Chính thể đại diện -Chương 1: Có thể chọn lựa hình thức chính thể ở chừng mực nào?

Chính thể đại diện -Chương 1: Có thể chọn lựa hình thức chính thể ở chừng mực nào?

Mọi xem xét về các hình thức chính thể rốt cuộc đều ít nhiều mang dấu ấn của hai lý thuyết xung đột nhau về các thiết chế chính trị; hay nói đúng hơn là của các quan niệm xung đột nhau về câu hỏi: các thiết chế chính trị là gì.

Một số người quan niệm chính thể hoàn toàn là một nghệ thuật thực tiễn không đặt ra vấn đề nào khác hơn là vấn đề phương tiện và mục đích. Các hình thức chính thể được coi là tương tự như bất cứ thủ đoạn nào khác nhằm đạt được các mục đích của loài người. Các hình thức ấy được xem hoàn toàn là công việc của sáng tạo và kỹ xảo. Là sản phẩm do con người tạo nên, quan niệm ấy giả định rằng con người có thể lựa chọn tạo nên hay không tạo nên chúng, và tạo nên chúng bằng cách nào và theo kiểu gì. Theo quan niệm này thì chính thể cũng được đối xử giống như bất kỳ vấn đề kinh doanh nào khác. Bước thứ nhất là xác định các mục đích mà các chính thể cần phải xúc tiến. Bước tiếp theo là thẩm định xem hình thức chính thể nào là tốt nhất cho việc thực hiện các mục đích ấy. Sau khi hai điểm trên đã được đáp ứng và sau khi nắm vững hình thức chính thể kết hợp được nhiều ưu điểm nhất cũng như có ít khiếm khuyết nhất; công việc còn lại của ta chỉ là đạt được sự đồng thuận của dân chúng, hay là của những người mà các thiết chế dự tính sẽ tác động tới theo ý kiến riêng của ta. Tìm ra hình thức chính thể tốt nhất, thuyết phục những người khác rằng hình thức ấy là tốt nhất; sau khi làm như vậy rồi thì sách động họ đòi hỏi có hình thức chính thể ấy, đó chính là trình tự ý tưởng trong tâm trí những người tán thành quan điểm triết lý chính trị này. Họ coi hiến pháp với cùng một quan niệm (có khác biệt về tầm cỡ) như là cái máy cày hay máy đập lúa.

Đối lập với những người trên là một loại các nhà lý luận chính trị kiểu khác; những người này hoàn toàn không đồng hóa một hình thức chính thể với một cỗ máy mà coi nó như một loại sản phẩm tự nhiên, xem khoa học về chính thể giống như một nhánh, nếu có thể nói như thế, của môn lịch sử tự nhiên. Theo những người này thì các hình thức chính thể không phải là thứ để chọn lựa. Chúng ta tìm thấy chúng thế nào thì phải chấp nhận chúng về cơ bản giống như thế. Các chính thể không thể được tạo dựng nên theo đồ án có chủ đích từ trước. Chúng “không phải được tạo thành mà tự mọc lên”. [cách nói của Sir James Mackintosh, trong Logic học 1, tr. 154. N.D] Công việc của chúng ta đối với chúng, cũng giống như đối với các thực tế khác của vũ trụ, là làm cho bản thân chúng ta quen thuộc được với các đặc tính tự nhiên của chúng và thích ứng bản thân chúng ta với chúng. Học phái này xem các thiết chế chính trị cơ bản của một dân tộc giống như một loại sinh vật hữu cơ sinh trưởng lên từ bản tính tự nhiên và đời sống của dân tộc ấy: một sản phẩm của các tập quán của họ, một sản phẩm của các bản năng và các ham muốn khát vọng vô thức, chắc chắn không dính dáng gì đến những mục đích có suy nghĩ của họ. Ý chí của họ không có phần tham dự nào ngoài việc đáp ứng những tất yếu của thời điểm bằng các kỹ xảo của thời điểm, các kỹ xảo này nếu đủ thích ứng với các cảm xúc và tính cách của dân tộc thì nói chung sẽ là trường tồn; và bằng cách tích tụ thành công, các kỹ xảo ấy sẽ cấu thành một tổ chức nhà nước thích hợp với dân tộc có tổ chức ấy, nhưng nếu mưu toan áp đặt nó cho bất cứ dân tộc nào khác, có bản tính và những hoàn cảnh không làm nó phát triển tự phát được, thì sẽ phải thất bại.

