Luận về triết học logic (Mệnh đề 3.0 - 3.13)
Các mệnh đề:
3 Một bức tranh logic về các sự thực là một ý nghĩ.
3.001 ‘một tình tiết là thứ có khả năng nghĩ đến’: phát biểu này nghĩa là, chúng ta có thể hình dung ra nó.
3.01 Tổng thể các ý nghĩ đúng là một bức tranh về Thế giới.
3.02 Một ý nghĩ chứa đựng khả năng của trạng thái sự việc được nghĩ đến. Cái có thể nghĩ đến được cũng là cái khả thể.
3.03 Ta không thể nghĩ đến được cái gì phi logic, vì nếu không như vậy, ta sẽ phải nghĩ một cách phi logic.
3.031 Ai đó đã từng nói rằng Chúa Trời tạo ra mọi thứ ngoại trừ những thứ trái ngược với các qui luật logic. Sự thật là chúng ta không thể nói được về một thế giới ‘phi logic’ trông như thế nào.
3.032 Trình bày bằng ngôn ngữ bất kỳ cái gì ‘trái ngược với logic’ là điều bất khả, giống như yêu cầu biểu diễn trong hệ toạ độ hình học một hình trái ngược với các qui luật về không gian hình học, hoặc yêu cầu đưa ra toạ độ của một điểm không tồn tại.
3.0321 Mặc dù chúng ta có thể biểu diễn trong không gian hình học một tình tiết mâu thuẫn với các qui luật vật lý, nhưng không thể biểu diễn được một tình tiết mâu thuẫn với các qui luật hình học.
3.04 Nếu có một ý nghĩ đúng tiên nghiệm, thì đó phải là một ý nghĩ mà khả năng tồn tại của nó đã bảo đảm tính đúng của nó rồi.
3.05 Ta chỉ có thể biết tiên nghiệm một ý nghĩ là đúng khi tính đúng của nó đã được ta nhận ra từ chính bản thân ý nghĩ đó rồi (mà không cần phải so sánh với bất kỳ cái nào khác).
3.1 Ở trong mệnh đề, ý nghĩ tìm thấy cách biểu đạt để có thể lĩnh hội được bằng các giác quan.
3.11 Chúng ta sử dụng kí hiệu mệnh đề - cái kí hiệu mà có thể lĩnh hội được qua các giác quan (dạng âm thanh hoặc dạng chữ viết, vv…) - theo cách giống như là một bài trình chiếu về một trạng thái sự việc khả thể.
Phương thức trình chiếu là sự suy tưởng về nghĩa của mệnh đề.
3.12 Tôi gọi kí hiệu chúng ta dùng để biểu đạt một ý nghĩ là một kí hiệu mệnh đề. – Và một mệnh đề chính là một kí hiệu mệnh đề trong mối quan hệ trình chiếu của nó với Thế giới.
3.13 Một mệnh đề bao gồm mọi thứ thuộc bài trình chiếu, ngoại trừ cái được trình chiếu.
Do đó, mặc dù bản thân cái được trình chiếu không thuộc mệnh đề, nhưng khả năng tồn tại của nó vẫn thuộc mệnh đề.
Do đó, một mệnh đề không hề chứa đựng nghĩa của nó, mà chứa đựng khả năng biểu đạt nghĩa của nó.
(Nói “Nội dung của một mệnh đề” có nghĩa là nói về nội dung của một mệnh đề có nghĩa.)
Một mệnh đề chứa đựng dạng thức của nghĩa của nó, không chứa đựng nội dung của nghĩa của nó.
Mệnh đề 3 đến mệnh đề 3.05
Đây là những mệnh đề chuyển tiếp kết nối giữa cái được biểu hiện bằng bức tranh (tức thực tại) và cái chúng ta biết, cái có thể nghĩ đến (khả năng của chúng ta biết về thực tại).
Mệnh đề 3 có nghĩa là một bức tranh logic như các bức tranh ở Hình A4 chính là một ý nghĩ. Lưu ý là chỉ phần dạng thức logic của bức tranh mới thuộc về ý nghĩ, mới nằm trong trong tâm trí của chúng ta. Tức là, các dạng thức khác của bức tranh như dạng thức không gian trong bức tranh không gian, dạng thức thời gian trong bức tranh thời gian, dạng thức màu sắc trong bức tranh màu sắc, dạng thức vật lý trong bức tranh vật lý v.v. không thể chui vào trong đầu chúng ta được.
Wittgenstein khẳng định, một tình tiết của sự thực là thứ ta có thể nghĩ đến được, và cái hiện ra trong đầu chúng ta sẽ là một bức tranh logic, tái hiện các đối tượng của tình tiết trong dạng thức logic /cấu trúc logic, đồng nhất với cấu trúc của tình tiết (Mệnh đề 3.001). Chẳng hạn, khi ta nghĩ đến tình tiết “cậu bé ôm con gà” thì điều này hàm ý rằng trong đầu chúng ta hiện lên hình ảnh “cậu bé ôm con gà” (Hình A5).

