Chính thể đại diện - Chương 10: Kiểu cách bỏ phiếu
Vấn đề quan trọng nhất về kiểu cách bỏ phiếu là bỏ phiếu kín hay bỏ phiếu công khai; và chúng ta sẽ lập tức tập trung chú ý vào chuyện này.
Sẽ là một sai lầm lớn nếu xoay cuộc thảo luận sang chiều đa cảm về thói lén lút hay tính hèn nhát. Tính kín đáo được biện minh trong nhiều trường hợp, có tính bắt buộc trong một số trường hợp, và tìm kiếm sự bảo hộ chống lại những điều ác khả dĩ tránh được một cách lương thiện thì không phải là thói hèn nhát. Cũng không thể là hợp lý nếu giữ ý kiến rằng không sao hình dung được trường hợp nào bỏ phiếu kín lại là đáng ưa chuộng hơn bỏ phiếu công khai. Nhưng tôi dám chắc rằng những trường hợp ấy, trong những công việc có tính chất chính trị, là ngoại lệ chứ không phải quy tắc.
Đó là một trong nhiều trường hợp, như tôi đã có dịp nhận xét, mà tinh thần của một thể chế, cái ấn tượng của nó tác động lên tâm trí của công dân, là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong hoạt động của thể chế. Tinh thần của bầu cử bằng lá phiếu kín, mà bản thân người cử tri có lẽ sẽ diễn giải trong thâm tâm mình – là quyền đi bầu được trao cho anh ta vì chính bản thân anh ta; để anh ta sử dụng cho riêng mình và vì lợi ích của mình chứ không phải như sự tín nhiệm của công chúng. Vì rằng nếu quả thực đó là một sự tín nhiệm, nếu công chúng cũng có quyền đối với sự bỏ phiếu của anh ta thì tại sao công chúng lại không có quyền biết anh ta bỏ phiếu cho ai? Cái ấn tượng sai lệch và nguy hại này có thể lan tràn trong quần chúng đông đảo khiến ta không ngạc nhiên, bởi nó cũng đã được chia sẻ bởi phần đông những vị – trong các năm gần đây – tỏ ra là những người bảo vệ xuất sắc nhất cho việc bỏ phiếu kín. Những người khởi xướng thời kỳ đầu đã không hiểu học thuyết của mình theo tinh thần đó; thế nhưng hiệu quả của một học thuyết tác động lên trí óc được chứng tỏ tốt nhất không phải ở những người đề xướng học thuyết, mà ở những người chịu ảnh hưởng của học thuyết ấy. ông Bright và trường phái những người dân chủ của ông đặt nặng việc khẳng định rằng bầu cử là một quyền chứ không phải một sự tín nhiệm. Hiện nay, ý tưởng này đã bén rễ vào trí óc chung, tạo nên mối nguy hại lớn hơn tất cả điều tốt mà lá phiếu kín có thể tạo nên, dù điều tốt ấy được đánh giá cao đến mấy đi nữa. Bất kể ta định nghĩa hay hiểu quyền là gì, không người nào có cái quyền (right) (ngoại trừ theo nghĩa thuần túy pháp luật) có quyền lực (power) đối với những người khác: mọi quyền lực mà anh ta được phép sở hữu như thế – mang tính chất đạo đức trong đầy đủ sức mạnh của từ này – [chỉ] là một sự tín nhiệm. Thế nhưng thi hành bất cứ chức năng chính trị nào, dù như một cử tri hay như một đại biểu, đều là thi hành một quyền lực [theo nghĩa: một sự tín nhiệm] đối với những người khác.
Những người bảo rằng bầu cử không phải là một sự tín nhiệm mà là một quyền sẽ khó lòng chấp nhận được những kết luận mà học thuyết ấy dẫn dắt tới. Nếu như đó là một quyền, nếu nó thuộc về người bỏ phiếu vì chính bản thân anh ta, vậy thì chúng ta dựa vào đâu để có thể trách cứ anh ta vì anh ta bán lá phiếu hay sử dụng lá phiếu để tiến dẫn bản thân với ai đó mà anh ta có lợi ích khi người đó vừa lòng? Không thể chờ đợi một người chỉ biết tham khảo đến lợi ích của công chúng khi sử dụng ngôi nhà của mình, hay trong việc anh ta mua cổ phiếu ba phần trăm, hay trong bất cứ chuyện gì mà anh ta quả thực có một quyền. Bầu cử đúng là thuộc quyền của anh ta, ngoài những lý lẽ khác, như là phương tiện cho anh ta tự bảo hộ mình, nhưng chỉ là để chống lại sự đối xử mà anh ta cũng bị ràng buộc bình đẳng phải bảo hộ cho mỗi công dân đồng bào với anh ta, trong chừng mực nó phụ thuộc vào lá phiếu của anh ta. Lá phiếu của anh ta không phải là thứ mà anh ta có quyền tùy ý lựa chọn; nó không dính dáng gì đến mong ước cá nhân của anh ta không khác gì lời phán quyết [vô tư] của một quan tòa. Đó chính xác là chuyện nghĩa vụ; anh ta bị ràng buộc phải bỏ lá phiếu theo ý kiến tốt nhất và có ý thức nhất của mình đối với lợi ích chung. Bất cứ ai có ý nghĩ nào khác với điều này đều không thích đáng có quyền bầu cử; tác động của nó lên anh ta là làm hư hỏng chứ không nâng cao tâm hồn. Thay vì mở rộng trái tim của anh ta đón nhận lòng yêu nước cao quý và nghĩa vụ đối với trách nhiệm chung, nó lại khêu gợi và nuôi dưỡng thiên hướng lạm dụng chức năng công ích để mưu lợi ích riêng, phục vụ sự vui thú hay thói đồng bóng của bản thân; và đấy cũng chính là những cảm xúc và mục tiêu, trên một quy mô lớn hơn, đã kích thích bọn bạo chúa và kẻ đàn áp. Giờ đây một công dân bình thường ở bất cứ vị thế công khai nào, hoặc được trao cho bất cứ chức năng xã hội nào, chắc chắn sẽ suy nghĩ và cảm nhận về những nghĩa vụ mà chức năng ấy đặt lên anh ta, đúng như điều mà xã hội suy nghĩ và cảm nhận trong việc ban cho anh ta chức năng này. Những gì mà anh ta nghĩ rằng xã hội kỳ vọng nơi mình, sẽ tạo thành chuẩn mực, anh ta có thể còn chưa vươn tới được chuẩn mực ấy, nhưng không được vượt lên trên nó. Và suy nghĩ mà anh ta chắc hẳn sẽ có đối với việc bỏ phiếu kín, ấy là anh ta không bị bắt buộc phải bỏ lá phiếu của mình với bất cứ sự tham khảo ý kiến nào nơi những người không được phép biết rằng anh ta bỏ phiếu thế nào; nhưng anh ta có thể ban tặng lá phiếu ấy đơn giản là theo ý thích của mình.