Thật khó mà quyết định được cái nào trong các học thuyết ấy là phi lý hơn nếu giả sử như ta có thể kiến nghị chọn một trong số chúng làm lý thuyết độc nhất. Thế nhưng đối với bất cứ chủ đề gây tranh cãi nào thì các nguyên lý mà người ta rao giảng thường khi lại là sự diễn giải không đầy đủ nhất các quan điểm thực sự của họ. Chẳng có một ai lại tin rằng bất cứ dân tộc nào cũng có thể vận dụng bất kỳ loại thiết chế nào. Ta có thể đưa ra sự tương đồng ở mức độ nhất định với các kỹ xảo cơ giới, nhưng con người không chọn lựa ngay cả dụng cụ bằng gỗ hay bằng sắt chỉ đơn thuần vì bản thân nó là tốt nhất. Anh ta sẽ cân nhắc xem liệu anh ta có thứ nào khác kết hợp với nó để sử dụng được thuận lợi, và nhất là xem liệu những người sẽ phải vận hành nó có đủ kiến thức và sự khéo léo cần thiết để điều khiển nó hay không. Mặt khác, những người nói về các thiết chế như các cơ thể sống cũng không phải thực sự là những người theo thuyết định mệnh chính trị như họ tự phô bày. Họ không có ý cho rằng loài người tuyệt đối không có phạm vi chọn lựa nào đối với chính thể mà họ muốn chung sống, hay cho rằng việc xem xét các hậu quả gây ra bởi các hình thức chính thể khác nhau lại hoàn toàn không là một yếu tố quyết định xem hình thức nào phải được ưu tiên. Mặc dù mỗi phía thổi phồng lý thuyết của họ lên để đối lập lại với phía khác và cũng không có phía nào giữ nguyên lập trường của mình mà không có các biến cải theo phía kia, thế nhưng hai học thuyết này tương ứng với sự khác biệt sâu xa của hai kiểu cách tư duy; và dù cho hiển nhiên là chẳng có phía nào trong cả hai là hoàn toàn đúng, cũng như hiển nhiên chẳng có phía nào là hoàn toàn sai, chúng ta nhất thiết phải cố gắng làm sáng tỏ gốc rễ của mỗi kiểu cách tư duy ấy và hiểu được thực chất ý nghĩa của chân lý trong đó.

Chúng ta hãy lưu ý rằng, trước hết các thiết chế chính trị (dù cho đề xuất này nhiều khi bị bỏ qua) là sản phẩm của con người, có nguồn gốc và toàn thể sự tồn tại nhờ cậy vào ý chí con người. Không phải người ta thức giấc vào một buổi sáng đẹp trời và thấy chúng đột nhiên hình thành. Chúng cũng chẳng giống cái cây một khi trồng xuống thì “cứ thế lớn lên mãi” trong lúc mọi người “đang ngủ thiếp”. Trong mỗi giai đoạn tồn tại của chúng, chúng được tạo nên như vậy là bởi tác động của ý nguyện con người. Cho nên chúng có thể được tạo ra hoặc tốt hoặc xấu, cũng giống như mọi thứ khác mà con người làm ra. Đã có sự suy xét và khéo léo, hoặc là những thứ ngược lại, trong quá trình tạo dựng ra chúng. Nếu như dân chúng đã thiếu suy xét và thiếu khéo léo, hay do áp lực từ bên ngoài mà đã không có khả năng có được các phẩm chất ấy, để rồi thiết lập chính thể theo một quá trình mò mẫm điều chỉnh, phải sửa lại từng cái tai hại mỗi khi nó nảy sinh ra hoặc mỗi khi những người bị hại tập hợp được sức mạnh để phản kháng lại nó, thì sự tiến bộ chính trị muộn màng ấy quả là một mối bất lợi rất lớn cho họ. Tuy nhiên, điều đó không chứng minh rằng những gì đã tỏ ra là tốt cho một dân tộc khác lại cũng không thể là tốt cho dân tộc này hay không thể cũng sẽ là tốt cho họ khi họ thấy nên tiếp thu nó.

Mặt khác, ai cũng hiểu là bộ máy chính trị không tự thân nó hành động. Vì nó được tạo ra, nên nó phải vận hành bởi con người và thậm chí bởi những người bình thường. Nó không chỉ cần đến sự thuận tình đơn giản của họ, mà cả sự tham gia tích cực của họ nữa; và nó phải được hiệu chỉnh trong phạm vi có thể cho hợp với khả năng và phẩm chất của họ. Ở đây hàm ý có ba điều kiện tiên quyết. Dân chúng, mà hình thức chính thể dự tính thiết lập cho họ, phải thuận nguyện chấp nhận nó, hay ít nhất cũng không bất mãn đến mức tạo nên chướng ngại không vượt qua được trong việc thiết lập nó. Họ phải thuận nguyện và có khả năng làm những gì cần thiết để giữ cho chính thể đó đứng vững. Họ phải thuận nguyện và có khả năng làm những gì được đòi hỏi ở họ để cho chính thể đó có thể hoàn thành được các mục đích của nó.

