Chính thể đại diện - Chương 14: Về nền hành pháp trong một chính thể đại diện
Luận văn này hẳn không phải là chỗ thích hợp để thảo luận về việc hành pháp của chính quyền có thể phân chia thành những ban ngành nào thì tiện lợi hơn cả. Về phương diện này thì nhu cầu của các chính thể khác nhau là rất khác nhau, và khó có khả năng phạm sai lầm lớn nào đó trong việc phân loại nhiệm vụ, khi những người đang khao khát bắt đầu vào lúc khởi sự, và không muốn ràng buộc mình vào hàng loạt những ngẫu nhiên đã sản sinh ra sự phân chia công việc chung hiện hữu trong một chính thể cũ, giống như chính thể của chúng ta. Chỉ cần nói rằng việc phân loại chức năng phải phù hợp với loại đối tượng, và không nên có nhiều ban bệ độc lập với nhau để giám sát những bộ phận khác nhau của cùng một toàn thể tự nhiên; như trong việc quản trị quân đội của chính chúng ta cho mãi tới thời kỳ mới gần đây, và ở một mức độ ít hơn ngay cả trong hiện tại. Ở đâu mà mục tiêu muốn đạt được là đơn nhất (như là có một quân đội đầy năng lực) thì quyền uy được ủy nhiệm để đạt được mục tiêu ấy phải cũng là đơn nhất như vậy. Toàn thể một khối các phương tiện đảm bảo cho một mục đích thì phải đặt dưới cùng một sự kiểm soát và chịu trách nhiệm. Nếu chúng bị phân chia ra cho các quyền uy độc lập thì những phương tiện mà mỗi quyền uy nắm được sẽ trở thành những mục đích và sẽ chẳng có một ai quan tâm đến cái mục đích thực sự, ngoại trừ người đứng đầu Chính quyền, là người có lẽ không có kinh nghiệm về công việc thuộc ban ngành. Các chủng loại phương tiện khác nhau sẽ không kết hợp và thích ứng với nhau dưới sự dẫn dắt của một ý tưởng chủ đạo nào cả; trong khi ấy mỗi ban ngành sẽ thúc đẩy những yêu cầu riêng của mình mà không thèm để ý đến những yêu cầu của các ban ngành khác; mục đích của công việc sẽ vĩnh viễn bị hy sinh cho bản thân công việc.
Như một quy tắc chung, mỗi chức năng hành pháp, dù là ở cấp trên hay cấp phụ thuộc, phải là nhiệm vụ được chỉ định của một cá nhân nào đó. Cần phải để cho tất cả bàn dân thiên hạ đều thấy rõ ai đã làm mọi việc và do thiếu sót của ai mà mọi việc đã bị bỏ lại không làm xong. Việc gánh trách nhiệm sẽ là một con số không, một khi không ai biết người nào phải chịu trách nhiệm. Ngay cả khi việc gánh trách nhiệm là có thực, thì sự chia sẻ trách nhiệm cũng làm suy yếu nó đi. Để duy trì việc gánh trách nhiệm ở mức cao nhất thì phải để cho có một người nhận được toàn bộ sự ngợi khen khi có điều gì được làm tốt, và phải chịu toàn bộ sự khiển trách khi có điều gì tồi tệ. Tuy nhiên, ở đây có hai kiểu chia sẻ trách nhiệm: một cái chỉ làm suy yếu, cái kia hoàn toàn hủy hoại việc gánh trách nhiệm. Cái làm suy yếu khi có sự trùng nhau của nhiều viên chức chứ không phải một viên chức cho cùng một hành động. Mỗi viên chức trong số đó vẫn hãy còn có trách nhiệm thực sự; nếu có gây ra chuyện gì tồi tệ thì không một ai trong số đó có thể nói rằng anh ta không làm chuyện ấy; anh ta như kẻ tham gia cũng như kẻ đồng phạm đều phạm lỗi cả: nếu có sự phạm pháp ở đây thì tất cả bọn họ đều có thể bị trừng phạt theo pháp luật và sự trừng phạt không nhất thiết phải ít nghiêm khắc hơn là nếu chỉ liên can đến một người. Nhưng sự tình sẽ không như vậy với hình phạt là sự đánh giá, không hơn gì một sự bồi hoàn: những hình phạt như thế luôn luôn chẳng là gì hết do cùng chia sẻ. Ở nơi nào mà không có sự phạm tội theo luật pháp xác định rõ ràng, không có sự tham nhũng hay ăn hối lộ, chỉ có sai sót hay tính vô liêm sĩ, hay là thứ có thể cho qua kiểu như thế, thì ở đó mỗi kẻ tham gia có lý do để tự tha thứ cho mình và cho mọi người, viện lẽ rằng những người khác cũng dính dáng cùng với anh ta. Không có một hành vi đáng trách nào, kể cả việc bất minh về tiền bạc lại không được người ta tự cho là vô tội, khi những người có bổn phận phải lên tiếng phản đối và chống lại không chịu làm việc ấy, và sẽ còn tệ hại hơn nữa nếu họ lại phụ họa theo.
Mặc dù vậy, trong trường hợp này tuy việc gánh trách nhiệm bị suy yếu đi, nhưng vẫn còn có gánh trách nhiệm: mỗi kẻ bị lôi kéo đều có năng lực cá nhân để đồng ý và tham gia hành động. Sự thể sẽ tệ hại nhiều hơn nữa, khi bản thân hành động chỉ xuất phát từ một đa số – như trong trường hợp một Ban hay một cơ quan – bàn thảo trong cuộc họp kín, không ai được biết, hoặc giả trong trường hợp đặc biệt nào đó, chẳng ai biết một cá nhân thành viên nào biểu quyết ủng hộ hay chống lại hành động ấy. Việc gánh trách nhiệm trong trường hợp này chỉ là danh nghĩa mà thôi. Bentham đã nhận xét thật tài tình rằng: “Ban bệ là bình phong.” Cái mà “Ban bệ” làm là hành động chẳng của ai cả; và chẳng có ai bị buộc phải chịu trách nhiệm về hành động đó. Ngay cả về uy tín đi nữa thì Ban bệ cũng chỉ bị tổn hại trong tính cách tập thể của nó; và một cá nhân thành viên chỉ cảm nhận thấy điều đó trong chừng mực tự đồng hóa uy tín của chính mình với uy tín của cơ quan – một cảm nhận thường là rất mạnh khi cơ quan mang tính thường trực và anh ta gắn bó ràng buộc với cơ quan chẳng kể sau này tốt xấu ra sao; thế nhưng những thăng trầm của sự nghiệp quan chức thời hiện đại không cho anh ta đủ thời gian để hình thành nên một tinh thần đồng đội (esprit de corps) như thế; cái tinh thần đồng đội ấy, nếu có tồn tại chút nào, thì cũng chỉ tồn tại dưới dạng mờ ảo đối với số viên chức cấp thấp có biên chế lâu dài. Vậy nên Ban bệ không phải là một công cụ thích đáng cho công việc hành pháp và chỉ chấp nhận được trong việc này khi mà, vì những lý do khác, khiến cho việc trao quyền tự do hành động cho một bộ trưởng đơn nhất sẽ là điều tệ hại hơn.