Đó là lý do mang tính quyết định giải thích vì sao luận cứ không đứng vững được khi từ việc bỏ phiếu kín tại các câu lạc bộ và các hiệp hội tư nhân để chấp nhận nó cho các cuộc bầu cử nghị viện. Thành viên của một câu lạc bộ – điều mà cử tri lầm tưởng là mình phải như thế – không có nghĩa vụ xem xét nguyện vọng hay lợi ích của bất cứ người nào. Anh ta chẳng tuyên ngôn điều gì bằng lá phiếu của mình ngoài chuyện anh ta bằng lòng hay không bằng lòng liên hợp, theo một cung cách chặt chẽ nhiều hay ít, với một cá nhân riêng biệt. Theo thừa nhận chung thì đấy là chuyện niềm vui hay ý thích riêng của anh ta được quyền quyết định: và rằng anh ta phải có thể được quyết định điều đó mà không có nguy cơ gây ra cãi cọ, chính là điều tốt nhất cho mọi người, bao gồm cả cái người bị loại ra. Một lý do phụ nữa làm cho việc bỏ phiếu kín trở nên không thể phản đối được trong những trường hợp ấy, đó là không cần thiết hay theo lẽ tự nhiên phải dẫn đến việc nói dối. Những người có liên can là cùng một giai cấp hay đẳng cấp, và hẳn sẽ bị xem là không thích đáng nếu một người trong số họ dồn ép người kia với những câu hỏi như là anh ta đã bỏ phiếu thế nào. Trong bầu cử nghị viện thì hoàn toàn khác, và có vẻ sẽ vẫn còn như thế chừng nào mà những quan hệ xã hội sản sinh ra nhu cầu bỏ phiếu kín vẫn tồn tại; chừng nào mà một cá nhân ở vị trí xã hội cao hơn một ai khác để tự cho mình có quyền bắt người khác phải bỏ phiếu như thế nào. Và chừng nào còn đúng là như vậy thì sự nín lặng hay một câu trả lời lảng tránh chắc chắn phải được phân tích như bằng chứng rằng lá phiếu được bỏ không phải là lá phiếu được mong muốn.
Trong bất cứ cuộc bầu cử chính trị nào, ngay như bằng cách phổ thông đầu phiếu (và còn hiển nhiên hơn nữa trong trường hợp bầu cử hạn chế), người đi bỏ phiếu có trách nhiệm đạo đức tuyệt đối phải xem xét lợi ích của công chúng chứ không phải lợi thế riêng tư của anh ta và bỏ lá phiếu theo sự xét đoán tốt nhất của anh ta, thật đúng như là anh ta bị buộc phải làm chuyện đó như thế anh ta là người bỏ phiếu duy nhất và cuộc bầu cử phụ thuộc vào một mình anh ta. Khi thừa nhận điều này thì ít nhất một hệ quả thoạt nhìn đã thấy (prima facie) sẽ là trách nhiệm bỏ phiếu, giống như mọi trách nhiệm công cộng khác, phải được thực hiện dưới sự theo dõi và phê phán của công chúng, mỗi người trong số họ không những chỉ quan tâm tới việc thực hiện mà còn có tư cách đầy đủ để quy kết điều xấu xa cho anh ta nếu anh ta không thực hiện một cách trung thực và thận trọng. Chắc chắn cả châm ngôn này cũng như bất cứ châm ngôn nào khác của đạo đức chính trị đều không phải tuyệt đối không thể vi phạm; nó có thể bị gạt bỏ bởi những xem xét còn có sức thuyết phục nhiều hơn nữa. Thế nhưng sức nặng của nó là thứ mà những trường hợp sai lệch với nó phải có tính cách hết sức ngoại lệ.
Chắc chắn có thể là sự thực, nếu chúng ta công khai mưu tính làm cho người bỏ phiếu phải chịu trách nhiệm về việc này trước công chúng, thì trên thực tế anh ta sẽ bị làm cho phải chịu trách nhiệm về việc đó trước một cá nhân đầy quyền lực nào đấy mà lợi ích của người này còn đối lập nhiều hơn nữa đối với lợi ích chung của cộng đồng so với lợi ích của chính người bỏ phiếu, giả sử như nhờ sự che chắn của tính bí mật mà anh ta được giải thoát hoàn toàn khỏi trách nhiệm. Khi đó là điều kiện ở mức độ cao hơn và đối với phần lớn những người bỏ phiếu, thì việc bỏ phiếu kín có thể là điều xấu nhỏ hơn. Khi những người bỏ phiếu là nô lệ thì họ sẽ chịu đựng mọi thứ giúp được họ có thể quẳng bỏ cái ách đi. Trường hợp rõ rệt nhất cho bỏ phiếu kín là khi quyền lực có hại của Số ít đối với Số đông đang gia tăng. Trong thời kỳ suy thoái của nền cộng hòa La Mã những lý do để bỏ phiếu kín là bất khả kháng. Tập đoàn đầu sỏ hằng năm trở nên giàu có hơn và chuyên chế hơn, dân chúng trở nên nghèo khó hơn và bị phụ thuộc hơn, và cần thiết phải đứng dậy mạnh mẽ hơn, ngăn chặn mạnh mẽ hơn chống lại sự lạm dụng bầu cử như là diễn trò hề với hậu quả chỉ là công cụ trong tay những kẻ vô nguyên tắc. Khó có thể nghi ngờ rằng bỏ phiếu kín, trong chừng mực nó còn tồn tại, có tác động ích lợi trong hiến pháp Athens. Ngay cả khi khối thịnh vượng chung Hy Lạp còn khá ổn định thì nền tự do cũng có thể bị phá hủy trong một thời gian chỉ bởi kết quả của một cuộc bỏ phiếu bình dân không được công bằng; và mặc dù người bỏ phiếu của Athens không quá bị phụ thuộc để đến nổi thường xuyên bị ép buộc vâng lời, nhưng anh ta có thể bị mua chuộc hay bị dọa dẫm bởi sự vi phạm trắng trợn vô pháp luật bởi một nhóm các cá nhân nào đó, chuyện như thế không phải là hiếm ngay cả ở Athens trong giới trẻ và giàu có. Trong những trường hợp đó bỏ phiếu kín đã là một công cụ của trật tự và góp phần sinh ra Eunomia khiến cho Athens nhờ đó mà thành xuất sắc trong khối thịnh vượng thời cổ.
