[VIDEO] Tri thức và thực tại

[VIDEO] Tri thức và thực tại

Đây là một loạt năm bài bài giảng về Tri Thức Luận: lý thuyết về tri thức và cuốn sách của tôi, “How we know”, là tài liệu cho khoá học này. Nhưng các buổi học không phải là phần tóm tắt nội dung sách, mà cũng không chỉ gói gọn trong nội dung cuốn sách. Tuy vậy, tôi muốn trích dẫn đoạn mở đầu của phần lời tựa, bởi vì nó rất hùng hồn, trong khi tôi không muốn cố nghĩ ra một đoạn mở đầu hùng hồn như vậy thêm lần nữa. Một lần là quá đủ.

“Loài người đã tồn tại được bốn trăm ngàn năm nhưng trong số đó, hết ba trăm chín mươi lăm ngàn năm chìm đắm trong thời kì Đồ Đá. Nhân tố giải phóng con người thoát khỏi những công việc cực nhọc bất tận và cái chết yểu, nguyên nhân cơ bản cho sự hiện hữu với mức tiến hoá bậc cao mà ngày này chúng ta xem là hiển nhiên, chính là do một giá trị quý báu: tri thức. Tri thức có được sau nhiều đau thương về cách làm chủ tự nhiên, tổ chức xã hội, và để con người hiểu được chính mình, đã khiến chúng ta từ hang động vươn lên toà nhà chọc trời, từ những thị tộc mâu thuẫn, đánh nhau liên miên cho đến nền kinh tế toàn cầu, từ tuổi thọ trung bình chưa tới 30 năm tới bây giờ xấp xỉ 80.”

Vậy để cho quý vị một tí ý niệm về tầm quan trọng của điều mà chúng ta đang bàn luận, đường thẳng này thể hiện chiều dài bốn trăm ngàn năm, và đoạn ngắn phía cuối mà tôi chỉ bằng mũi tên chính là thời kì văn minh, thời kì tiền đồ đá, rồi thời kì đồ đồng, tới thời kì đồ sắt...nó đi ngược về tới thời kì sáng lập nên nền văn minh Sumeria1 ở Ai Cập cổ đại cách đây ba ngàn năm. Vậy quý vị thấy đó, chỉ một phần cực kì, cực kì nhỏ trong lịch sử nhân loại được khai hoá, có được kiến thức cần thiết để đạt được độ văn minh trong sự tồn tại của mình, kể cả khi quý vị có tính Ai Cập cổ đại trong đó luôn.

Chúng ta có được tri thức bằng cách nào? Tại sao lại mất chừng ấy thời gian? Sở dĩ mất thời gian lâu như vậy là vì con người vốn không có tí kiến thức nào để từ đó phát triển. Họ bắt đầu từ con số không và tri thức thì phải được xây dựng từ tri thức, và con người thời đó thì không biết làm sao để đạt được tri thức. Cho nên các buổi học này sẽ hướng đến điểm mấu chốt là: chúng ta học hỏi như thế nào? Chúng ta gặt đạt được tri thức bằng cách gì? Tất cả đều là Tri Thức Luận đấy.

Những yếu tố từ thực tế nào đã khơi dậy nhu cầu cho khoa học Tri thức luận? Tôi muốn chia sẻ với quý vị một câu chuyện nhỏ của chính mình khi tôi lên 4 tuổi. Khi đang rửa tay, đầu tôi chợt loé lên một ý tưởng sửng sốt, cảm giác như một sự giác ngộ: nếu lau khô tay khi vẫn còn dính xà phòng, bạn sẽ không bao giờ bị cảm. Ý tưởng này bừng lên trong tôi với một sự chắc chắn mù quáng. Tôi chạy đi tìm mẹ để kể cho bà nghe về phát hiện vĩ đại của mình. Tôi không nhớ bà đã nói gì, nhưng bằng vẻ buồn cười một cách tử tế, bà nhẹ nhàng bảo rằng có thể hiệu quả thực tế sẽ không được như vậy.