Từ ngữ “làm” ở đây được hiểu bao gồm cả sự hành động lẫn nhẫn nhịn không hành động. Họ phải có khả năng đáp ứng các điều kiện cho hành động và các điều kiện cho sự tự kiềm chế, tức những cái cần thiết cho việc giữ chính thể tồn tại lẫn cho việc giúp nó đạt được các mục đích, hiệu quả lợi ích vốn được gửi gắm vào chính thể ấy.

Sự thiếu vắng bất cứ điều kiện nào cũng làm cho một hình thức chính thể, dù có hứa hẹn tốt đẹp bao nhiêu cho trường hợp khác, trở thành không thích hợp cho trường hợp riêng biệt.

Trở ngại thứ nhất, mối ác cảm của dân chúng với một hình thức đặc thù của chính thể, không cần phải minh họa nhiều bởi vì nó luôn được chú ý trong lý thuyết. Đây là trường hợp luôn thường gặp. Chính là lực lượng ngoại bang chứ không phải cái gì khác đã khiến cho một bộ tộc da đỏ ở Bắc Mỹ phải cam chịu các kiềm chế của chính thể văn minh chính quy. Cũng có thể nói như vậy, dù không thật tuyệt đối cho lắm, về những người dã man đã tràn ngập Đế chế La Mã. Cần thời gian hàng nhiều thế kỷ và sự thay đổi hoàn toàn các hoàn cảnh để có thể huấn luyện cho họ sự tuân phục thường lệ ngay cả với các thủ lĩnh của chính họ, khi họ không còn phục vụ thực sự dưới ngọn cờ của các thủ lĩnh ấy nữa. Có những dân tộc không tự nguyện phục tùng bất cứ chính thể nào ngoại trừ chính quyền của một số dòng họ nhất định từ thời xa xưa nào đó đã có đặc quyền cung cấp thủ lĩnh cho họ. Có một số dân tộc không sao chịu đựng được nền quân chủ trừ khi họ bị ngoại bang chinh phục; có số khác lại chống lại chính thể cộng hòa ở mức độ tương tự. Sự cản trở thường mạnh đến mức làm cho hình thức chính thể tạm thời trở thành không khả thi.

Tuy nhiên cũng có các trường hợp trong đó một dân tộc mặc dù không chống lại một hình thức chính thể – thậm chí có khi còn mong muốn nó – nhưng lại có thể không thuận nguyện hay không có khả năng đáp ứng các điều kiện của nó. Họ có thể không có khả năng cần thiết để duy trì chính thể ngay cả cho một sự tồn tại danh nghĩa. Vì vậy, một dân tộc có thể ưu ái một chính thể tự do, nhưng nếu do lười biếng hay thiếu suy nghĩ, do hèn nhát hay thiếu vắng tính cộng đồng, họ sẽ không đủ sức thực thi các nỗ lực duy trì chính thể đó; nếu họ không quyết tâm tranh đấu cho chính thể ấy khi nó bị tấn công; nếu họ có thể bị đánh lừa bởi những mưu mẹo gian xảo được sử dụng để gạt gẫm họ đi lạc ra khỏi chính thể ấy; nếu họ vì thiếu can đảm trong chốc lát, hay vì nhất thời hoảng loạn, hay vì cơn nhiệt thành đối với một cá nhân mà đặt các quyền tự do của mình dưới chân một người dù là vĩ nhân đi nữa, hoặc tin cậy giao phó quyền lực cho người đó khiến người đó phá vỡ các thiết chế của họ; trong mọi trường hợp như thế họ ít nhiều đều không đủ tư cách đối với quyền tự do: dù ngay như có thể may mắn có tự do trong thời gian ngắn thì họ cũng khó lòng thụ hưởng nó được lâu dài. Mặt khác, một dân tộc có thể không thuận nguyện hay không có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ mà một hình thức chính thể nhất định đòi hỏi ở họ. Một dân chúng man khai, dù ở mức độ nào đó hiểu rõ lợi ích của một xã hội văn minh, có thể không có khả năng thực hành sự kiềm chế mà xã hội văn minh đòi hỏi: các đam mê của họ có thể quá hung bạo, hay tính kiêu hãnh cá nhân có mức quá khích khiến cho họ không chấm dứt được các xung đột riêng tư để cho pháp luật thực thi công lý đối với những bất ổn có thực hay giả định của họ. Trong trường hợp đó, một chính thể văn minh thực sự có lợi cho họ, sẽ buộc phải có tính chuyên chế ở mức độ đáng kể: phải là một chính thể mà họ không tự mình thi hành việc kiểm soát nó, và chính thể ấy áp đặt phần lớn sự kiềm chế cưỡng bức đối với các hành động của họ.