Tuy nhiên, trong những tình trạng tiên tiến hơn của châu Âu hiện đại, và đặc biệt tại đất nước này, quyền lực ép buộc người bỏ phiếu đã và đang tàn tạ; và việc bỏ phiếu tệ hại bây giờ ít phải e ngại từ phía những ảnh hưởng mà người bỏ phiếu phải lệ thuộc vào bàn tay của những người khác hơn là từ phía những lợi ích độc ác và những cảm xúc đáng xấu hổ thuộc về chính bản thân anh ta, hoặc là mang tính cá nhân, hoặc là như thành viên của một giai cấp. Đảm bảo an toàn cho anh ta chống lại cái trước với cái giá phải bỏ đi mọi kiềm chế đối với cái sau hẳn sẽ là đổi một cái xấu nhỏ bé hơn đang giảm đi để lấy về một cái xấu lớn hơn đang gia tăng. Về đề tài này và về vấn đề nói chung để áp dụng cho nước Anh thời hiện tại, tôi đã bày tỏ ý kiến của mình trong một tiểu phẩm về Cải cách Nghị viện mà tôi cảm thấy không thể cải tiến nó hơn nữa, nên tôi xin mạnh dạn chép lại ra đây.
“Ba chục năm trước thì vẫn còn đúng là trong bầu cử các thành viên của nghị viện, cái xấu chủ yếu cần phải đề phòng chống lại là cái mà bỏ phiếu kín sẽ loại trừ được – sự ép buộc bởi các điền chủ, các ông chủ và những người mua hàng. Hiện nay, theo tôi hiểu, một nguồn gốc lớn hơn nhiều của cái xấu ấy là thói ích kỷ, hay tính thiên vị ích kỷ, của chính người bỏ phiếu. Tôi tin rằng việc bỏ phiếu hèn hạ và có hại xảy ra thường xuyên hơn nhiều do lợi ích cá nhân của người bỏ phiếu, hoặc do lợi ích giai cấp, hoặc do cảm nghĩ ti tiện nào đó trong đầu óc của anh ta, nhiều hơn là do nỗi e sợ những hậu quả bởi bàn tay của những kẻ khác, và đối với những ảnh hưởng này thì bỏ phiếu kín hẳn sẽ giúp anh ta dấn thân vào đó mà không phải cảm thấy chút xấu hổ hay trách nhiệm nào.
Vào những thời còn chưa xa xưa lắm, những giai cấp cao hơn và giàu có hơn nắm toàn bộ quyền cai trị. Quyền lực của họ là mối bất bình chủ chốt của đất nước. Tập quán bỏ phiếu theo mệnh lệnh của một ông chủ, hay của điền chủ, được thiết lập thật vững chắc đến nỗi khó có gì khả dĩ lay chuyển nổi, ngoại trừ sự hăng hái của quần chúng hiếm khi được biết đến nếu không vì chính nghĩa. Cho nên, một lá phiếu đối lập với những ảnh hưởng ấy nói chung là lá phiếu trung thực, đầy tinh thần nhân dân; thế nhưng trong bất cứ trường hợp nào và do bất cứ động cơ nào đi nữa, thì hầu như chắc chắn ấy là lá phiếu tốt, vì đó là lá phiếu chống lại cái ác to lớn, chống lại ảnh hưởng thống trị của tập đoàn đầu sỏ. Giả sử như vào thời ấy mà người bỏ phiếu có thể tự do thực thi đặc quyền của mình, thì dẫu họ có không trung thực cũng chẳng thông minh, điều này hẳn sẽ có lợi lớn cho cải cách; vì nó ắt sẽ bẻ gãy cái ách của quyền lực cai trị đất nước hồi đó – cái quyền lực đã tạo ra và duy trì mọi thứ xấu xa trong các thiết chế và trong sự quản lý Nhà nước – quyền lực của bọn điền chủ và bọn thương lái thị thành.
Bỏ phiếu kín đã không được chấp nhận; nhưng sự tiến bộ của các tình huống đã làm, và vẫn đang làm ngày càng nhiều hơn nữa, cái công việc của bỏ phiếu kín. Cả tình trạng chính trị cũng như xã hội của đất nước đối với vấn đề này đều đã thay đổi nhiều, và đang thay đổi từng ngày. Những giai cấp cao hơn giờ đây không còn là chủ nhân của đất nước. Một cá nhân có thể mù lòa trước mọi dấu hiệu của thời cuộc để vẫn còn có thể nghĩ rằng các giai cấp trung lưu như khúm núm quỵ lụy trước giai cấp cao hơn, hoặc các giai cấp cần lao như bị phụ thuộc vào giai cấp cao hơn và trung lưu, giống như họ đã từng như thế một phần tư thế kỷ trước đây. Những sự kiện một phần tư thế kỷ trước đây không những đã dạy cho mỗi giai cấp biết được sức mạnh tập thể của mình, mà còn đưa những cá nhân của một giai cấp thấp hơn vào điều kiện dám đương đầu nhiều hơn trước những người thuộc giai cấp cao hơn. Trong trường hợp chiếm đa số, lá phiếu của các cử tri, dù đối lập hay thuận theo với nguyện vọng của những người cấp trên, hiện nay không còn bị tác động ép buộc, sự ép buộc không còn có phương tiện để áp đặt nữa, nên nó chỉ là biểu hiện tính thiên vị mang tính cá nhân hay chính trị. Chính những chứng tật của hệ thống bầu cử hiện nay là bằng chứng cho điều khẳng định trên. Sự phát triển của hối lộ bị than phiền nhiều đến thế, và sự lây lan rộng ra mãi của nó tới những nơi trước đây không hề có, là bằng chứng cho thấy rằng những ảnh hưởng địa phương không còn là tối thượng nữa; rằng các cử tri giờ đây bỏ phiếu theo sự vui thích của riêng mình chứ không phải vì người khác. Chắc chắn ở các hạt và các thị trấn nhỏ hơn vẫn còn có sự phụ thuộc mang tính nô lệ; thế nhưng tính chất thời buổi hiện nay là bất lợi cho điều này, và sức mạnh của các sự kiện luôn luôn có xu hướng triệt tiêu nó. Một tá điền tốt nay có thể cảm thấy mình cũng có giá trị như vị điền chủ của anh ta, và vị điền chủ cũng giá trị ngang bằng như anh ta; một thương nhân thành đạt có thể cho mình cảm thấy độc lập với bất cứ khách hàng đặc biệt nào. Tại mỗi cuộc bầu cử các lá phiếu ngày càng trở nên là của riêng người bỏ phiếu. Chính đầu óc họ nay cần phải được giải phóng nhiều hơn so với việc giải phóng các hoàn cảnh cá nhân của họ. Họ không còn là công cụ thụ động cho ý chí của những người khác – thuần túy là cơ quan đưa quyền lực vào tay của tập đoàn đầu sỏ đang kiểm soát. Chính bản thân các cử tri đang trở thành tập đoàn đầu sỏ.