Tôi không biết niềm tin đó còn đứng vững nữa hay không nhưng bất cứ mẹ tôi đã nói gì thì tôi vẫn nhớ rằng đó là lần đầu tiên tôi hiểu ra rằng: suy nghĩ đơn giản là một điều gì đó có đúng đắn cỡ nào thì vẫn không có nghĩa là nó đúng thật. Đó chính là nền tảng của Tri thức luận. Đó chính là điều dẫn đến: “sự hiện diện đơn thuần một ý tưởng trong tâm trí quý vị, dù nó có cảm giác hay ho thế nào, không hề là sự đảm bảo cho việc chấp nhận nó. Ý tưởng cần được chứng minh.” Các ý tưởng cần được thiết lập. Niềm tin nào vượt lên trên cơ sở lý lẽ là một niềm tin phi lý. Phải có một cách thức đúng đắn để đi tới một ý tưởng và một cách thức thích đáng để chứng minh rằng quý vị đã đạt tới nó một cách đúng đắn.

Tri thức luận định nghĩa điều này là sự phái sinh và việc kiểm nghiệm. Hãy nhìn nhận điều này theo cách sau đây: tri thức là một sản phẩm trí óc và cũng như việc tạo ra bất kì sản phẩm nào, để tạo ra tri thức, người ta phải chọn đúng chất liệu và nhào nặn đúng cách. Cũng như trong kĩ thuật, muốn xây một cây cầu, quý vị phải sử dụng đúng nguyên vật liệu, rồi trộn lẫn chúng lại với nhau theo đúng trình tự cũng như cách thức.

Tri thức luận là ngành kĩ thuật tạo ra tri thức, nó sẽ cho quý vị biết cách thức tạo ra tri thức và cách kiểm nghiệm xem liệu quý vị đã làm đúng chưa. Định nghĩa của Ayn Rand về Tri thức luận như sau: “một ngành khoa học dành riêng cho việc khám phá ra các phương thức đúng đắn để đạt được và xác nhận tri thức.” Không có ngành khoa học nào quan trọng hơn Tri thức luận bởi vì tri thức chính là thứ làm cho chúng ta là “con người”. “Tri thức là gì?” là câu hỏi đầu tiên trong Tri thức luận, câu hỏi đầu tiên trong bài thuyết trình của tôi.

Chúng ta hãy cùng nhau xem xét vài ví dụ. Trước hết là ở mức độ động vật. Tôi có 2 con mèo và cả hai đều quen với tôi và vợ tôi, Jean. Một con mèo của tôi thì biết cách làm sao ra ngoài qua cánh cửa dành cho vật nuôi trong khi con mèo con lại thì không. Một con sóc sẽ biết nó đã chôn quả hạt để dành cho mùa đông ở đâu...đó là ở mức độ động vật. Còn ở mức độ một đứa trẻ sơ sinh thì sao? À thì một đứa bé sơ sinh sẽ biết mẹ của nó sau một thời gian ngắn nhất định, nó nhận ra mẹ nó. Nó biết rằng khi chai sữa đưa về phía nó có nghĩa là sẽ có đồ ngon.

Sau đó, khi đứa bé sơ sinh lớn lên một chút, nó sẽ học đếm, học đọc, rồi học cách cộng 2 với 2, và rồi trở thành một người trưởng thành, và sẽ biết được vô số thứ thậm chí không cần phải sống ở nước Mỹ vào thế kỉ 21. Nó sẽ biết cách dùng tiền để mua bán, nó biết tới khái niệm “sức khoẻ” và “bệnh tật” và nó sẽ biết làm sao chăm sóc bản thân cho tốt. Hay nếu là một nhà khoa học ngày nay, nó sẽ biết được các quy luật vật lý; nếu là một kĩ sư điện tử, nó sẽ hiểu về Định luật Ohm2 ; nếu là một lập trình viên, nó sẽ biết cách viết ra một ứng dụng.

Vậy, đó là phạm vi của tri thức. Những tri thức này có điểm chung gì? À, để trả lời câu hỏi này, vốn là một trong những chủ đề của khoá học, quý vị phải biết nó ngược lại với cái gì? Tất cả những điều này, từ ví dụ đầu tiên con mèo nhận ra tôi với việc nó-và một người lạ, đến ví dụ của một lập trình viên biết viết ra một ứng dụng hay chỉ là một trạng thái ý thức. Vậy thì chúng ta sẽ đối lập những điều này với cái gì đây? Hãy hình dung quý vị đang lái xe và nhìn ra cửa sổ, cảnh vật chạy ngang. Đó không phải là tri thức. Đó là trạng thái ý thức. Nếu quý vị chỉ đơn thuần nhìn ngắm cảnh vật thì đó không phải là tri thức.