Mặt khác, cũng có một châm ngôn từ kinh nghiêm dạy ta rằng sự khôn ngoan để được tìm thấy hơn trong đám đông những vị cố vấn; và rằng một người chẳng mấy khi phán xét đúng, ngay cả trong chuyện liên can đến bản thân mình, còn trong chuyện chung thì lại còn hiếm thấy hơn, khi mà anh ta thường quen chẳng sử dụng đến tri thức nào ngoài tri thức của bản thân mình, hoặc là tri thức của riêng một người chỉ dẫn duy nhất nào đó. Không nhất thiết phải có sự không tương hợp giữa nguyên tắc này với nguyên tắc trên kia [nguyên tắc về trách nhiệm cá nhân]. Dễ dàng trao quyền lực thực sự và trách nhiệm hoàn toàn cho một người duy nhất, đồng thời đảm bảo cho anh ta khi cần thiết sẽ có các cố vấn mà mỗi người trong số đó chỉ chịu trách nhiệm về ý kiến riêng của mình mà thôi.
Nói chung, thủ trưởng của một bộ phận trong chính quyền hành pháp chỉ là một nhà chính trị đơn thuần. Anh ta có thể là một nhà chính trị tốt và là một người có tài, và nếu đó không phải là chuyện thường thấy thì chính quyền sẽ là tồi tệ. Thế nhưng năng lực chung của anh ta và tri thức mà anh ta cần phải có về lợi ích chung của đất nước sẽ thường không đi kèm cái tri thức thích đáng thật đầy đủ và là cái tri thức có thể gọi là tri thức nghiệp vụ của bộ phận mà anh ta được giao cho điều khiển, ngoại trừ đôi khi có trùng hợp ngẫu nhiên. Vậy nên phải cung cấp cho anh ta các nhà cố vấn nghiệp vụ. Ở bất cứ đâu mà chỉ cần kinh nghiệm và học thức là đủ – ở bất cứ đâu mà các phẩm chất đòi hỏi phải có nơi một cố vấn nghiệp vụ có thể khả dĩ hợp nhất nơi một cá nhân được tuyển chọn tốt (thí dụ như trường hợp một viên chức luật pháp), thì một người như thế cho các mục đích tổng quát và một nhóm các viên chức cung cấp các tri thức chi tiết là đáp ứng được yêu cầu cho trường hợp này. Thế nhưng, thường xảy ra nhiều hơn, ấy là [kinh nghiệm và học thức] sẽ không đủ, nếu vị bộ trưởng phải tham vấn một chuyên gia có thẩm quyền nào đó, và khi bản thân ông ta không thành thạo với vấn đề, lại hành động ngấm ngầm theo lời khuyên của người đó. Thường sẽ là cần thiết để ông ta phải thường xuyên lắng nghe nhiều ý kiến đa dạng, và thông báo sự xét đoán của ông ta trong những cuộc thảo luận giữa một hội đồng các cố vấn. Thí dụ như chuyện này thật sự là cần thiết trong các công việc của lục quân và hải quân. Cho nên các bộ trưởng lục quân và hải quân, và có lẽ một số bộ trưởng khác nữa, phải được quy định có một Hội đồng, ít nhất cũng trong hai bộ này, bao gồm những chuyên gia có khả năng và nhiều kinh nghiệm. Như một biện pháp để có được những người tốt nhất thì họ nên được cố định trong mọi đổi thay của chính quyền: tôi có ý nói rằng họ phải không như các Đô đốc Hải quân sẽ từ chức cùng với nhiệm kỳ của bộ trưởng đã bổ nhiệm họ: thế nhưng một quy tắc thật tốt là tất cả những ai được bổ nhiệm chức vụ cao theo chọn lựa chứ không theo sự thăng tiến bình thường, thì chỉ được giữ nhiệm vụ trong một nhiệm kỳ xác định, trừ phi được tái bổ nhiệm; giống như quy tắc hiện nay đối với việc bổ nhiệm vào Bộ tham mưu của quân đội Anh. Quy tắc ấy khiến cho sự bổ nhiệm là một thứ gì đó không giống mấy với việc làm thuê khoán, không phải là một giao kèo suốt đời, và đồng thời cũng cung cấp một phương tiện để tống khứ những ai không đáng giữ lại nhất mà không làm mất mặt một ai, để được thay thế bởi những người trẻ có tư chất cao mà họ sẽ không có cơ hội nếu cứ phải chờ chỗ trống do cái chết hay do tự nguyện từ chức.
Các hội đồng phải mang tính chất tư vấn thuần túy, theo nghĩa là quyết định tối hậu phải duy nhất thuộc về chính vị bộ trưởng: thế nhưng không nên coi họ, hoặc họ cũng không nên tự coi mình là vô giá trị, hay là những người có khả năng bị ông ta biến thành như vậy theo ý thích. Các cố vấn bố trí làm việc với một người có quyền thế lớn và có thể là một người cứng đầu, phải được đặt trong những điều kiện sao cho họ không thể không bày tỏ một ý kiến, và ông ta thì không thể không lắng nghe và xem xét những đề xuất của họ, dù ông ta có chấp nhận chúng hay không. Mối quan hệ nên được tồn tại giữa vị thủ trưởng và các cố vấn được mô tả rất phù hợp với sự tổ chức của Hội đồng của vị Toàn quyền và các hội đồng của Thống đốc các bang khác nhau tại Ấn Độ. Những Hội đồng này gồm những người có hiểu biết chuyên nghiệp về tình hình Ấn Độ mà thường vị Toàn quyền hoặc các Thống đốc hay thiếu và cũng không đáng đòi hỏi họ phải có. Theo quy tắc, mỗi thành viên Hội đồng được kỳ vọng sẽ đưa ra một ý kiến, tất nhiên rất thường khi chỉ là một sự đồng ý: thế nhưng, nếu có sự cảm nhận khác nhau thì mỗi thành viên tùy ý lựa chọn và việc chỉ ra lý lẽ cho ý kiến của anh ta là một thực tiễn luôn luôn thấy: vị Toàn quyền, hay vị Thống đốc cũng làm như vậy. Trong những trường hợp thông thường thì quyết định sẽ theo tri giác của số đông; như vậy Hội đồng sẽ là một bộ phận trọng yếu trong chính quyền: tuy nhiên, nếu vị Toàn quyền, hay vị Thống đốc cho là thích đáng, ông ta có thể gạt bỏ ngay cả ý kiến nhất trí của họ, chỉ ra lý lẽ của ông ta. Kết quả là Vị thủ trưởng thực sự chịu trách nhiệm cá nhân về mỗi hành động của Chính quyền. Các thành viên của hội đồng chỉ có trách nhiệm của các cố vấn; nhưng từ những tài liệu có thể trình ra được, và nếu Nghị viện hay công luận tìm đến thì những tài liệu ấy có thể trình ra, ai cũng biết mỗi người đã tư vấn điều gì và anh ta đã đưa ra những lý lẽ gì cho lời khuyên của mình: trong khi ấy, từ vị thế trang trọng của mình cũng như từ sự tham gia hình thức vào mọi hành động của chính quyền, họ có động cơ thật mạnh mẽ để chuyên tâm vào công việc chung, và hình thành nên ý kiến được cân nhắc kỹ và bộc lộ ý kiến ấy ra về mọi phần công việc chung ấy, giống như thể toàn bộ trách nhiệm được đặt lên vai họ.