Chính xác tỷ lệ theo chuyện lá phiếu của cử tri được xác định bởi ý chí của chính anh ta, và không phải bởi người khác nào đó là ông chủ của anh ta, vị thế của anh ta sẽ tương tự như một thành viên của Nghị viện, và tính công khai là không thể thiếu được. Chừng nào mà bộ phận nào đó của cộng đồng còn chưa được đại diện thì luận cứ của những người theo Chủ nghĩa hiến chương(*) chống lại bỏ phiếu kín kết hợp với quyền bầu cử hạn chế là không thể phản bác được. Những cử tri ngày nay và phần đông những người mà Dự luật Cải cách có thể bổ sung thêm vào số lượng, là thuộc giai cấp trung lưu, và có nhiều lợi ích giai cấp khác biệt với các giai cấp lao động, và cũng giống như các điền chủ hay các nhà công nghiệp lớn. Giả như quyền bầu cử mở rộng ra cho tất cả các thợ lành nghề, ngay cả những người này hẳn là, hay có thể là, vẫn có lợi ích giai cấp khác biệt với những thợ không lành nghề. Giả định như quyền bầu cử mở rộng ra cho tất cả nam giới – giả định rằng đó chính là cái được gắn cho cái tên không đúng là phổ thông đầu phiếu, và nay thì bằng danh hiệu ngớ ngẩn là quyền bầu cử nam giới, sẽ trở thành pháp luật; những người bỏ phiếu vẫn còn có một lợi ích giai cấp thật khác biệt với nữ giới. Giả định rằng có vấn đề đặt ra trước cơ quan Lập pháp tác động riêng đến nữ giới; như là liệu có nên cho phụ nữ được cấp bằng tốt nghiệp Đại học hay không; liệu có nên thay thế những trừng phạt nhẹ nhàng đối với bọn côn đồ đánh đập vợ hàng ngày đến gần chết bằng những hình phạt gì đó có tác động nhiều hơn hay không; hay giả định rằng một ai đó kiến nghị lên Nghị viện nước Anh cái mà hết Bang này tới Bang khác ở nước Mỹ đang ban hành, không phải chỉ như một đạo luật, mà bằng một điều khoản của các Hiến pháp sửa đổi – rằng những phụ nữ đã kết hôn phải được quyền có tài sản riêng. Liệu vợ và các con gái của người đàn ông có quyền biết ông ta bỏ phiếu thuận hay chống đối ứng cử viên ủng hộ cho những kiến nghị đó hay không?
Tất nhiên điều này sẽ bị phản đối lại rằng các luận cứ ấy dẫn ra sức nặng của chúng từ giả định một trạng thái bất công của quyền bầu cử: rằng nếu ý kiến của người không phải là cử tri có vẻ như khiến cho lá phiếu của cử tri được trung thực hơn, hay đem lại lợi ích hơn, so với việc cứ để cho anh ta tự mình bỏ phiếu, vậy thì những người này xứng đáng là cử tri hơn anh ta và phải có quyền bầu cử: rằng bất cứ ai xứng đáng có ảnh hưởng lên cử tri thì cũng xứng đáng được là một cử tri: rằng những người mà người bỏ phiếu phải chịu trách nhiệm trước họ, chính họ phải là cử tri, và như vậy thì họ phải được bảo vệ quyền bỏ phiếu kín để che chắn họ khỏi bị ảnh hưởng không đáng có của những cá nhân hay giai cấp hùng mạnh mà các cử tri không phải chịu trách nhiệm trước những người ấy.