Hơn nữa, một dân tộc phải bị xem là không đủ tư cách cho cái cao hơn là một nền tự do hạn hẹp, khi họ không hợp tác tích cực với luật pháp và các nhà chức trách để trấn áp những kẻ thủ ác. Một dân tộc sẵn sàng bao che hơn là bắt giữ kẻ tội phạm, một dân tộc mà giống như người Hindu, thà khai man để che giấu kẻ vào ăn trộm nhà họ hơn là chịu mất công hay lộ mình ra trừng phạt kẻ trộm đó bằng việc làm chứng chống lại nó; một dân tộc mà giống như vài dân tộc châu Âu cho tới thời gian gần đây vẫn còn như thế, nếu thấy ai đâm chém người khác trên đường phố thì đi tránh sang phía bên kia đường vì cho rằng việc ngăn chặn chuyện ấy là của cảnh sát và cho rằng sẽ an toàn hơn nếu không can thiệp vào chuyện không dính dáng đến mình; một dân tộc nổi loạn vì một vụ hành quyết nhưng lại không hề bị chấn động vì một vụ ám sát – dân chúng như thế đòi hỏi nhà chức trách phải được trang bị quyền lực trấn áp nghiêm khắc hơn những nơi khác, bởi vì những thứ thiết yếu hàng đầu cho cuộc sống văn minh không có chỗ nào để dựa vào. Các tình trạng đáng trách ấy của cảm xúc trong bất cứ dân tộc nào đi lên từ đời sống dã man, thường phải là hậu quả của chính thể tồi tệ trước đó, cái chính thể đã dạy cho họ xem luật pháp được tạo ra vì các mục đích khác chứ không vì sự tốt đẹp cho họ, xem các nhà cầm quyền là kẻ thù tồi tệ hơn những kẻ công khai vi phạm luật pháp. Những người đã chịu để cho các tập quán tâm tính ấy phát triển trong họ, dù cho có ít đáng trách đến đâu đi nữa và dù cho các tập quán ấy kết cuộc cũng sẽ bị chinh phục bởi chính thể tốt hơn, nhưng tạm thời khi các tập quán ấy còn tồn tại thì dân chúng có thân phận như thế không thể được cai trị với quyền lực áp đặt lên họ thật ít, giống như đối với một dân chúng yêu chuộng luật pháp và trợ giúp tích cực cho việc thực thi luật pháp. Vả lại, các thiết chế mang tính đại diện chẳng có mấy giá trị và có thể trở thành công cụ thuần túy của bạo chúa hay các trò âm mưu hậu trường, một khi đa số các cử tri không quan tâm thích đáng đến chính quyền của bản thân mình để đi bầu cử, hay nếu có đi bầu thì lại không đặt lá phiếu của mình trên cơ sở công ích mà bán nó lấy tiền, hoặc theo sự điều khiển của kẻ kiểm soát họ, hoặc bầu cho người vì lý do riêng để lấy lòng kẻ đó. Phổ thông đầu phiếu được thực hành như vậy, thay vì phòng chống chính quyền xấu, lại thành bộ phận phù trợ thêm cho cỗ máy ấy.

Ngoài những trở lực tinh thần đó, các khó khăn mang tính vật chất thường khi cũng là chướng ngại không vượt qua được cho các hình thức chính thể. Trong thế giới cổ đại, tuy có thể thường có các cá nhân vĩ đại hay sự độc lập địa phương, nhưng không thể có được một cái gì đó giống như chính thể nhân dân được điều chỉnh vượt quá khuôn khổ chật hẹp của một cộng đồng thành quốc đơn độc; bởi vì thời đó đã không có các điều kiện vật chất cho sự hình thành và phổ biến một ý kiến mang tính công luận chính quy, ngoại trừ giữa những người có thể được tụ tập lại để thảo luận những vấn đề chung trên cùng một agora(*). Người ta thường nghĩ là tiếp thu hình thức chính thể đại diện thì trở ngại này ắt sẽ không còn nữa. Nhưng khắc phục được nó hoàn toàn thì phải cần đến thuật in ấn, thậm chí phải cần có báo chí thông tin, một thứ/điều tương đương thực sự với Pnyx và Forum(*), dù không phải bao gồm mọi phương diện. Đã từng có những tình trạng xã hội mà ngay cả một nền quân chủ với lãnh thổ rộng lớn đến đâu đi nữa cũng không thể tồn tại, mà nhất thiết phải tan rã thành những lãnh địa nhỏ vụn, hoặc là độc lập với nhau, hoặc liên kết với nhau lỏng lẻo theo kiểu phong kiến, bởi vì bộ máy quyền uy không đủ hoàn hảo để thực hiện hiệu quả các mệnh lệnh của kẻ cầm quyền vượt qua một khoảng cách lớn về không gian. Ông ta phụ thuộc chủ yếu vào sự tuân phục do lòng trung thành tự nguyện ngay cả của quân đội, mà cũng không có phương tiện để bắt dân chúng nộp đủ số thuế khả dĩ duy trì sức mạnh cần thiết cho việc áp đặt sự tuân phục trên khắp lãnh thổ rộng 