Hình A5: nghĩ về thực tại và biểu đạt ý nghĩ dưới dạng mệnh đề
Mệnh đề 3.01 khẳng định khi chúng ta có tổng thể các ý nghĩ đúng về các sự thực trong thế giới, thì tổng thể những ý nghĩ đó sẽ tạo thành một mô hình “hoàn chỉnh” về thế giới. Bức tranh đó bao gồm những bức tranh logic tương đồng với thực tại, phản ánh đúng những tính tiết có thể tồn tại và những tình tiết không thể tồn tại (như Hình A3) và cả những hình dung đúng tiên nghiệm nữa (như chỉ ra trong Mệnh đề 3.04). Tổng thể những ý nghĩ đúng do đó sẽ là tổng thể những hình dung về các sự thực trong không gian logic, và do đó mô tả “trọn vẹn” thế giới.
Chúng ta chỉ có thể nghĩ đến được những trạng thái khả thể, tức chỉ bao gồm những tình tiết có thể tồn tại và những tình tiết không thể tồn tại, tức chỉ những thứ mà chúng ta có thể hình dung ra được dưới dạng bức tranh (Mệnh đề 3.02).
Chúng ta không thể nghĩ đến, không thể nói về những thứ phi logic, tức những thứ không thể tồn tại trong không gian logic (Mệnh đề 3.03); chẳng hạn, chúng ta không thể nghĩ đến được những thứ mà có chi tiết nối điểm 5 với điểm 7 hay điểm 3 với điểm 7 trong Hình A3, bởi vì đó là những chi tiết không thể tồn tại trong không gian logic. Minh hoạ trực quan hơn, ta không thể nghĩ đến “một hình vừa vuông vừa tròn” trong không gian hình học khi ta đã có khái niệm “hình vuông” và “hình tròn”. Nếu ta cố gắng làm vậy là ta đang cố gắng suy nghĩ một cách phi logic, suy nghĩ về những thứ chắc chắn không thể xảy ra, không thể tồn tại trong thực tại.
Mệnh đề 3.04 và Mệnh đề 3.05 đưa vào khái niệm “ý nghĩ đúng tiên nghiệm” hay “tri thức đúng tiên nghiệm”. Chú ý Mệnh đề 3.04 được viết ở thể giả định “nếu có một ý nghĩ đúng tiên nghiệm...”. Thể giả định này nhằm nêu ra điều kiện để có một ý nghĩ đúng tiên nghiệm: tính đúng của nó phải nằm trong khả năng tồn tại của nó. Và nếu ta chú ý đến Mệnh đề 2.225 khẳng định “không tồn tại bức tranh đúng tiên nghiệm”, tức là không tồn tại một bức tranh logic đúng tiên nghiệm, thì ta suy ra rằng khái niệm ý nghĩ bao gồm (i) những ý nghĩ đúng hậu nghiệm, tức những bức tranh logic về các sự thực, những thứ mà chúng ta chỉ biết được tính đúng sai của chúng qua so sánh với thực tại; và (ii) những ý nghĩ đúng tiên nghiệm, tức những thứ mà tính đúng của chúng đã nằm trong khả năng tồn tại của nó. Chẳng hạn ý nghĩ “trời mưa hoặc không mưa” là một ý nghĩ đúng tiên nghiệm vì tính đúng này đã nằm trong khả năng tồn tại của ý nghĩ này rồi và chúng ta có thể nhận biết ngay được điều này từ chính bản thân ý nghĩ đó mà không cần phải so sánh với cái gì khác.
Chú thích dịch thuật
thought==ý nghĩ.
true thought==ý nghĩ đúng.
a priori true thought==ý nghĩ đúng tiên nghiệm.
thinkable==có khả năng nghĩ đến.
imagine==hình dung.
unlogical==illogical==phi logic.
contradict==mâu thuẫn.
know apriori==a priori knowledge==biết tiên nghiệm.
Mệnh đề 3.1 đến mệnh đề 3.12
Wittgenstein đưa vào khái niệm mệnh đề. Khi tôi nghĩ về trạng thái khả thể của thế giới, và để biểu đạt ý nghĩ đó, tôi cần một mệnh đề. Mệnh đề là phương thức để ý nghĩ biểu đạt ra ngoài (dưới dạng chữ viết, âm thanh v.v.) để chúng ta có thể tiếp nhận hay lĩnh hội được bằng các giác quan (ngũ quan: thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, và xúc giác) (Mệnh đề 3.1). Hay nói cách khác mệnh đề là phương thức sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt các suy nghĩ, hiểu biết của chúng ta về thế giới.
Trong mệnh đề 3.1, Wittgenstein sử dụng “in the/a proposition” với hàm ý là mệnh đề không phải là cái vỏ đề ý nghĩ truyền qua mà nó là nơi mà ý nghĩ tìm thấy sự biểu đạt. Nói cách khác, ý nghĩ hiện diện chính trong mệnh đề/ngôn ngữ rồi.