Luận cứ này chỉ có bề ngoài tốt mã, và tôi trước đây đã từng nghĩ nó có sức thuyết phục. Nay thì tôi thấy nó có vẻ trá ngụy. Tất cả những ai thích đáng có ảnh hưởng lên cử tri thì vì lẽ ấy mà chính họ không thích đáng là cử tri. Điều sau này có sức mạnh lớn hơn nhiều so với điều trước. Và người nào không cảm thấy an toàn tin cậy vào người cấp trên thì có thể chỉ đủ trưởng thành để làm chức năng chính trị thứ yếu. Những ý kiến và nguyện vọng của giai cấp nghèo khó nhất và thô thiển nhất trong giới lao động có thể rất hữu ích như là một trong những ảnh hưởng khác tác động lên tâm trí của những người bỏ phiếu cũng như của những người trong cơ quan Lập pháp; và vẫn là rất có hại nếu trao cho họ ảnh hưởng quyền thế lớn bằng việc thừa nhận họ có quyền bầu cử đầy đủ trong trạng thái hiện nay của họ về đạo đức và trí tuệ. Chính là do cái ảnh hưởng gián tiếp ấy của những người còn chưa được quyền bầu cử tác động lên những người có quyền ấy rồi, bởi sự gia tăng không ngừng của nó, làm dịu đi sự chuyển tiếp cho mỗi lần mở rộng thêm quyền bầu cử, và là phương tiện mà nhờ đó, khi thời cơ chín muồi, sự mở rộng sẽ được tiến hành một cách hòa bình. Nhưng có một sự xem xét nữa còn sâu sắc nhiều hơn mà không thể bỏ qua được trong những suy xét chính trị. Cái ý niệm bản thân nó không có cơ sở, ấy là tính công khai và ý nghĩa của việc phải giải trình trước công chúng, sẽ chẳng có ích lợi gì, trừ phi công chúng có đủ tư cách hình thành một sự phán xét vững chắc. Thật là rất nông cạn cái quan điểm về tính hữu ích của công luận với giả định rằng nó chỉ thật tốt khi nó thành công trong việc ép buộc phải uốn theo phục vụ cho bản thân nó. Phải chịu canh chừng bởi những đôi mắt của những người khác – phải bảo vệ mình trước những người khác – không bao giờ là quan trọng hơn việc người ta phải hành động đối lập với ý kiến của những người khác, vì điều này bắt buộc họ phải có cơ sở vững chắc cho ý kiến của mình. Không gì có ảnh hưởng kiên định bằng chuyện làm việc chống lại áp lực. Ngoại trừ khi nào bị thống trị nhất thời bởi một sự kích động cuồng nhiệt, không ai lại làm cái chuyện mà biết trước là sẽ bị khiển trách nếu không có ý đồ mục đích nhất định của riêng mình, mục đích ấy luôn luôn là bằng chứng của một tính cách thâm trầm chín chắn và nói chung thường xuất phát từ niềm tin cá nhân đầy chân thành và mạnh mẽ, ngoại trừ những người tồi tệ về căn bản. Ngay chỉ riêng sự kiện giải trình về cách cư xử của mình đã là lý do thật hùng mạnh để tôn trọng cách cư xử mà ít nhất cũng có phần đoan chính nào đó trong sự giải thích khả dĩ được trình bày. Nếu có ai nghĩ rằng chỉ riêng nghĩa vụ giữ đoan chính không thôi sẽ không phải là sự kiểm chứng thật đáng kể đối với sự lạm quyền, thì người đó đã không bao giờ để tâm chú ý đến cách cư xử của những kẻ không cảm thấy cần thiết phải tuân theo sự kiềm chế ấy. Tính công khai ít cảm nhận thấy được ngay cả khi nó không làm gì hơn là ngăn ngừa cái chuyện mà chẳng thể nào phòng vệ chắc chắn được – ấy là ép buộc phải có sự cân nhắc và bắt mỗi người phải xác quyết trước khi anh ta hành động, anh ta sẽ nói gì khi bị triệu tập để giải trình về những hành vi của mình.
Thế nhưng, nếu chưa phải ngay bây giờ (người ta có thể nói), thì ít nhất cũng từ nay trở đi, khi mà tất cả mọi người đều xứng đáng được có phiếu bầu, và khi tất cả nam giới và nữ giới đều được công nhận có quyền đi bầu vì họ đều xứng đáng; khi ấy thì không còn có nguy cơ lập pháp giai cấp nữa; khi ấy thì các cử tri là cả quốc gia, sẽ không thể có lợi ích tách riêng khỏi lợi ích chung nữa: ngay cả khi các cá nhân vẫn còn bỏ phiếu theo những lý do riêng hay mang tính giai cấp, thì đa số sẽ không có lý do như thế; và vì không có ai không phải là cử tri để họ phải chịu trách nhiệm trước những người như thế, hiệu quả của bỏ phiếu kín không loại trừ gì hết ngoài những ảnh hưởng độc ác, nên về toàn thể sẽ là có lợi.
Thậm chí cả điều này tôi cũng không đồng ý được. Tôi không thể cho rằng bỏ phiếu kín là điều đáng mong muốn, ngay cả nếu như mọi người đều xứng đáng và quyền phổ thông đầu phiếu được thực hiện, Trước hết, trong hoàn cảnh như thế thì bỏ phiếu kín không thể được xem là cần thiết. Chỉ cần chúng ta thử hình dung ra trạng thái sự vật mà giả thuyết này ẩn chứa; một tập hợp dân chúng được giáo dục phổ thông và mỗi con người trưởng thành đều có một phiếu bầu. Nếu ngay cả khi chỉ một tỷ lệ nhỏ là cử tri, còn đa số dân chúng hầu như chưa được giáo dục, thì công luận đã coi quyền lực cai trị như phương sách cuối cùng rồi, chuyện này bây giờ ai cũng thấy như vậy; thì thật là huyễn hoặc nếu giả định rằng một cộng đồng mà ai cũng biết đọc và ai cũng có quyền bỏ phiếu lại bị cai trị bởi các điền chủ và bọn giàu có chống lại ý muốn của dân chúng, mà họ lại gặp khó khăn trong việc lật đổ nền cai trị đó. Thế nhưng dù cho sự bảo hộ chuyện bí mật là không cần thiết, thì việc kiểm soát tính công khai vẫn là cần thiết hơn bao giờ hết. Sự quan sát tổng thể loài người hẳn đã là rất trá ngụy, nếu chỉ riêng sự kiện là một thành viên của một cộng đồng và không ở vị thế đối lập rõ rệt về quyền lợi với công chúng nói chung, là đủ bảo đảm hoàn thành được một nhiệm vụ công cộng mà không cần đến hoặc là sự khuyến khích, hoặc là sự kiềm chế, bắt nguồn từ ý kiến của các đồng loại chúng ta. Phần chia của lợi ích chung dành riêng cho một người, dù cho anh ta có thể không có lợi ích riêng lôi kéo anh ta về phía đối lập, theo quy luật chung thường là không đủ để khiến cho anh ta làm phận sự trước công chúng mà không cần đến những thúc ép ngoại tại khác. Cũng không thể thừa nhận rằng, họ sẽ bỏ lá phiếu thật trung thực như nhau theo cách bỏ kín cũng như bỏ công khai, ngay cả khi mọi người đều có quyền bỏ phiếu.