Kiểu cách điều khiển cấp cao đối với công việc chung này là một trong những thí dụ thành công nhất của việc thích nghi phương tiện cho mục đích mà lịch sử chính trị rất phong phú về các công trình của sự khéo léo và kỹ xảo không phải cho tới nay vẫn chưa từng cho thấy. Đó là một trong những thành quả mà nghệ thuật chính trị được làm phong phú thêm bởi kinh nghiệm luật lệ của Công ty Đông Ấn; và cũng giống như phần lớn những kỹ xảo khôn ngoan khác mà nhờ đó Ấn Độ đã được duy trì cho nước ta, và một số chính quyền tốt đã được đem lại, số chính quyền tốt ấy, xét cho cùng, quả thực chính là những tình huống và chất liệu diệu kỳ có lẽ được an bài cho lụi tàn trong sự hủy diệt chung mà dường như các truyền thống của chính quyền Ấn Độ phải chịu số phận trải qua, bởi vì chúng bị đặt vào tình thế phải phó mặc cho sự ngu dốt của công chúng và tính kiêu căng hợm hĩnh của bọn chính trị gia. Đã có tiếng la ó nổi lên đòi giải thể các Hội đồng tư vấn như là một thứ vật cản không cần thiết và tốn kém đối với cỗ máy chính quyền; trong khi nguyện vọng ngày càng bức bách và ngày càng nhận được thêm sự đồng tình ủng hộ từ những nơi cấp cao, đòi bãi bỏ các ban ngành dân sự mang tính chuyên nghiệp là nơi sản sinh ra những người tạo nên các Hội đồng tư vấn và sự tồn tại của các Hội đồng tư vấn ấy là sự bảo đảm duy nhất để các ban ngành có được bất cứ giá trị nào.
Một nguyên tắc quan trọng nhất của chính thể tốt trong một hiến pháp nhân dân, ấy là không có một quan chức hành pháp nào được bổ nhiệm bằng bầu cử trực tiếp của dân chúng hoặc bằng phiếu bầu của những người đại điện cho họ. Toàn bộ công việc của chính quyền là việc thuê người làm khéo léo; định phẩm cho việc thải hồi thuộc loại đặc biệt và chuyên nghiệp, không thể được phán xét đúng đắn ngoại trừ những người chia sẻ một số những phẩm chất ấy, hay có kinh nghiệm thực tế với chúng. Công việc tìm kiếm những người thích hợp nhất cho việc thu nhận vào làm việc công – không phải là tuyển lựa xem ai tốt nhất trong những người xin làm, mà phải tìm cho ra người tuyệt đối tốt nhất, và lưu ý đến tất cả những người thích hợp đã gặp được để có thể tìm được họ khi muốn – ấy là một việc khó nhọc và đòi hỏi phải có sự thấu hiểu tinh tế cũng như tận tâm rất cao; và rằng chẳng có nhiệm vụ công cộng nào được làm lại tồi tệ đến thế về tổng thể, cho nên cũng không có nhiệm vụ nào quan trọng hơn là thúc đẩy tối đa trách nhiệm cá nhân khả dĩ có được trên thực tế, bằng cách áp đặt nó như một nghĩa vụ đặc biệt trong các chức năng cao cấp ở hàng loạt bộ ngành. Tất cả các viên chức công mà không được bổ nhiệm thông qua một kiểu cách thi tuyển công khai nào đó, thì phải được tuyển lựa dựa trên trách nhiệm trực tiếp của vị bộ trưởng mà họ sẽ phục vụ dưới quyền. Tất cả các vị bộ trưởng, trừ người đứng đầu [(thủ tướng)] ra, lẽ tự nhiên sẽ do người đứng đầu tuyển lựa; và bản thân người đứng đầu, dẫu thực sự do Nghị viện chỉ định, nhưng trong chính thể vương quyền thì phải do Nhà vua bổ nhiệm chính thức. Viên chức bổ nhiệm [người khác] phải là người duy nhất có quyền bãi chức bất cứ nhân viên cấp dưới nào mà theo trách nhiệm pháp lý đáng phải bị bãi chức, nhưng không nên bãi chức quá nhiều người, trừ phi do vi phạm đạo đức cá nhân; vì rằng thật quá đáng nếu cho rằng một số đông những người lo giải quyết toàn bộ chi tiết công việc công, và tư cách của họ đối với công chúng nói chung có tầm quan trọng hơn nhiều so với tư cách của bản thân vị bộ trưởng, những người hiến mình cho nghề nghiệp, và có được tri thức cùng sự thành thạo mà thường vị bộ trưởng phải phụ thuộc vào, nếu những người ấy lại có thể bị mất việc bất kỳ lúc nào mà không có lỗi gì, còn vị bộ trưởng lại có thể bổ nhiệm một người khác thay chỗ chỉ vì lòng yêu thích riêng hay do lợi ích chính trị của riêng mình.