Quý vị đang bấm số điện thoại nhé, và có ai đó kêu bấm số “239956 đi” và bạn bấm số đó. Quý vị không có ý định sẽ ghi nhớ dãy số này cho nên sau 5 phút, quý vị phải gọi lại số đó nữa nên phải hỏi lại: “Số bao nhiêu ta? Tôi không có ghi lại. Tôi không nhớ.” Đó không phải tri thức. Tri thức là ý thức được lưu giữ, là thứ bạn sở hữu. Tôi biết rằng Albany là thủ phủ của tiểu bang New York. Tôi có được hiểu biết này, nó là vật sở hữu của tôi. Đó là tri thức. Quý vị có thể truy hồi lại tri thức. Con sóc có thể nhớ lại nơi nó giấu quả hạt để dành cho mùa đông. Hay một lập trình viên sẽ có thể nhớ lại cách thiết lập một vòng lặp.

Vậy nên, điều đầu tiên chúng ta có thể nói về tri thức là nó là “một hình thức của ý thức”, nó không phải là một tình trạng ý thức tạm thời mà là “ý thức được lưu giữ có thể truy hồi”. Và có 2 dạng tri thức: “tri thức ở mức độ tri giác, thuộc giác quan, và tri thức vận dụng trí óc, thuộc nhận thức trừu tượng.” Và từ đó cho ra khái niệm “Genus”, nếu quý vị biết thuật ngữ này trong định nghĩa về tri thức thì nó có nghĩa là “một sản phẩm của trí óc được ghi nhớ”. Ayn Rand đã thảo luận về điều tạo nên đặc trưng tiêu biểu của tri thức và tôi sắp sửa cho các bạn biết theo thứ tự sau đây.

Đầu tiên, đặc trưng tiêu biểu là “sự thấu hiểu về mặt trí óc đối với một dữ kiện hay các dữ kiện của thực tại” và đó chính là điều cơ bản. Hãy để ý cụm từ “sự thấu hiểu”, không phải là sự hiểu biết, hay biết sơ sơ, hay có biết qua, mà là thấu hiểu. Đó là điều gì đó bạn có được, nắm bắt và lưu giữ. “Thấu hiểu” là một từ rất quan trọng và ở đây là “sự thấu hiểu thực tại.”

Phần kế tiếp trong định nghĩa là “được đạt tới hoặc bằng sự quan sát dựa trên tri giác hoặc bởi một quá trình lý luận, một quá trình lý luận dựa trên quan sát về mặt tri giác.” Đó chính là điểm cốt lõi của Tri thức luận theo Chủ nghĩa Khách Quan. Rồi, theo định nghĩa này thì nó là “ý thức-dữ kiện đạt được thông qua tri giác”. Quý vị thấy đó, ngày nay chắc chẳng có triết gia nào sẽ đồng ý với bất kì điểm nào trong định nghĩa này. Nhiều người sẽ không cho rằng nó thuộc trí óc. Không đâu, tôi cũng không nghĩ rằng bất cứ ai trong số họ sẽ đồng ý rằng nó là một “sự thấu hiểu”, thường thì họ định nghĩa nó theo nghĩa “niềm tin”. Có thể, họ đồng ý rằng nó thuộc tri giác, hoặc có lý trí. Nhưng cái ý “dựa vào lý tính” thì họ nghĩa khó mà thực hiện. Dựa vào tri giác thì thực sự là một câu hỏi lớn: “Làm cách nào để thực hiện được điều đó?” và họ cho rằng chưa có câu trả lời cho câu hỏi này.