Giả thiết rằng khi các cử tri bao gồm toàn thể cộng đồng thì họ sẽ không thể có lợi ích khi bỏ phiếu chống lại lợi ích của cộng đồng, trong khảo sát sẽ cho thấy tiếng vang nhiều hơn là ý nghĩa thực trong đó. Dẫu cộng đồng về toàn thể có thể không có lợi ích nào khác hơn là những lợi ích mang tính tập thể của nó (như hàm nghĩa của thuật ngữ), nhưng một cá nhân nào đó hay mỗi cá nhân trong cộng đồng lại có thể có [lợi ích khác]. Lợi ích của một người bao gồm bất cứ thứ gì mà anh ta quan tâm tới. Mỗi người có thật nhiều thứ lợi ích khác nhau giống như có nhiều cảm xúc khác nhau vậy; ưa thích hay không ưa thích, hoặc là thứ vị kỷ hoặc là thứ gì đó tốt đẹp hơn. Không thể nói rằng bất cứ cái gì trong những thứ ấy, xét riêng bản thân nó, cấu thành ‘lợi ích của anh ta’; anh ta là người tốt hay người xấu tùy theo anh ta ưu tiên cho một loại lợi ích này hay loại lợi ích kia của anh ta. Một kẻ là bạo chúa ở nhà sẽ có khuynh hướng thiện cảm với nền chuyên chế (khi không áp dụng vào anh ta): anh ta chắc sẽ không thiện cảm với sự kháng cự lại nền chuyên chế. Một kẻ hay đố kỵ sẽ bỏ phiếu chống lại Aristides vì ông ta được gọi là Công minh(*). Một kẻ vị kỷ ưu tiên cho ngay cả một lợi ích cá nhân nhỏ nhặt chia phần cho mình từ lợi thế mà đất nước thu được từ một luật pháp tốt; rằng những lợi ích riêng biệt cho bản thân là thứ lợi ích mà những thói quen trong đầu óc của anh ta vừa có khuynh hướng chăm chú vào, lại vừa khiến anh ta có khả năng lượng định được tốt nhất. Đại đa số các cử tri sẽ có hai hệ thống ưu tiên – một hệ thống dựa trên cơ sở cá nhân và một hệ thống dựa trên cơ sở công chúng. Hệ thống sau là cái duy nhất mà cử tri mong muốn thừa nhận. Cái mặt tốt trong tính cách của mình là cái mà người ta khao khát phô bày ra, ngay cả trước những người cũng chẳng tốt đẹp gì hơn họ. Người ta sẽ bỏ lá phiếu không trung thực hay tầm thường vì lợi lộc, vì ác tâm, vì oán giận, vì kình địch cá nhân, thậm chí còn vì những lợi ích hay thành kiến giai cấp hay bè phái. Và có những trường hợp – có thể sắp trở thành thường xuyên hơn – hầu như chỉ vì bị đa số bọn bất lương ngăn cản mà khiến cho ý kiến của một thiểu số trung thực vô tình không được tôn trọng. Trong trường hợp như thế của những Bang ở Bắc Mỹ không chịu thừa nhận, thì liệu đó chẳng phải là một sự kiểm tra đối với kẻ bỏ phiếu vô nguyên tắc trong nỗi nhục nhã phải nhìn vào mặt một người trung thực hay sao? Vì tất cả điều tốt ấy sẽ phải bị hy sinh cho việc bỏ phiếu kín, ngay cả trong những tình huống thuận lợi nhất cho việc bỏ phiếu kín, nên cần có những lý do mạnh mẽ hơn nữa để chứng minh sự cần thiết của nó hơn là những lý do đã nêu ra trước nay, nhất là khi những lý do này ngày càng mất đi sức nặng(*).”
Về những điểm đáng tranh cãi khác liên quan đến kiểu cách bỏ phiếu không cần phải mở rộng ra nhiều lời đến thế. Hệ thống đại diện cá nhân, như được ông Hare trình bày, trả lại sự cần thiết cho việc sử dụng lá phiếu bầu. Thế nhưng, tôi thấy có lẽ rằng nhất thiết chữ ký của cử tri phải được thêm vào hồ sơ tại nơi bỏ phiếu công khai, hoặc nếu một nơi như thế không thuận tiện để có được, thì tại một công sở nào đó mở ngỏ cho khắp thiên hạ, và có sự hiện diện của một viên chức nhà nước có trách nhiệm. Một kiến nghị đã được phát ra về việc cho phép lá phiếu được điền vào tại nhà ở của người bỏ phiếu và gửi đi bằng bưu điện hay được một viên chức nhà nước tới thu lấy, tôi cho đó là chuyện cực kỳ tai hại. Hành vi được thực hiện thiếu vắng tính bổ ích và có đầy đủ mọi ảnh hưởng có hại. Kẻ đưa hối lộ ẩn náu trong tính riêng tư tha hồ thương lượng trả giá, và kẻ hăm dọa có thể nhìn thấy cái sự tuân phục được ép nặn ra ngay tại chỗ không thể vãn hồi được; trong khi ấy thì ảnh hưởng đối lập có lợi do sự hiện diện của những người biết rõ những cảm xúc thực của người bỏ phiếu, và hiệu quả truyền cảm hứng do thiện cảm của những người cùng phe hay cùng ý kiến lại bị cấm cửa không cho vào(*).