lớn. Trong trường hợp ấy, cũng như mọi trường hợp tương tự, cần phải hiểu rằng các trở lực hoặc nhiều hoặc ít đều hiện diện. Có thể nó lớn đến mức khiến cho hình thức chính thể vận hành rất yếu kém, nhưng không loại trừ tuyệt đối sự tồn tại của chính thể, hoặc nó ngăn cản hình thức chính thể ấy bộc lộ trong thực tiễn ưu thế của mình so với các hình thức chính thể khả dĩ khác. Vấn đề này phụ thuộc nhiều vào sự xem xét mà ta còn chưa đề cập đến – các xu thế thúc đẩy Tiến bộ của các hình thức khác nhau thuộc về chính thể.

Chúng ta đã khảo sát xong ba điều kiện cơ bản để các hình thức chính thể thích ứng với dân chúng phải sống dưới chính thể ấy. Nếu những người ủng hộ cái có thể gọi là lý thuyết tự nhiên chủ nghĩa về chính trị chỉ hàm ý nhấn mạnh sự cần thiết của ba điều kiện ấy; nếu họ chỉ hàm ý rằng không chính thể nào có thể tồn tại lâu bền nếu không thỏa mãn các điều kiện thứ nhất và thứ hai, và thỏa mãn ở mức độ đáng kể điều kiện thứ ba, thì một lý thuyết giới hạn như vậy là không có gì để tranh cãi. Nhưng, những gì được họ hàm ý nhiều hơn điều đó tôi thấy là không thể biện hộ được. Tất cả những gì người ta nói với chúng ta về sự cần thiết của một nền tảng lịch sử cho các thiết chế chính trị kết hợp hài hòa với tập tục và tính cách dân tộc cùng các thứ tương tự, thì mang ý nghĩa như thế hoặc là chẳng có gì bổ ích cả. Có khá nhiều những thứ thuần túy mang tính đa cảm trong những lời nói ấy, chúng vượt quá những gì mang ý nghĩa duy lý trong đó. Thế nhưng khi xem xét về mặt thực hành, những cái được xem là thiết yếu cho các thiết chế chính trị thực chất lại chỉ là bấy nhiêu những thuận lợi để thực hiện ba điều kiện. Khi một thiết chế hay một tập hợp các thiết chế có được phương cách chuẩn bị dựa trên ý kiến, sở thích và tập quán của dân chúng, nó không những dễ dàng thuyết phục người ta chấp thuận hơn, mà còn khiến cho người ta dễ dàng tiếp thu hơn và ngay từ khởi đầu sẽ gây được thiện cảm nhiều hơn để dân chúng làm những gì đòi hỏi ở họ, cả việc bảo vệ lẫn việc đưa các thiết chế ấy vào hoạt động, khiến cho họ đạt được kết quả tốt nhất. Sẽ là một sai lầm lớn đối với nhà lập pháp nào lại dự trù các biện pháp mà không lợi dụng các tập quán và tình cảm đã tồn tại từ trước, một khi có thể làm được. Mặt khác, sẽ là sự thổi phồng phóng đại nếu đề cao các thứ thuần túy mang tính trợ giúp và tạo thuận lợi ấy lên thành điều kiện cần thiết. Dân chúng dễ tiếp thu và thực hiện những gì họ đã quen biết, nhưng dân chúng cũng học làm được những thứ mới mẻ với họ. Sự quen thuộc là rất có ích, thế nhưng một ý tưởng lúc đầu xa lạ mà được nhấn đi nhấn lại thì cũng sẽ thành quen thuộc. Có rất nhiều thí dụ cho thấy cả một tập hợp dân chúng đã hào hứng đối với những điều họ chưa từng được thử qua. Tầm cỡ khả năng của một dân tộc có thể làm được những cái mới và tự thích ứng với các hoàn cảnh mới cũng chính là một trong những thành tố của vấn đề. Đây là một phẩm chất mà các dân tộc khác nhau, và các thời kỳ khác nhau của nền văn minh, có sự khác biệt nhau rất nhiều. Khả năng của một dân tộc nào đó đáp ứng điều kiện của một hình thức chính thể nhất định không thể được phán quyết theo một quy tắc chung chung nào đó. Sự hiểu biết về một dân tộc đặc thù và sự xét đoán sắc sảo mang tính thực tiễn bao quát phải là những chỉ dẫn trong vấn đề này.