Nhưng tôi lạc đề rồi. Thôi, hãy tập trung hai khía cạnh sau: “nó là một sự thấu hiểu về mặt trí tuệ và nó là sự thấu hiểu về mặt trí tuệ một dữ kiện từ thực tại.” Vậy thì, chúng ta có “tâm trí và thực tại” là hai chủ đề lớn trong triết học: Ý thức và Tồn tại. Và điều đầu tiên bạn phải biết về tri thức một khi bạn hiểu nó có liên quan tới cái gì, đó là Ý thức và Tồn tại là các chân lý. Đúng vậy, đó là định nghĩa của một chân lý như nó vốn nên thế. “Các chân lý là...”, định nghĩa của tôi nhé, “các chân lý là những sự thật hiển nhiên cơ bản làm nền tảng cho mọi tri thức”. Về khái niệm “hiển nhiên” thì Chủ nghĩa Khách quan định nghĩa “hiển nhiên” là “có hiệu lực cho ý thức trực tiếp”, bao gồm cả sự cảm nhận về mặt tri giác và quá trình nội quan bởi vì chúng ta không cảm nhận bằng tri giác rằng chúng ta đang có ý thức. Chúng ta tự ý thức rằng bản thân có ý thức một cách trực tiếp. Làm sao quý vị biết mình đang thức? Quý vị đâu nhìn vào gương và nói “à, mình đang mở mắt”. Quý vị đâu cần dùng đến tri giác, quý vị tự ý thức thấy mình có ý thức chứ. Làm sao quý vị biết mình đang cảm thấy đau là mình đang bị đau? Quý vị trực tiếp trải nghiệm đấy chứ. Người khác thì có thể phải đoán từ hành vi của quý vị rằng quý vị đang bị đau, nhưng bản thân quý vị sẽ nhận biết một cách trực tiếp.

Vậy thì, ý thức trực tiếp bao gồm cả sự cảm nhận bên ngoài thông qua các tri giác và sự ý thức về tình trạng ý thức của chính mình. Và chân lý thì không tránh né được. Chân lý phải được sử dụng và chấp nhận thậm chí trong nỗ lực phản bác nó. Cho nên người sáng lập nên Chủ nghĩa Hành Vi sẽ nói “Tôi không có ý thức. Ý thức là một sản phẩm tưởng tượng. Ý thức là một sự mê tín”. À, vậy mê tín là gì? Mê tín là một niềm tin không căn cứ trên bất cứ lí lẽ nào, mà gần như là thần bí. Niềm tin? Niềm tin là gì? Niềm tin là một suy nghĩ có ý thức của một người...Ồ, vậy thì nói ý thức không tồn tại, ý thức là mê tín.

Quý vị cho rằng: “Tôi biết là tôi không biết, rằng tôi không hiện hữu ở đây, rằng tôi không có ý thức” thì quý vị phải khẳng định điều đó một lần nữa, và đương nhiên là đối với “sự tồn tại” cũng vậy. Nếu quý vị nói “chẳng có gì tồn tại cả” thì quý vị đã thừa nhận rằng nhận định của mình tồn tại, quý vị thừa nhận rằng quý vị tồn tại để đưa ra nhận định đó, và quý vị cũng thừa nhận rằng tri thức của quý vị tồn tại trong ý nghĩa cụm từ ngữ quý vị sử dụng. Và nếu quý vị đang trò chuyện với ai đó thì quý vị thừa nhận rằng họ có tồn tại chứ.

Vậy, chúng ta đều biết rằng các chân lý là không thể né tránh được, rằng chúng ta thậm chí không thể chối bỏ chúng chứ đừng nói là lẩn tránh chúng. Nó không có nghĩa là các chân lý là minh chứng bởi vì chân lý quá cơ bản để có thể làm minh chứng. Chúng ta cần đến minh chứng khi không có được ý thức trực tiếp. Minh chứng là cái thứ yếu thôi. Nói chung, chúng ta không đi chứng minh các chân lý vì chúng ta có được thứ tốt hơn việc chứng minh các chân lý. Chúng ta nhìn thấy- kia kìa: sự tồn tại. Sự tồn tại ở khắp nơi, thậm chí ngay bên dưới bạn, kể cả bên trong bạn...đều có sự tồn tại.