Nơi bỏ phiếu phải thật nhiều để mỗi cử tri đều dễ dàng tới được; và không được có chi phí xe cộ bắt ứng cử viên phải trả với bất cứ lý do nào. Những người kém sức khỏe, nếu có giấy chứng nhận y tế, phải được quyền yêu cầu xe cộ chuyên chở, chi phí do Nhà nước hay địa phương trả. Nơi tấn phong nghị sĩ, các nhân viên bầu cử và toàn bộ bộ máy cần thiết cho bầu cử là thuộc trách nhiệm công cộng gánh vác. Không những ứng cử viên không bị đòi hỏi phải chi trả, anh ta phải không được phép gánh vác chi phí cho việc bầu cử, ngoài một khoản lệ phí giới hạn và không đáng kể. ông Hare cho rằng điều đáng mong muốn là đòi hỏi một số tiền khoảng 50 bảng đối với mỗi người ghi tên mình vào danh sách ứng cử nhằm ngăn ngừa những người không có cơ may thành công nào và cũng chẳng có ý định thật sự toan tính chuyện này, để họ khỏi trở thành ứng viên một cách bừa bãi chỉ vì muốn được nổi tiếng và có thể lấy đi vài lá phiếu cần thiết cho sự đắc cử của những người mong muốn nghiêm chỉnh. Có một thứ phí tổn mà một ứng cử viên hay những người ủng hộ anh ta không thể giúp gánh chịu được và cũng khó có thể mong để quỹ công chi trả cho bất cứ ai quyết định yêu cầu; ấy là quảng bá những yêu sách của anh ta cho các cử tri biết bằng các quảng cáo, biểu ngữ và thông báo. Mọi chi phí cần thiết kiểu này phải tính đủ vào 50 bảng mà ông Hare đề nghị, nếu khoản tiền đó được phép dùng vào những mục đích này (nó có thể là 100 bảng nếu cần thiết). Nếu các bạn bè của ứng cử viên muốn chi trả cho các ủy ban và ban vận động bầu cử thì chẳng có cách gì ngăn cản họ được; thế nhưng chi phí như thế nếu lấy từ tiền riêng của ứng cử viên hay mọi chi phí nào vượt quá 50 bảng (hay 100 bảng) đều phải coi là phi pháp và bị trừng phạt. Nếu có dấu hiệu cho thấy có dư luận phản dối sự dối trá thì phải đòi hỏi mỗi nghị sĩ đắc cử tuyên thệ hay lấy danh dự đảm bảo rằng anh ta đã không chi trả hay đã mưu toan chi trả vượt quá số tiền 50 bảng bằng tiền hay bằng thứ có trị giá tiền, dù trực tiếp hay gián tiếp, cho những mục đích bầu cử của mình; và nếu điều khẳng định bị chứng tỏ là dối trá hay lời cam kết đã bị vi phạm thì anh ta phải chịu trách nhiệm pháp lý bị trừng phạt về tội khai man. Rất có thể những trừng phạt ấy chứng tỏ nền Lập pháp là việc nghiêm chỉnh, rồi sẽ xoay chuyển dư luận về cùng hướng đó và sẽ khiến cho dư luận không còn coi cái tội ác nghiêm trọng nhất chống lại xã hội này là thứ lỗi lầm nhỏ có thể tha thứ được, như cho đến nay nó vẫn làm như vậy. Một khi cái hiệu quả này được sản sinh ra thì chắc chắn việc tuyên thệ hay lời nói danh dự ắt sẽ được coi là điều bắt buộc(*). “Dư luận khoan dung cho một sự chối bỏ sai sự thật chỉ khi nào nó khoan dung cho sự việc bị chối bỏ.” Hiển nhiên đây chính là trường hợp đối với sự tham nhũng trong bầu cử. Trong các chính trị gia vẫn chưa hề có được bất cứ nỗ lực nào thực sự và nghiêm chỉnh để ngăn chặn nạn hối lộ, bởi vì không có được sự mong muốn thật sự rằng các cuộc bầu cử phải không tốn kém. Sự tốn kém của các cuộc bầu cử là một lợi thế cho những kẻ có khả năng chịu tốn kém bằng cách loại trừ vô số những người cạnh tranh; và bất cứ thứ gì, dù độc hại đến đâu, đều được hoan nghênh như là có một xu hướng bảo thủ, nếu nó hạn chế cánh cửa vào Nghị viện ưu tiên cho người giàu. Đây là một tình cảm đã ăn sâu vào trong lòng các nhà lập pháp của cả hai đảng, và hầu như đó là điểm duy nhất mà tôi tin rằng họ quả thực có chủ tâm xấu. Họ tương đối ít quan tâm đến việc ai bỏ phiếu chừng nào mà họ cảm thấy chắc chắn rằng, không có ai ngoài những người thuộc giai cấp của bản thân họ là có thể được bỏ phiếu cho. Họ biết rằng họ có thể tin cậy vào sự thông cảm lẫn nhau của những người thuộc giai cấp của bản thân họ, trong khi sự quỵ lụy của bọn giàu có mới nổi (nouveaux enrichis) đang gõ cửa của giai cấp để xin vào vẫn là sự tin cậy còn chắc chắn hơn; và rằng không có gì quá thù địch đối với lợi ích giai cấp hay đối với cảm tình của người giàu, cần phải e sợ trong quyền bầu cử mang tính dân chủ nhất, chừng nào mà những con người dân chủ có thể bị ngăn cản không cho được đắc cử vào Nghị viện. Thế nhưng ngay cả xét theo quan điểm riêng của họ, thì cái việc cân bằng dùng cái xấu để trị cái xấu ấy, thay vì cái tốt kết hợp cùng với cái tốt, vẫn là một chính sách thảm hại. Mục đích phải là cùng đưa các thành viên tốt nhất của cả hai giai cấp vào trong sự hưởng dụng như thế nào đó để dẫn dụ họ bỏ các ưu tiên giai cấp của mình sang một bên và cùng theo đuổi con đường vạch ra bởi lợi ích chung; thay vì cho phép những cảm tình của Số đông giáng quả đấm xuống các cử tri bị lệ thuộc vào sự ngăn trở phải hành động thông qua những người thấm nhuần tình cảm giai cấp của Số ít.
