chủ nghĩa tự do cổ điển ở Mỹ được nhiều người ủng hộ, và vấp phải ít sự kháng cự mang tính thiết chế cố hữu hơn so với ở chính quốc. Hơn nữa, nhờ vị trí địa lý tách biệt, những người nổi dậy ở Mỹ không phải lo lắng về các đội quân xâm lược từ các chính phủ phản cách mạng lân cận — như đã từng xảy ra ở Pháp.
[1] Là một khoản phí hoặc thuế đánh vào các tài liệu, giấy tờ cần thiết để hợp pháp hóa một giao dịch. Trong lịch sử, loại thuế này được gọi là "thuế tem" (stamp tax/stamp duty) vì một con dấu vật lý (tem) được đóng lên tài liệu để làm bằng chứng rằng tài liệu đã được ghi nhận và nghĩa vụ thuế đã được thanh toán – ND.
[2] Thuế Trà (The Tea Act) nổi tiếng nhất là luật được Quốc hội Anh thông qua vào năm 1773 nhằm cứu công ty Đông Ấn của Anh khỏi phá sản bằng cách cho phép họ bán trà trực tiếp cho các thuộc địa ở Bắc Mỹ với mức giá rất thấp, thấp hơn cả giá trà lậu. Tuy nhiên, đạo luật này vẫn duy trì một khoản thuế nhỏ (dù thấp) đối với trà, khiến những người dân thuộc địa tức giận, vì Họ xem đây là một nỗ lực của Anh nhằm thiết lập độc quyền và làm tổn hại các thương gia địa phương. Quan trọng nhất, họ phản đối thuế vì nó được áp đặt mà không có sự đại diện của họ trong Nghị viện Anh ("No taxation without representation" - Không có đại diện thì không có thuế) - ND.
[3] Mời đọc Murray N. Rothbard, Conceived in Liberty, vol. 2, “Salutary Neglect”: The American Colonies in the First Half of the 18th Century (New Rochelle, N.Y.: Arlington House, 1975), p. 194. Xem thêm John Trenchard and Thomas Gordon, Cato’s Letters, in D.L. Jacobson, ed. The English Libertarian Heritage (Indianapolis: Bobbs-Merrill, 1965).
[4] Về ảnh hường của những người theo phái tự do cá nhân cấp tiến của cuộc Cách mạng ở Mỹ, mời đọc Robert A. Nisbet, The Social Impact of the Revolution (Washington, D.C.: American Enterprise Institute for Public Policy Research, 1974). Về ảnh hưởng đối với châu Âu, mời công trình quan trọng của Robert R. Palmer, The Age of the Democratic Revolution (Princeton, N.J.: Princeton University Press, 1959), vol. 1.
[5] Bernard Bailyn, “Những chủ đề trung tâm của Cách mạngMỹ: Một diễn giải,” trong S. Kurtz và J. Hutson, eds., Essays on the American Revolution (Chapel Hill: University of North Carolina Press, 1973), pp. 26–27.
Nguyên tác: For a New Liberty, Murray N. Rothbard
Bản dịch: Phạm Nguyên Trường dịch