Còn một xem xét nữa cũng không thể bỏ qua. Một dân chúng có thể còn chưa sẵn sàng cho các thiết chế tốt đẹp, nhưng việc nhen nhóm lên lòng mong ước có được các thiết chế ấy phải là phần việc cần thiết cho sự chuẩn bị. Giới thiệu và biện minh cho một thiết chế hay một hình thức chính thể cá biệt, soi sáng minh bạch các ưu thế của nó, đó chính là một trong những phương thức và thường là phương thức duy nhất trong tầm tay để giáo dục dân trí cho một dân tộc, không phải chỉ để tiếp thu và yêu sách thiết chế ấy mà cũng là để cho thiết chế ấy vận hành được. Những nhà yêu nước Italia trong thế hệ trước cũng như hiện nay đã hàm ý gì về việc chuẩn bị cho dân chúng Italia giành tự do trong thống nhất, nếu không phải là kích động họ đòi hỏi điều đó? Tuy nhiên, những người nguyện lãnh lấy nhiệm vụ ấy hẳn phải cảm nhận đầy đủ, không chỉ đơn thuần lợi ích của thiết chế hay chính thể mà họ tiến cử, mà cả khả năng đạo đức, trí tuệ và tính tích cực cần thiết để cho thiết chế hay chính thể ấy vận hành được, sao cho khả dĩ tránh được việc khích động lòng mong muốn vượt quá khả năng hiện có.

Kết quả của những gì bàn đến ở trên là: trong khuôn khổ giới hạn bởi ba điều kiện đã được đề cập thì các thiết chế và hình thức chính thể là chuyện có thể lựa chọn được. Khảo sát các hình thức tốt đẹp nhất của chính thể một cách trừu tượng (như nó được gọi thế) không phải là chuyện hão huyền mà là sử dụng trí tuệ khoa học một cách rất thực tiễn; giới thiệu cho một đất nước nào đó các thiết chế tốt nhất khả dĩ cho hiện trạng của đất nước ấy và đáp ứng các điều kiện ở mức độ nào đó có thể chấp nhận được – đó là một trong những mục tiêu duy lý nhất mà các nỗ lực thực tiễn có thể hướng tới. Tất cả những gì có thể nói được để chê bai tính hiệu quả của ý chí và quyết tâm của con người trong vấn đề chính thể, đều cũng là những cái có thể nói được giống y như thế cho bất cứ vấn đề ứng dụng nào khác của con người. Năng lực của con người đều rất có giới hạn trong mọi vấn đề. Năng lực ấy chỉ phát huy tác dụng khi nó vận dụng được một hay nhiều sức mạnh tự nhiên. Cho nên, sức mạnh có thể sử dụng vào mục đích mong muốn hẳn phải tồn tại và nó chỉ phát huy tác dụng tuân theo quy luật của riêng nó. Chúng ta không thể làm cho dòng sông chảy ngược lại, nhưng không vì thế mà chúng ta nói rằng cối xay nước “không phải được tạo ra mà tự mọc lên”. Trong hoạt động chính trị, cũng như trong cơ học, năng lực giữ cho máy chạy phải được tìm ở ngoài cỗ máy; nếu như năng lực ấy không có sẵn hay không đủ để vượt qua các trở lực được dự tính trước một cách hợp lý thì kỹ xảo sẽ phải thất bại. Điều này không phải là chuyện dị thường trong nghệ thuật chính trị; chung quy chỉ có thể nói rằng đó là chuyện phải phục tùng giới hạn và điều kiện giống như mọi thứ nghệ thuật khác.