Đối với nguyên tắc lên án việc bổ nhiệm các viên chức hành pháp bằng bầu cử của dân chúng thì liệu ngôi vị thủ trưởng ngành hành pháp trong một chính thể cộng hòa có nên là một ngoại lệ hay không? Liệu cái quy tắc trong Hiến pháp của nước Mỹ quy định bầu Tổng thống bốn năm một lần bởi toàn thể dân chúng có phải là một quy tắc tốt hay không? Vấn đề quả thật cũng hơi khó. Có một số lợi thế không thể hồ nghi ở một nước giống như nước Mỹ, nơi không cần e sợ một cuộc đảo chính (coup d’état) bằng cách làm cho vị thủ tướng theo hiến pháp là độc lập với ngành lập pháp, và trao cho hai nhánh lớn của chính quyền sự kiểm soát hiệu quả của nhánh này với nhánh kia mà vẫn giữ cho cả hai đều có nguồn gốc nhân dân và đều có trách nhiệm của mình. Kế hoạch phù hợp với sự kiên trì tránh xa việc tập trung quá nhiều quyền lực vào cùng một bàn tay, điều này vốn là một đặc trưng nổi bật của Hiến pháp Liên bang Mỹ. Thế nhưng, trong thí dụ này, lợi thế phải mua bằng một cái giá vượt quá mọi đánh giá hợp lý về giá trị của nó. Có vẻ như tốt hơn là Chánh án tối cao trong một nước cộng hòa phải được bổ nhiệm công khai, trong khi Thủ tướng ở một nước quân chủ lập hiến trên thực tế được bổ nhiệm bởi hội đồng đại biểu. Trước hết, khi được bổ nhiệm như vậy ông ta chắc chắn phải là một người nổi tiếng nhiều hơn. Cái đảng giành được đa số trong Nghị viện khi ấy thông thường sẽ bổ nhiệm vị lãnh đạo đảng của chính họ; người đó bao giờ cũng là một trong những người lỗi lạc nhất, và thường chính là người lỗi lạc nhất trong đời sống chính trị: trong lúc đó vị Tổng thống của Hợp Chúng Quốc, kể từ khi người sáng lập còn sống cuối cùng của nước cộng hòa đã biến mất trên sân khấu [chính trị], thì hầu như bao giờ cũng sẽ hoặc là một người không mấy ai biết đến, hoặc là một người thu được danh tiếng trong một lĩnh vực khác chứ không phải chính trị. Như tôi đã quan sát thấy, chuyện này không phải tình cờ, mà là một hiệu quả tự nhiên của tình thế. Những người nổi tiếng của một đảng, trong một cuộc bầu cử mở rộng ra toàn quốc, không bao giờ là những ứng viên có giá trị nhất của đảng. Tất cả những người nổi tiếng đều đã tạo nên những kẻ thù riêng, hoặc đã làm điều gì đó, hay ít nhất cũng đã rao giảng ý kiến nào đó, gây khó chịu cho địa phương nào đó hay một bộ phận đáng kể nào khác trong cộng đồng, và có lẽ sẽ ảnh hưởng quyết định đến số phiếu bầu; trong khi ấy một người không có quá khứ [nổi bật], là người chẳng có gì để người ta biết đến ngoại trừ việc anh ta rao giảng tín điều của đảng, thì lại dễ dàng được bầu vì toàn bộ sức mạnh của đảng. Một sự xem xét quan trọng khác nữa là nguy cơ to lớn của những cuộc vận động bầu cử liên miên. Khi phẩm giá cao nhất của Nhà nước bị buộc phải được một cuộc bầu cử nhân dân cứ bốn năm một lần ban cho, thì toàn bộ thời gian xen giữa các cuộc bầu cử, trên thực tế sẽ là thời gian vận động bầu cử. Vị tổng thống, các bộ trưởng, thủ lĩnh các đảng phái, và những môn đồ của họ, tất cả đều là những người vận động bầu cử: toàn thể cộng đồng bị giữ trong sự chăm chú theo dõi đơn thuần các nhân vật chính trị, và bất cứ vấn đề công cộng nào cũng được bàn thảo và quyết định với sự chú ý đến phương diện được trông đợi trong cuộc bầu cử tổng thống nhiều hơn là đến lẽ phải trái. Nếu một hệ thống đặt ra để khiến cho tinh thần đảng phái trở thành nguyên tắc chỉ đạo hành động trong mọi công việc chung, và khiến cho không những mọi vấn đề trở thành vấn đề của đảng, thậm chí những vấn đề sở dĩ được đặt ra là để làm cơ sở cho việc hình thành những đảng mới, thì khó mà nghĩ ra được những phương tiện tốt hơn thế để thích ứng với mục đích này.
Tôi sẽ không khẳng định rằng vào mọi thời và ở mọi nơi đều đáng mong muốn là người đứng đầu ngành hành pháp phải hoàn toàn phụ thuộc vào lá phiếu bầu của hội đồng đại diện như là vị Thủ tướng ở nước Anh, và rằng chuyện này không hề có gì bất tiện. Nếu giả sử cho rằng tốt nhất nên tránh điều này, thì ông ta tuy được Nghị viện bổ nhiệm, nhưng có thể duy trì chức của mình trong một thời gian cố định không phụ thuộc vào phiếu bầu của nghị viện; nó có thể là hệ thống của nước Mỹ nhưng bỏ đi việc bầu cử của dân chúng cùng những điều có hại của nó. Có một kiểu cách khác đem lại cho người đứng đầu chính phủ thật nhiều sự độc lập với ngành lập pháp mà vẫn hoàn toàn tương thích với bản chất của chính thể tự do. Ông ta không bao giờ có thể bị phụ thuộc quá mức vào phiếu bầu của Nghị viện, nếu giả như ông ta có quyền, như vị Thủ tướng Anh quốc đã có trên thực tế, giải tán Hạ viện và kêu gọi nhân dân: nếu thay vì bị sa thải khỏi chức vụ bởi phiếu bầu thù địch, thì gặp tình thế đó ông ta chỉ bị buộc phải lựa chọn giữa việc từ chức và việc giải tán [nghị viện]. Cái quyền lực giải tán Nghị viện là một thứ mà tôi cho rằng ông ta nên có, ngay cả dưới hệ thống mà thời gian giữ chức vụ của ông ta được đảm bảo bởi một hạn kỳ cố định. Không nên có bất cứ cơ hội nào để cho sự bế tắc trong chính trị, cái sự bế tắc có thể nảy sinh ra từ mối bất hòa bộc lộ ra giữa một Tổng thống và một Quốc hội, dù lỗi của ai, kéo dài trong khoảng thời gian có thể là nhiều năm, lại thành phương kế hợp pháp để người này cưỡi lên lưng người khác. Để vượt qua được thời kỳ như vậy mà không có mưu toan làm một cuộc đảo chính nào, thì một bên nào đó hoặc cả hai bên cần phải kết hợp lòng yêu mến tự do với tập quán tự kiềm chế mà chẳng mấy dân tộc thể hiện được mình có khả năng như thế, và dù có tránh được chuyện cực đoan ấy thì kỳ vọng rằng hai quyền uy sẽ không làm tê liệt hoạt động của nhau sẽ đồng nghĩa với việc cho rằng đời sống chính trị của đất nước sẽ luôn tràn ngập tinh thần nhường nhịn lẫn nhau và cùng thỏa hiệp, không hề nao núng bởi những đam mê và kích động của các cuộc đấu tranh đảng phái kịch liệt. Một tinh thần như thế có thể tồn tại, nhưng ngay cả ở nơi có tinh thần ấy thì sẽ là không khôn ngoan nếu trông đợi quá nhiều ở nó.
Có những lý do khác khiến ta mong muốn rằng có một số quyền lực nào đó của nhà nước (nhất thiết chỉ có thể là quyền hành pháp) phải được tự do tùy ý quyết định tổ chức bầu một Nghị viện mới vào bất cứ lúc nào. Khi thực sự có sự hoài nghi không biết đảng nào trong hai đảng đang tranh đua có được nhiều người theo nhất, thì điều quan trọng là phải có sẵn biện pháp hợp hiến để ngay lập tức kiểm tra điều này và thu xếp nó yên ổn. Không có đề tài chính trị nào khác có cơ hội được chú trọng đến thật đầy đủ chừng nào đề tài này không được giải quyết dứt khoát: quãng thời gian chờ đợi như thế chủ yếu là thời kỳ phí hoài đối với mục đích cải tiến nền lập pháp và hành pháp, không đảng nào có đủ sự tin chắc vào sức mạnh của mình để cố gắng thử làm những điều có thể gia tăng sự chống đối từ bất cứ phía nào có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp trong cuộc đấu tranh còn chưa ngã ngũ.