Chắc không có kiểu cách nào mà các thiết chế chính trị lại có tác hại nhiều hơn về mặt đạo đức – gây ra cái xấu lớn hơn thông qua tinh thần của các thiết chế ấy – là bằng cách diễn tả các chức năng chính trị như một ân huệ được ban phát, như một thứ mà nếu ai muốn thì phải hỏi xin thủ kho, thậm chí phải trả tiền nếu thứ ấy được trù tính cho lợi ích riêng biệt của anh ta. Người ta chẳng ai ưa thích trả những số tiền lớn để được phép hoàn thành một nhiệm vụ khó nhọc. Plato đã có một quan điểm đúng đắn hơn nhiều về những điều kiện cho sự cai trị tốt, khi ông khẳng định, rằng những người được tìm kiếm để trao cho quyền lực chính trị, ấy đích thị là những người không muốn nhận nó nhiều nhất, và rằng cái động cơ duy nhất khả dĩ dựa vào được để thuyết phục những người thích đáng nhất chịu nhận lấy sự trói buộc của việc cai trị, ấy là nỗi e ngại sẽ bị cai trị bởi những người xấu xa. Một cử tri phải nghĩ gì, khi anh ta nhìn thấy ba hay bốn quý ông mà trước đây chưa từng thấy có vị nào chi tiền rộng rãi cho những dự án không đem lại lợi ích riêng, nay lại ganh đua nhau trong việc chi tiền để có thể viết danh hiệu Nghị sĩ vào sau tên mình? Liệu anh ta có cho rằng ấy là vì lợi ích của anh ta mà các vị ấy cam chịu tất cả những chi phí ấy? Và nếu anh ta hình thành một ý kiến không mấy có tính ngợi ca về phần các vị đó trong sự việc, thì liệu anh ta sẽ cảm thấy nghĩa vụ đạo đức gì về phần mình? Các chính khách thường ưa xem chuyện cơ quan dân bầu ra có khi nào được trong sạch không tham nhũng, như là sự mơ mộng của những người nhiệt tình: khá đúng cho tới khi nào tự họ vẫn muốn trở thành như vậy, vì các cử tri chắc chắn sẽ nhiễm theo cái phong thái đạo đức từ phía các ứng cử viên. Chừng nào mà đại biểu được bầu ra, dưới bất cứ hình thức nào, trả tiền cho cái ghế của mình, thì mọi nổ lực để làm cho công việc bầu cử không thành một cuộc thỏa thuận mua bán vụ lợi từ mọi phía đều sẽ thất bại. “Chừng nào mà bản thân ứng cử viên và các tục lệ của thế giới còn có vẻ như xem chức năng của thành viên Nghị viện là một ân huệ cá nhân phải nài xin hơn là một trách nhiệm phải thi hành, thì chẳng nỗ lực nào giúp khắc sâu được vào một người bỏ phiếu bình thường cái cảm giác rằng bỏ phiếu bầu ra một thành viên Nghị viện cũng là chuyện của trách nhiệm, và rằng anh ta không được tự đo ban phát lá phiếu của mình vì lý do nào khác hơn là sự xứng đáng tư cách.”
Cũng cái nguyên tắc ấy, nguyên tắc yêu cầu không trả tiền cho các mục đích bầu cử phải được hoặc là đòi hỏi, hoặc là chịu đựng đối với người được bầu ra, bức chế thêm một kết luận nữa có bề ngoài tựa như theo chiều hướng ngược lại, nhưng thực ra bức chế về cùng một mục tiêu. Kết luận này phủ định cái điều vẫn thường được đề nghị như một phương tiện mở cửa Nghị viện cho những người thuộc mọi đẳng cấp và hoàn cảnh; ấy là việc chi trả cho các thành viên Nghị viện. Nếu, như ở một số thuộc địa của chúng ta, khó có ai đó xứng đáng với công việc mà lại chịu làm không công, thì việc trả công phải là một đền bù cho sự hao tốn thời gian hay tiền bạc, chứ không phải tiền lương. Phạm vi lựa chọn rộng rãi hơn mà tiền lương có thể đem lại, là một lợi thế hão huyền. Không tiền thù lao nào mà bất cứ ai cho rằng gắn với chức vụ, lại có thể hấp dẫn những người đam mê những nghề nghiệp sinh lợi khác với triển vọng thành đạt ở đó. Vậy thì công việc của một thành viên Nghị viện bản thân nó phải trở thành một nghề nghiệp; việc hành nghề, cũng giống như những nghề nghiệp khác, chủ yếu nhắm tới sự đền đáp lại bằng tiền bạc và chịu những ảnh hưởng phá hoại đạo đức của một công việc thực chất mang tính tạm thời. Nó hẳn sẽ trở thành mục tiêu mong muốn của những kẻ phiêu lưu thuộc tầng lớp dưới; và 658 người có quyền sở hữu cùng với số người mong ngóng đạt được nhiều gấp mười hay hai mươi lần con số đó hẳn sẽ không ngừng buộc phải lôi cuốn hay giữ được những lá phiếu bầu của cử tri bằng cách hứa hẹn đủ thứ, trung thực hay không trung thực, những điều khả thi hay bất khả thi, và ganh đua nhau thỏa mãn những cảm xúc hèn hạ nhất và những thành kiến ngu dốt nhất của bộ phận thô thiển nhất trong đám đông. Cuộc bán đấu giá giữa Cleon và gã bán xúc xích trong [hài kịch của] Aristophanes(*) là một bức tranh biếm họa thật đúng về những gì lúc nào cũng xảy ra được. Một thiết chế như vậy ắt sẽ là một vết bỏng rộp suốt đời hằn trên bộ phận tội lỗi nhất của bản chất con người. Chẳng khác gì treo 658 giải thưởng cho kẻ xu nịnh thành công nhất, cho kẻ lừa dối lẻo mép nhất trong những đồng bào của hắn. Chưa từng thấy chế độ chuyên chế nào lại có một hệ thống được tổ chức như thế để vun trồng nên một vụ mùa bội thu những kẻ nịnh thần xấu xa.(*) Khi vì lý do có khả năng hơn hẳn (như là trường hợp có thể xảy ra bất cứ lúc nào) thì đáng mong muốn là cái người hoàn toàn không có phương tiện độc lập có xuất xứ hoặc từ tài sản, hoặc do buôn bán hay có nghề nghiệp, phải được đưa vào Nghị viện phục vụ công việc mà không ai khác khả dĩ tiếp cận được lại có khả năng làm tốt bằng, việc này trông mong vào sự quyên góp công chúng; anh ta có thể được cấp dưỡng trong lúc làm ở Nghị viện, giống như Andrew Marvell, bởi các đóng góp của các cử tri bầu anh ta. Kiểu cách như thế là không thể chê trách được vì một vinh dự như vậy sẽ không bao giờ tưởng thưởng cho chỉ riêng sự khúm núm: các đoàn thể chẳng quan tâm nhiều đến thế đối với sự khác biệt giữa kẻ nịnh hót này và kẻ nịnh hót khác trong việc chi phí cho việc duy trì kẻ đó để được nịnh hót bởi một cá nhân đặc biệt ấy. Sự ủng hộ như thế sẽ chỉ dành cho khi xem xét những phẩm chất cá nhân nổi bật và gây ấn tượng, dẫu cho không có chứng minh tuyệt đối rằng những phẩm chất ấy thích đáng để làm đại biểu quốc hội, nhưng là một sự phỏng đoán nào đó về sự thích đáng ấy, trong bất kỳ trường hợp nào thì vẫn có một đảm bảo nào đấy về việc có ý kiến và ý chí độc lập.
Nguyên tác: Representative government, John Stuart Mill.
Bản dịch: NXB Tri Thức, Nguyễn Văn Trọng và Bùi Văn Nam Sơn dịch, giới thiệu và chú thích.