Về điểm này chúng ta sẽ gặp phải sự phản bác khác, hoặc cũng là sự phản bác ấy nhưng dưới hình thức khác. Người ta sẽ cãi rằng những sức mạnh mà các hiện tượng chính trị lớn lao hơn phụ thuộc vào không phải là thứ có thể sai khiến đi theo hướng của các chính trị gia hay triết gia. Người ta sẽ nói rằng chính thể của một đất nước về mọi phương diện thực chất là cố định và được quy định trước bởi thực trạng của đất nước trong việc phân bố các phần tử của sức mạnh xã hội. Sức mạnh hùng hậu nhất trong xã hội, dù có là gì đi nữa, cũng sẽ nắm giữ quyền uy cai trị; và một sự thay đổi trong hiến pháp chính trị không thể nào bền lâu được trừ phi nó đi theo sau hoặc đồng hành với một phân bố được thay đổi giữa các lực lượng của bản thân xã hội. Vì vậy mà một dân tộc không thể chọn lựa hình thức chính thể của mình. Có thể chọn lựa các chi tiết và sự tổ chức thực tiễn, nhưng cái thực chất toàn cục, cái chỗ ngồi của quyền lực tối thượng là do các hoàn cảnh xã hội quyết định.

Tôi thừa nhận ngay là có một phần sự thật trong học thuyết này, nhưng để làm cho nó có chút ích lợi nào thì phải quy nó thành một diễn đạt dễ hiểu và chỉ ra các giới hạn đích thực. Khi nói rằng sức mạnh hùng hậu nhất trong xã hội sẽ tự mình tạo thành sức mạnh hùng hậu nhất trong chính quyền, thì sức mạnh ở đây hàm ý gì? Không phải là sức mạnh theo nghĩa cơ bắp, bởi nếu như vậy thì chỉ có chính thể dân chủ thuần túy là hình thức duy nhất có thể tồn tại trong tổ chức nhà nước. Ngoài sức mạnh cơ bắp phải thêm vào hai yếu tố khác là tài sản và trí tuệ, và ta sẽ gần được với sự thật hơn, nhưng vẫn còn xa mới đạt tới nó. Không phải chỉ vì số đông thường bị thua trước số ít, mà còn vì số đông dù có ưu thế về tài sản và trí tuệ cá nhân cũng vẫn có thể bị khuất phục bằng vũ lực hay bằng cách khác bởi một số ít, kém hơn nó về cả hai phương diện ấy. Để làm cho các yếu tố khác nhau ấy của sức mạnh trở nên có ảnh hưởng chính trị, họ phải được tổ chức lại: và cái lợi thế về tổ chức tất yếu nằm trong tay những người đang nắm chính quyền. Phe cánh yếu kém hơn nhiều về mọi thành tố khác của sức mạnh có thể lại chiếm ưu thế rất lớn, một khi các quyền lực cai trị được ném lên bàn cân; và nó có thể duy trì được lâu dài ưu thế của nó thông qua chỉ riêng một phương cách đó thôi, dù chắc chắn là một chính thể đứng trong điều kiện như thế, trong cơ học gọi là cân bằng không bền, sẽ giống như một vật đặt đứng tựa trên cạnh nhỏ hơn của nó, nếu một khi bị nhiễu động thì có xu hướng càng rời xa cân bằng nhiều hơn, thay vì trở lại trạng thái trước.