Tôi còn chưa tính đến trường hợp mà quyền lực rộng rãi được tập trung vào tay vị quan chức tối cao và sự gắn bó của quần chúng nhân dân với các thiết chế tự do không đủ chặt chẽ, sẽ cho ông ta một cơ hội thành công trong mưu toan lật đổ Hiến pháp và giành quyền thống trị. Ở nơi có hiểm họa như thế thì không vị quan chức tối cao nào được thừa nhận, nếu mà Nghị viện không thể đưa ông ta trở thành thường dân chỉ bằng một lần biểu quyết duy nhất. Đối với một tình hình dường như khuyến khích sự phá vỡ lòng tin một cách thô bạo và trắng trợn như thế thì ngay bản thân việc buộc phải tuyệt đối phục tùng Hiến pháp cũng chỉ là một sự bảo vệ yếu ớt mà thôi.
Trong tất cả các viên chức chính quyền thì những người mà việc bổ nhiệm có sự tham gia nào đó của bầu cử dân chúng đáng bị phản đối nhất, ấy là các viên chức tư pháp. Trong khi không có loại công chức nào mà việc phán xét đánh giá phẩm chất chuyên môn và nghiệp vụ của họ lại nằm ngoài khả năng của quần chúng như với các viên chức tư pháp, thì cũng không có loại công chức nào mà sự vô tư tuyệt đối và sự độc lập đối với mọi mối quan hệ với các chính khách hay các phe phái chính trị lại có một tầm quan trọng đến như thế. Một số nhà tư tưởng, trong đó có Bentham, cho rằng tuy việc không nên bổ nhiệm các thẩm phán bằng bầu cử nhân dân là tốt hơn, nhưng dân chúng tại địa hạt của họ phải có quyền được bãi nhiệm họ do bất tín nhiệm sau một trải nghiệm vừa đủ. Không thể phủ nhận rằng sự bất khả bãi miễn đối với bất cứ công chức nào được giao phó những lợi ích lớn, tự thân nó là một điều xấu. Rất không đáng mong muốn có tình trạng chẳng có biện pháp nào tống khứ được một thẩm phán tồi tệ và trình độ kém cỏi, trừ phi anh ta có lỗi lầm phải đưa ra tòa xét xử; cũng như để cho một công chức mang trọng trách, mà lại có cảm giác không phải chịu trách nhiệm gì hết ngoại trừ trước dư luận và lương tâm riêng của anh ta. Tuy nhiên, đối với trường hợp đang bàn, vấn đề là ở chỗ cứ giả định rằng mọi bảo đảm thực tế đã được thực hiện cho việc bổ nhiệm trung thực nhất, thì ở vào vị thế đặc biệt của một thẩm phán, việc không chịu trách nhiệm, ngoại trừ trước lương tâm riêng và trước công luận, về toàn cục liệu có khuynh hướng làm hư hỏng hành vi ít hơn là việc chịu trách nhiệm trước chính quyền hay trước phiếu bầu của dân chúng hay không. Kinh nghiệm từ lâu đã giải quyết điều này bằng cách trả lời “có” về phía chịu trách nhiệm trước ngành hành pháp; và cũng mạnh ngang bằng như vậy khi trả lời “không” cho việc chịu trách nhiệm trước lá phiếu của cử tri. Các phẩm chất quan trọng hàng đầu đối với một thẩm phán là sự bình tĩnh và vô tư lại không phải là các đức tính của một tập thể cử tri. May mắn thay, trong sự can thiệp của việc bỏ phiếu tín nhiệm của nhân dân, vốn là một việc làm mang tính bản chất của tự do, thì chúng cũng không phải là những phẩm chất cần thiết. Ngay cả đức tính công bằng, dẫu là cần thiết cho mọi con người, cho nên cũng là cần thiết cho mọi cử tri, thì cũng không phải là động cơ giữ vai trò quyết định bất kỳ cuộc bầu cử nhân dân nào. Tính công bằng và không thiên vị ít được yêu cầu trong việc bầu ra một thành viên Nghị viện, giống như chúng cũng có thể ít được yêu cầu như vậy trong bất cứ sự giải quyết công chuyện nào của con người. Các cử tri không làm công việc tặng thưởng gì đó cho một ứng cử viên xứng đáng, cũng chẳng đưa ra phán xét gì về công trạng chung của những đối thủ tranh đua, trái lại, họ chỉ tuyên bố rõ ai trong số đó là người được họ tin cậy nhiều nhất, hay là người đại diện tốt nhất cho những tin tưởng chính trị của họ. Trong khi một thẩm phán buộc phải đối xử với người đồng chí chính trị của mình, hay với người quen biết nhất của mình, cũng hệt như đối xử đối với những người khác; thế nhưng nếu một cử tri cũng làm như thế thì đó hẳn sẽ là một sự vi phạm nghĩa vụ cũng như một sự phi lý. Không có luận cứ nào có thể dựa vào sự tác động có lợi lên các thẩm phán, cũng như lên mọi công chức khác, bởi quyền hạn đạo đức của ý kiến; vì ngay cả về phương diện này đi nữa thì cái thực sự có tác động kiểm soát hữu ích lên công việc tố tụng của thẩm phán, một khi ông ta thích đáng cho nhiệm vụ tư pháp, không phải là ý kiến của cộng đồng nói chung (ngoại trừ đôi khi là những vụ án chính trị), mà là ý kiến của chỉ riêng cái cộng đồng có thể đánh giá đúng đắn được hành vi hay các phẩm chất của ông ta, đó chính là những bạn đồng liêu chuyên nghiệp trong tòa án của ông ta.