Chúng ta cần phân biệt giữa mệnh đề và kí hiệu mệnh đề. Kí hiệu là khía cạnh vật lý thuần tuý của ngôn ngữ, có thể dưới dạng âm thanh hoặc dưới dạng bức tranh hoặc dưới dạng kí tự c-ậ-u b-é ô-m g-à. Nó là một tập hợp các chi tiết vật lý mà bản thân nó chưa mang ý nghĩa gì về thế giới.
Trong khi đó mệnh đề là kí hiệu mệnh đề khi nó được chúng ta đặt vào một mối quan hệ trình chiếu (projective relation) với thế giới; nó đòi hỏi chúng ta phải suy tưởng, sử dụng một số quy tắc, để gán ý nghĩa cho tập hợp các kí hiệu vật lý đó (Mệnh đề 3.11 và 3.12); chẳng hạn như cách chúng ta để gán ý nghĩa cho tập hợp các kí tự c-ậ-u b-é ô-m c-o-n g-à là trạng thái “cậu bé ôm gà” như những bức tranh minh hoạ ở Hình A4.
Chú thích dịch thuật
proposition==mệnh đề.
sign==kí hiệu.
sensibly perceptible sign==perceptible sign==kí hiệu mà có thể lĩnh hội được qua các giác quan.
express==biểu đạt.
perceptibly==perceived==lĩnh hội.
the senses==các giác quan.
the sign of the proposition == the sign of a propostion==propositional sign==kí hiệu mệnh đề.
projection==bài trình chiếu. Dùng từ “bài” ở đây để thể hiện đây là một quá trình, tương tự như cách chúng ta nói “bài trình bày của bạn rất hay”.
the method of projection==Phương thức trình chiếu. Dùng “phương thức” theo nghĩa tập hợp các cách thức khác nhau để đạt được cùng mục đích.
projective relation==mối quan hệ trình chiếu.
thinking of==to think of == sự suy tưởng.
Mệnh đề 3.13
Mệnh đề này có nghĩa là tất cả những gì cần thiết để mệnh đề có thể "chiếu" một trạng thái sự vật đều là một phần của mệnh đề đó. Những yếu tố này bao gồm: (i) các phần tử của mệnh đề, (ii) cách các phần tử trong mệnh đề được sắp xếp, và (iii) phương thức chiếu (method of projection), tức các quy tắc/quy ước mà chúng ta sử dụng để hiểu và liên hệ mệnh đề với thế giới. Chẳng hạn mệnh đề “cậu bé ôm gà” bao gồm tất cả các kí tự c-ậ-u b-é ô-m c-o-n g-à, cách các kí tự đó kết hợp với nhau, và cả các quy ước chúng ta dùng để liên hệ các kí tự đó trong cấu trúc đó với trạng thái thực tại.
Tuy nhiên, mệnh đề lại không bao gồm “điều được trình chiếu”, tức bản thân trạng thái sự vật trong thế giới lại không phải là một cấu phần của mệnh đề. Mệnh đề chỉ bao gồm khả năng tồn tại của trạng thái sự vật đó mà thôi. Như ví dụ trên, mệnh đề “cậu bé ôm gà” chứa trong nó khả năng tồn tại của trạng thái “cậu bé ôm gà”, nhưng bản thân sự việc có một cậu bé nào đó có ôm hay không ôm con gà nào đó ở trong thế giới thực có diễn ra hay không không thuộc về mệnh đề này; sự việc đó tồn tại độc lập với mệnh đề.
Một mệnh đề cũng không tự động mang theo ý nghĩa của nó, nó chỉ chứa đựng khả năng biểu đạt ý nghĩa của nó (tức chứa đựng hình thức của ý nghĩa của nó, chứ không phải nội dung của ý nghĩa của nó). Chuỗi ký tự c-ậ-u b-é ô-m c-o-n g-à chỉ là những nét mực trên giấy, không tự động mang ý nghĩa gì. Nhưng nó lại chứa khả năng mang nghĩa “cậu bé ôm gà” hay nghĩa “vinh hoa” v.v.
Nói tóm lại, mệnh đề chứa đựng tất cả các yếu tố cần thiết cho khả năng biểu đạt của nó (cấu trúc, các kí hiệu, phương thức chiếu), nhưng nó không bao gồm bản thân thực tại, không chứa đựng ý nghĩa mà nó biểu đạt. Nó chỉ là một mô hình, một bức tranh về thực tại, chứ không phải chính thực tại đó.
Chú thích dịch thuật
content==nội dung.
content of its sense==nội dung của ý nghĩa của nó.
form of its sense==hình thức của ý nghĩa của nó.
significant proposition==a proposition that has sense==mệnh đề có ý nghĩa.
contain==chứa đựng.
is not yet contained==does not actually contain==không hề chứa đựng.
A belongs to B== A is included B == A thuộc B; B bao gồm A.
A means B== A có nghĩa là B.
Nguyên tác: Tractatus-Logico Philosophicus, Ludwig Wittgenstein
Nguồn: Luận về triết học logic, Đinh Tuấn Minh dịch và chú thích. (Bản thảo v1).