Nhưng cũng vẫn còn có các phản bác mạnh mẽ hơn nữa chống lại lý thuyết về chính thể này ngay trong các thuật ngữ được lý thuyết này quen dùng. Sức mạnh trong xã hội mà có xu thế biến mình thành một sức mạnh chính trị thì không phải là một sức mạnh tĩnh lặng, sức mạnh đơn thuần thụ động, mà là sức mạnh tích cực. Nói cách khác, đó là cái sức mạnh được sử dụng thực sự, tức là một tí phần rất nhỏ của toàn thể sức mạnh hiện hữu. Nói theo kiểu chính trị thì mọi sức mạnh phần nhiều cốt yếu là ở ý chí. Vậy thì làm sao có thể tính toán được các yếu tố của sức mạnh chính trị, một khi trong tính toán ta lại bỏ qua mọi cái tác động lên ý chí? Suy nghĩ rằng bởi những người sử dụng quyền lực trong xã hội là sử dụng nhằm vào cùng mục đích với chính thể, cho nên sẽ là vô ích nếu mưu toan ảnh hưởng tới hiến pháp bằng cách tác động lên dư luận, nghĩ vậy là quên rằng bản thân dư luận là một trong các sức mạnh tích cực lớn lao nhất mang tính xã hội. Một nhân vật có niềm tin là một sức mạnh xã hội bằng chín mươi chín người chỉ có các mối quan tâm. Những người thành công trong sự thuyết phục chung rằng một hình thức chính thể nhất định, hay một sự kiện xã hội bất cứ loại gì, xứng đáng được ưu tiên hơn, thì những người đó đã làm được một bước hầu như quan trọng nhất khả dĩ hướng tới đưa được các sức mạnh xã hội về phía họ. Vào cái ngày khi vị thánh tử vì đạo đầu tiên bị ném đá đến chết ở Jerusalem, trong lúc ông ta đã định sẽ làm vị Tông Đồ của những người không phải là Do Thái bằng cách “thuận tình chịu chết”, liệu có ai ngờ rằng phe cánh của cái người bị ném đá chết ấy lại chính là sức mạnh hùng hậu nhất trong xã hội ở đó và vào lúc đó? Và không phải chính biến cố ấy đã chứng minh rằng họ đã quả là như vậy hay sao? Bởi đức tin của chính họ đã là đức tin [tôn giáo] có sức mạnh nhất trong số những đức tin đang tồn tại vào thời đó. Cũng cùng yếu tố ấy đã làm cho một thầy tu ở Wittenberg tại Đại hội Worms(*) trở thành lực lượng xã hội hùng mạnh hơn cả Hoàng đế Charles V cùng mọi vua chúa khác đã tập hợp tại đó. Nhưng người ta có thể cãi rằng đây là các trường hợp liên can đến tôn giáo, và niềm tin tôn giáo là một thứ gì đó dị thường trong sức mạnh của nó. Vậy thì ta hãy lấy một trường hợp thuần túy chính trị, có gì đó liên can đến tôn giáo thì chủ yếu lại là ở phía thua cuộc. Nếu như ai đó đòi phải được thuyết phục rằng tư tưởng lý luận là một trong các sức mạnh xã hội chủ yếu, thì hãy để người ấy nhớ lại cái thời mà hiếm khi ngai vàng ở châu Âu lại không có một nhà vua, một vị hoàng đế có khuynh hướng tự do và cải cách, hay kỳ lạ hơn hết, một giáo hoàng có khuynh hướng tự do và cải cách; đó là thời đại của Frederic Đại đế, của Catherine II, của Joseph II, của Peter Leopold, của Benedict XIV, của Ganganelli, của Pombal, của Aranda; khi mà chính dòng họ Bourbons xứ Naples cũng là những người có khuynh hướng tự do và cải cách, và tất cả các trí tuệ tích cực trong quý tộc của nước Pháp đều tràn đầy những ý tưởng mà chẳng bao lâu sau họ phải trả giá đắt đến thế. Một thí dụ chắc sẽ mang tính tổng kết cho thấy ở mức độ nào sức mạnh vật thể và kinh tế không phải là toàn thể sức mạnh xã hội.

Không phải do bởi một thay đổi nào trong sự phân bố lợi ích vật chất, mà chính là sự truyền bá việc lên án về mặt đạo đức đã chấm dứt chế độ nô lệ da đen ở Đế quốc Anh và các nơi khác. Những người nông nô ở nước Nga chịu ơn sự giải phóng cho họ, nếu không phải là đối với cảm nhận về nghĩa vụ, thì ít nhất cũng là đối với sự lớn mạnh của một công luận ngày càng được khai sáng về lợi ích đích thực của Nhà nước. Chính những gì con người suy nghĩ quyết định việc họ hành động thế nào, dù cho sự thuyết phục hay niềm tin của những người thường thường bậc trung được quyết định ở mức độ lớn dựa vào địa vị cá nhân của họ hơn là vào lý lẽ, nhưng sự thuyết phục và niềm tin tác động lên họ bởi những người có địa vị cá nhân khác với họ và bởi uy tín chung của những người có học, lại không phải là một sức mạnh nhỏ bé. Cho nên, một khi những người có học nói chung có thể đi đến chỗ thừa nhận một dàn xếp xã hội, một thiết chế chính trị hay thiết chế nào khác, là tốt đẹp, còn thứ khác là xấu xa, thứ này là đáng mong đợi còn thứ kia là đáng lên án, như thế tức là đã làm được rất nhiều để hướng tới tạo ra ưu thế cho một thứ này, hay tước bỏ nó đối với một thứ khác, cái ưu thế của lực lượng xã hội có khả năng làm cho thứ dàn xếp hay thiết chế đó tồn tại. Câu châm ngôn cho rằng chính thể của một đất nước là cái mà các lực lượng xã hội đang tồn tại ép buộc nó phải như thế, chỉ đúng theo nghĩa là nó ưu ái, thay vì làm nản lòng, việc nỗ lực tiến hành một sự lựa chọn hợp lý trong số mọi hình thức chính thể khả thi trong điều kiện hiện tồn của xã hội.

Nguyên tác: Representative government, John Stuart Mill.

Bản dịch: NXB Tri Thức, Nguyễn Văn Trọng và Bùi Văn Nam Sơn dịch, giới thiệu và chú thích.

Dịch giả:
Nguyễn Văn Trọng