Người ta không nên hiểu lầm rằng tôi cho sự tham gia của công chúng rộng rãi vào việc quản lý ngành tư pháp là chuyện không quan trọng; đó là chuyện quan trọng bậc nhất, nhưng theo kiểu cách nào? Bằng cách thực hiện thực sự một bộ phận của các nghĩa vụ tư pháp trong tính chất của một bồi thẩm viên. Đây là một trong số ít các trường hợp trong chính trị mà dân chúng nên hành động trực tiếp và đích thân hơn là thông qua các đại diện của mình; đó cũng là trường hợp hầu như duy nhất mà thà chịu đựng lỗi lầm mà người thực thi quyền uy có thể phạm phải, còn hơn là chịu đựng các hệ lụy của việc muốn anh ta phải chịu trách nhiệm vì những lỗi lầm ấy. Nếu một thẩm phán có thể bị bãi miễn bởi một cuộc bỏ phiếu của dân chúng, bất cứ ai mong hất cẳng ông ta sẽ có thể kiếm lợi từ mọi quyết định pháp luật của ông ta, và, trong chừng mực là khả thi sẽ mang mọi quyết định ấy ra trước tòa án dư luận bằng cách kêu gọi bất thường một cuộc trưng cầu ý kiến công chúng mà công chúng thì nói chung là thiếu trình độ, do không được biết rõ vụ việc, hoặc biết vụ việc nhưng không biết đến những cân nhắc thận trọng, hoặc sự vô tư khi lắng nghe xét xử, người ấy sẽ lợi dụng những xúc cảm hay định kiến sẵn có của công chúng, còn nếu không có, sẽ tìm cách kích động chúng lên. Và nếu là vụ việc có lợi và anh ta chịu mất công khó nhọc, thì anh ta dứt khoát sẽ thành công, trừ phi vị thẩm phán, hay bằng hữu của anh ta, chịu hạ cố bước xuống trường đấu và đưa ra lời kêu gọi hùng mạnh ngang bằng ở phía bên kia. Kết cuộc các thẩm phán sẽ cảm thấy rằng họ có nguy cơ bị mất chức từ mỗi quyết định mà họ đưa ra trong vụ việc nhạy cảm với lợi ích chung, và họ sẽ cảm thấy việc xét xem quyết định nào là đúng không cần thiết bằng việc xét xem quyết định nào sẽ được công chúng tán thưởng nhiều nhất, hoặc quyết định nào ít có khả năng nhất sẽ bị diễn giải sai một cách ác ý. Thực hành được đưa vào trong các Hiến pháp mới hoặc được tu chỉnh của một số Tiểu bang tại Mỹ, bằng cách đưa các công chức tư pháp ra cho dân chúng bầu theo định kỳ, tôi e rằng sẽ là một trong những sai lầm nguy hiểm nhất mà nền dân chủ từ trước tới nay mắc phải; và, như ta được biết, giả như không có cái tinh thần thực dụng lành mạnh – cái tinh thần không bao giờ hoàn toàn rời bỏ dân chúng Hợp Chúng Quốc – thấy cần phải có phản ứng lại để chẳng bao lâu nữa sẽ dẫn đến việc rút lại sai lầm này, thì ta có thể có lý do để xem sai lầm này như một bước suy thoái lớn đầu tiên của chính thể dân chủ hiện đại(*).
Về nhóm người đông đảo và quan trọng bao hàm sức mạnh thường trực của dịch vụ công, tức những người không thay đổi theo sự đổi thay của chính trị mà ở lại trợ giúp cho mọi bộ trưởng bằng kinh nghiệm và truyền thống của mình, cung cấp cho bộ trưởng những tri thức nghề nghiệp, điều khiển các chi tiết về quản lý dưới sự giám sát chung của ông ta; tóm lại, đó là những người tạo thành tầng lớp công chức chuyên nghiệp, bước vào nghề từ lúc còn trẻ giống như các nghề nghiệp khác, với niềm hy vọng được thăng tiến lên những bậc cao hơn trong tiến trình cuộc sống của mình. Điều hiển nhiên không thể chấp nhận được là những người ấy có nguy cơ bị thải hồi, bị cướp đoạt toàn bộ thành quả của họ trong việc phục vụ trước đây, trừ phi họ phạm lỗi nghiêm trọng rõ ràng và có bằng chứng. Tất nhiên, tôi hiểu sự phạm lỗi ấy không chỉ là những hành vi khiến họ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật mà cả việc tự ý sao nhãng nhiệm vụ, hay có hành vi tỏ ra không đáng tin cậy đối với mục đích đã được ủy thác. Vậy nên, trừ trường hợp có phạm tội, chẳng có cách nào tống khứ được họ, ngoài cách biến họ thành gánh nặng cho Nhà nước như những người hưởng trợ cấp, do đó, điều rất quan trọng là phải làm tốt việc bổ nhiệm ngay từ lúc đầu; và ta sẽ còn phải xem xét kiểu cách bổ nhiệm thế nào để có thể đạt được điều đó một cách tốt nhất.
Khi tiến hành bổ nhiệm lần đầu, chẳng có nguy hiểm gì nhiều nếu thấy những người làm nhiệm vụ tuyển lựa thiếu kỹ năng và tri thức chuyên môn, nhưng sẽ nguy hiểm hơn nhiều do tính không công bằng và mưu lợi riêng tư hay mưu lợi chính trị. Thông thường, những người được bổ nhiệm đều ở tuổi mới bắt đầu trưởng thành, còn phải học hỏi nhiều để thành thạo nghề nghiệp của mình, nên đặc điểm duy nhất để phân biệt được những ứng viên tốt nhất, ấy là sự tài giỏi trong những môn học thông thường của nền giáo dục phổ thông: và điều này có thể được xác định dễ dàng với điều kiện những người được chỉ định thẩm tra điều này chịu bỏ công sức và có tính vô tư cần thiết. Khó mà chờ đợi cả hai điều này nơi một bộ trưởng vốn phải dựa hoàn toàn vào những lời giới thiệu, và dù bản thân ông ta có vô tư đến đâu đối với nguyện vọng riêng của mình, thì cũng sẽ chẳng bao giờ tránh khỏi sự gởi gắm của những người có quyền lực ảnh hưởng đến sự lựa chọn riêng của ông ta, hoặc những người mà sự ủng hộ chính trị của họ là quan trọng đối với cái bộ mà ông ta đảm trách. Chính sự cân nhắc các yếu tố này đã dẫn đến một thủ tục là phải chuyển tất cả các ứng viên bổ nhiệm lần đầu tới một kỳ thi công khai, được tiến hành bởi những người không dính líu đến chính trị, và thuộc cùng một giới và có cùng phẩm chất với những người chấm thi các danh hiệu của các trường Đại học. Đó hẳn sẽ là một kế hoạch tốt nhất dưới bất kỳ hệ thống nào; và dưới chính thể đại nghị của chúng ta thì đây là phương pháp duy nhất đảm bảo cho sự bổ nhiệm, tôi không dám nói là trung thực nhất, nhưng cũng tiết chế được sự bừa bãi công khai và trắng trợn.
Cũng tuyệt đối cần thiết là các kỳ thi phải mang tính cạnh tranh, và sự bổ nhiệm được trao cho những người có kết quả tốt nhất. Về lâu dài, bao giờ sự vượt qua được kỳ thi cũng chỉ đơn thuần làm được việc loại bỏ những kẻ ngu đần. Khi giám khảo đứng trước câu hỏi phải lựa chọn giữa việc làm tàn lụi triển vọng của một cá nhân hoặc bỏ qua bổn phận đối với công chúng, một bổn phận hiếm khi tỏ ra quan trọng bậc nhất trong từng trường hợp cá biệt, thì ông ta phải là người có sự kiên định khác thường mới không có xu hướng nghiêng về phía lòng tốt, bởi làm điều trước thì thường bị trách móc, còn làm điều sau thì chẳng ai biết đến hay quan tâm. Nhân nhượng trong trường hợp này sẽ khiến phải nhân nhượng trong trường hợp khác và sự lặp lại nhiều lần sẽ khiến cho việc kháng cự lại nó mỗi lúc thêm khó khăn hơn, và cứ tạo nên những tiền lệ mới cho tới khi chuẩn mực của tài năng dần dần chìm lún xuống thành một thứ gì đó hầu như bị coi khinh. Các kỳ thi lấy học vị ở hai trường đại học lớn của chúng ta [trường Oxford và Cambridge] nói chung thường đòi hỏi không nhiều mà các ứng viên cho các danh vị cũng đều cố gắng và nghiêm chỉnh, ở đâu mà không đòi hỏi vượt quá một mức độ tối thiểu nhất định, thì mức độ tối thiểu rồi sẽ trở thành mức độ tối đa: sẽ trở thành thói quen chung không nhắm tới nhiều hơn nữa, và cũng như thường thấy là sẽ có một số nào đó không đạt được tất cả những gì nhắm tới, dù chuẩn mực có thể bị hạ thấp đến đâu đi nữa thì vẫn có một số không đạt tới nó. Ngược lại, khi mà việc bổ nhiệm chỉ dành cho những người nổi bật nhất trong số đông các ứng viên, và là nơi mà những người thi đậu được phân hạng theo trật tự tài năng, thì không chỉ là mỗi người được khuyến khích làm tốt nhất, mà ảnh hưởng của nền giáo dục cấp cao sẽ được cảm nhận thấy khắp mọi nơi trên đất nước. Đối với mỗi người thầy giáo sẽ có đối tượng cho hoài bão và một con đường cho thành đạt, ấy là đã cung cấp được những học trò đỗ đạt cao trong những cuộc tranh đua ấy; và khó mà có được phương cách nào khác để cho Nhà nước có thể làm được nhiều đến vậy trong việc nâng cao phẩm chất của các thiết chế giáo dục ở khắp nước.
Dù cho nguyên tắc thi tuyển trong việc thu dụng công chức là thứ mới được đưa vào đất nước này không lâu và việc thực hiện vẫn còn chưa được hoàn hảo, việc phục vụ tại Ấn Độ hãy còn là trường hợp duy nhất mà nguyên tắc ấy hiện hữu trong sự trọn vẹn của nó, nhưng hiệu quả cảm nhận được đã bắt đầu thấy tại những nơi có nền giáo dục của giai tầng trung lưu; mặc dù những khó khăn mà nguyên tắc này gặp phải từ tình trạng yếu kém đáng xấu hổ hiện nay trong nền giáo dục trong nước, chính những kỳ thi này đã đưa ra ánh sáng soi rõ tình trạng yếu kém ấy. Cái kiểu mẫu giành được chỗ làm thường gặp trong giới trẻ thật đáng khinh, ấy là những kẻ nhận được chức vụ từ vị bộ trưởng cho họ được quyền tự xung phong làm ứng viên; kiểu mẫu ấy khiến cho việc tranh đua của những ứng viên như thế đem lại kết quả hầu như nghèo nàn hơn là một kỳ thi thuần túy đạt trình độ; bởi vì hẳn là chẳng một ai nghĩ đến việc ấn định các điều kiện cho một kỳ thi đạt trình độ thật thấp đến mức được thấy là đủ để khiến cho một người trẻ tuổi vượt qua được các bạn cùng ứng thí. Do đó mà người ta nói rằng những năm tháng kế tiếp nhau cho thấy một sự suy tàn tổng thể của tri thức, chẳng có mấy nỗ lực được thực hiện bởi vì kết quả của kỳ thi trước đó chứng tỏ rằng sự cố gắng bỏ ra sau đó lớn hơn là mức đủ cho việc đạt được mục tiêu. Một phần do giảm đi nỗ lực, và một phần là do ngay cả tại các kỳ thi không đòi hỏi có bổ nhiệm trước đó, sự ngu dốt về nhận thức đã làm giảm số người tranh đua xuống chỉ còn một số rất ít đến nỗi dù đôi lúc có tài năng lớn, nhưng phần phía dưới của bản danh sách những người trúng tuyển chỉ là những người có kiến thức rất vừa phải; và chúng tôi được biết theo lời của những Đại biểu chính quyền trung ương, là gần như tất cả những người không trúng tuyển đều do sự ngu dốt không phải ở những chuyên ngành Cao cấp, mà ở ngay những yếu tố tầm thường nhất – viết chính tả và làm toán số học.
Sự la ó phản đối tiếp tục diễn ra chống lại những kỳ thi ấy của một số cơ quan ngôn luận là thường xuyên. Tôi lấy làm tiếc phải nói rằng những người xông vào đánh thật ít đáng ca ngợi cả về sự trung thực lẫn lương tri. Sách lược của họ một phần là xuyên tạc cái loại ngu dốt mà nó quả thực đã dẫn đến thất bại cho các kỳ thi. Họ trích dẫn với sự nhấn mạnh vào những câu hỏi tối tăm khó hiểu nhất(*), làm cho công chúng nhầm tưởng rằng việc trả lời trôi chảy những câu hỏi ấy là điều kiện nhất thiết (sine qua non) để được trúng tuyển. Trong khi đó, người ta đã nhắc đi nhắc lại đến chán ngấy rằng những câu hỏi ấy không được đưa ra để cho mỗi người được hỏi đều phải trả lời, mà chỉ để cho bất cứ ai có khả năng làm được điều đó có thể có cách chứng tỏ tài năng và tận dụng được phần tri thức ấy của mình. Đây không phải là căn cứ để đánh hỏng thi, nhưng là phương tiện bổ sung cho việc thi đậu, và cơ hội đó đã được trao cho. Rồi người ta lại hỏi chúng tôi rằng liệu cái loại tri thức được đòi hỏi trong câu hỏi này hay câu hỏi kia, sẽ có công dụng nào đó không cho ứng viên, sau khi anh ta đã đạt được mục đích của mình. Người ta có ý kiến rất khác nhau về việc tri thức nào là có ích. Có những người đang còn sống, và Bộ trưởng Ngoại giao gần đây là một trong số đó, cho rằng biết viết chính tả tiếng Anh là chẳng có ích gì cho một tùy viên ngoại giao, hay cho một thư ký công sở. Có một điều các vị phản đối có vẻ như cùng nhất trí, ấy là sự trau dồi văn hóa trí tuệ không có ích gì trong những việc tuyển dụng này, dù sự trau dồi ấy có là thứ gì đi nữa. Tuy nhiên, nếu sự trau dồi văn hóa là có ích (như tôi cho là thế), hay nếu bất cứ sự giáo dục nào cũng có chút gì có ích, thì nó phải được kiểm tra bởi những cuộc sát hạch có lẽ phần nhiều cho thấy được liệu ứng viên có sự trau dồi ấy hay không. Để xác định xem anh ta có được giáo dục tốt hay không thì anh ta phải bị chất vấn trong những vấn đề mà người có giáo dục tốt nào cũng phải biết, ngay cả khi kiến thức ấy không trực tiếp liên quan đến công việc mà anh ta sẽ được bổ nhiệm. Những người phản đối việc hỏi anh ta về các ngôn ngữ cổ điển và toán học tại một đất nước mà cái thứ duy nhất thường xuyên được dạy là các ngôn ngữ cổ điển và toán học, không biết liệu các vị sẽ nói cho chúng tôi biết các vị định hỏi anh ta về điều gì hay không? Tuy nhiên, có vẻ như người ta phản đối cả việc khảo thí anh ta về những thứ đó, cũng như khảo thí anh ta về bất cứ cái gì ngoài những thứ đó! Nếu những vị trong hội đồng khảo thí quan tâm đến việc mở cánh cửa tiếp nhận cả những người còn chưa qua nổi bậc trung học, hay những người bù đắp cho vốn tri thức ít ỏi của mình bằng kiến thức lớn hơn về một điều gì đó – cho phép ghi điểm tài năng trong bất cứ môn học nào khác có ích thực sự, thì họ cũng sẽ bị trách mắng vì điều đó luôn. Chẳng điều gì thỏa mãn được những người phản đối ngoài việc tự do thu nhận sự ngu dốt hoàn toàn.
Người ta nói với chúng ta một cách đắc thắng rằng cả Clive(*) lẫn Wellington(*) đều không thể vượt qua được cuộc sát hạch mà một người muốn làm kỹ sư học việc đóng tàu buộc phải trải qua. Cứ như là nếu vì lẽ Clive và Wellington đã không làm cái mà họ không được yêu cầu phải làm, thì [tức là] họ đã không thể làm được nếu họ được yêu cầu. Nếu điều nêu ra chỉ có ý nghĩa muốn cho chúng ta biết rằng một vị tướng lĩnh vĩ đại không biết những thứ đó là điều khả dĩ, thì cũng còn có nhiều điều khác nữa rất có ích cho các tướng lĩnh vĩ đại, mà họ cũng không biết. Alexander Đại đế chưa bao giờ được nghe nói tới các quy tắc Vauban(*), Julius Ceasar cũng không biết nói tiếng Pháp. Rồi chúng ta được họ cho biết tiếp rằng những con mọt sách, một từ ngữ hình như được áp dụng cho bất cứ ai có một chút ít ỏi nhất kiến thức sách vở thật sơ sài, trói gà không chặt và không có những thói quen của bậc quý phái (gentlemen). Đó là luận điệu phê bình rất phổ biến thường thấy ở những kẻ thuộc hạng ngu tối; thế nhưng bọn ngu tối có thể nghĩ gì cũng được, nhưng chúng chẳng có độc quyền gì, cả về những thói quen quý phái lẫn hoạt động thể chất, ở bất cứ đâu mà những thứ đó là cần thiết, thì hãy cứ tìm kiếm và cung cấp thêm như một sự bổ sung chứ không vì thế mà vứt bỏ năng lực trí tuệ. Trong khi ấy, theo nguồn tin đáng tin cậy, tôi được biết rằng ở Viện hàn lâm Quân sự tại Woolwich cuộc thi tuyển học viên sĩ quan là tốt hơn so với những người được nhận vào theo hệ thống chỉ định cũ, cả về những mặt này cũng như mọi mặt khác; rằng ngay cả tập luyện họ cũng làm mau lẹ hơn; ấy cũng là điều có thể thấy trước được vì một người thông minh học mọi thứ đều nhanh hơn kẻ đần độn: và rằng về mặt cư xử nói chung họ nổi bật và đầy hứa hẹn tốt đẹp hơn so với những học viên lớp trước đó, rằng những người phụ trách các học viện đều nóng lòng chờ đến ngày những tàn tích cuối cùng của những ảnh hưởng cũ sẽ biến mất hết đi. Nếu là như vậy, và cũng thật dễ dàng xác định xem có phải như vậy không, thì hy vọng chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ chỉ còn phải nghe thấy một lần cuối cùng, rằng sự ngu dốt là sự định phẩm tốt hơn tri thức đối với nghề nghiệp quân sự, và còn mạnh hơn nữa (à fortiori) đối với mọi nghề nghiệp khác; và rằng bất cứ một phẩm chất tốt nào, càng ít liên quan đến giáo dục bậc cao, chắc sẽ càng được phát huy nếu không có sự giáo dục ấy!
Dù cho việc thu nhận lần đầu vào làm viên chức chính quyền phải được quyết định bằng kỳ thi tuyển, thì trong phần lớn các trường hợp việc thăng tiến sau đó chắc không thể nào lại cũng được quyết định như thế: và có lẽ là thích đáng hơn phải làm giống như hiện nay vẫn thường làm, dựa trên một hệ thống hỗn hợp của thâm niên và chọn lọc. Những người làm nhiệm vụ có tính chất đều đặn hằng ngày thì sẽ có thể thăng tiến theo thâm niên cho tới bậc cao nhất của chức vụ; trong khi đó những người được giao phó chức năng của sự tin cậy đặc biệt và đòi hỏi khả năng chuyên môn, thì phải được chọn lựa từ những nhân viên trong ngành dựa trên sự suy xét cân nhắc của thủ trưởng cơ quan. Và việc chọn lựa này nói chung sẽ được ông ta làm một cách trung thực, nếu những bổ nhiệm đầu tiên là thi tuyển công khai: và dưới hệ thống đó tổ chức của ông ta nói chung sẽ gồm những cá nhân mà đối với họ ông ta là người lạ, ngoại trừ mối liên hệ chính thức. Nếu trong số những cá nhân này có ai đó, mà ông ta, hay các bạn hữu chính trị cũng như người ủng hộ ông ta quan tâm tới, thì đó cũng chỉ là hãn hữu, và cũng chỉ là khi mà ngoài ưu thế quan hệ, ít nhất cũng còn có thêm sự bình đẳng của tài năng thực sự trong chừng mực mà kỳ thi ban đầu có thể kiểm tra được. Và trừ khi có động cơ rất mạnh để thúc ép những bổ nhiệm ấy, thì bao giờ cũng có một động cơ mạnh mẽ để bổ nhiệm người thích đáng nhất; là người sẽ trợ giúp hữu ích nhất cho thủ trưởng của anh ta, tránh đỡ cho ông ta phần lớn các rắc rối, giúp đỡ nhiều nhất cho ông ta xây dựng được tiếng tăm là người quản trị tốt việc công; tiếng tăm này tất nhiên ông bộ trưởng có quyền được hưởng trước hết, cho dù những phẩm chất mà ông ta có được một cách trực tiếp có thể là của những thuộc cấp.
Nguyên tác: Representative government, John Stuart Mill.
Bản dịch: NXB Tri Thức, Nguyễn Văn Trọng và Bùi Văn Nam Sơn dịch, giới thiệu và chú thích.