Và chúng ta trực tiếp ý thức được rằng mình có ý thức. Cho nên, ý tưởng đi chứng minh điều này, thậm chí cái nhu cầu đi chứng minh, hay mong muốn chứng minh, và việc “chứng minh nó là một điều đúng hoàn toàn” là một bước lùi. Tôi có nghĩ tới một ví dụ tương đương: có một nhóm thợ sửa mái nhà và mỗi ngày họ leo lên thang và cả ngày đứng trên thang sửa chữa mái nhà. Rồi cuối cùng, một người trong số họ phát biểu: “Làm thế nào chúng ta lên được tới đây?” “Thì có cái thang kìa.”. “Ừ nhưng chúng ta phải cần một cái thang để leo lên cái thang này chứ. Rồi phải có một cái thang nữa để leo lên cái thang kia. Vậy thì chúng ta bắt đầu bằng cách nào nhỉ?” Quý vị hãy làm như anh chàng này đã đứng trên cái thang này quá lâu đến nỗi anh ấy quên luôn khái niệm mặt đất hay việc đi bộ trên mặt đất. Cho nên anh ta chỉ biết di chuyển từ nơi này tới chỗ kia bằng thang thôi, và điều này gây ra điều khó hiểu. Tương tự như với minh chứng thôi. Quý vị bị hấp dẫn bởi minh chứng và quá quen với việc phải có minh chứng đến nỗi quý vị quên rằng minh chứng chỉ cần thiết khi chúng ta không thể trực tiếp trải nghiệm hay cảm nhận một điều gì đó trực tiếp. Cho nên, ý tưởng đi chứng minh chân lý là ngớ ngẩn- như chuyện dùng cái thang để leo lên một cái thang vậy.

Tốt, giờ chúng ta hãy cùng nhau xem xét chi tiết hơn các chân lý sau đây- ở đây tôi có 3 chân lý của Chủ nghĩa Khách Quan. Chân lý thứ nhất: sự tồn tại, bản thể và ý thức. Tôi đã đề cập tới sự tồn tại và ý thức rồi, còn bản thể là hệ quả của sự tồn tại thôi, tí nữa quý vị sẽ hiểu. Điều đầu tiên quý vị biết về sự tồn tại là nó có tồn tại, điều này vốn có sẵn trong ý niệm “sự tồn tại”. Thứ hai: nó là chính nó, tồn tại có nghĩa là hiện hữu dưới hình thức nào đó, tồn tại chính là bản thể. Chẳng có gì là không là gì cả. Điều gì đó phải là một cái gì đó. Thứ ba: sự tồn tại bao gồm các thực thể. Khi nói “sự vật”, ý tôi là “thực thể”, là một cái gì đó có thuộc tính, cái gì đó đã kinh qua hoạt động, cái gì đó mà có đặc tính. Tất cả các đặc tính, tất cả các mối quan hệ, tất cả các hoạt động đều thuộc về các thực thể- về mặt tri giác là rõ như vậy. Nhìn xem. Bạn thấy tất cả các thực thể đó không? Và cuối cùng, tôi muốn nói rằng một phần của chân lý về sự tồn tại là các thực thể hoạt động tuỳ thuộc theo bản thể của chúng, vốn là quy luật Nhân quả3

Chân lý kế tiếp chưa được giải quyết là Ý thức. Điều đầu tiên bạn cần biết về Ý thức là nó có ý thức. Thứ hai, nó phải là ý thức của một ai đó. Không thể có chuyện ý thức trôi nổi đây đó- ý thức của bạn và ý thức của tôi. Ý thức là việc một ai đó nhận thức được về một điều gì đó. Thứ ba, Ý thức là một quá trình chủ động và giờ chúng ta xem xét một số tài liệu hiếm hơn- trong lịch sử, các triết gia có khuynh hướng xem Ý thức là “tĩnh”, là thụ động, là “ì”. Chủ nghĩa Khách quan nhấn mạnh ngay câu đầu tiên trong quyển “Giới thiệu Tri Thức Luận theo Quan Điểm Khách Quan”...quý vị nhớ câu đầu tiên đó không? “Ý thức như một một trạng thái nhận biết thì không phải là một trạng thái thụ động mà là một quá trình chủ động. Điều cuối cùng về Ý thức, tôi muốn nhấn mạnh rằng Ý thức là một năng lực sinh học. Điều này cũng phân biệt rõ ràng cách tiếp cận của trường phái triết học Aristote4 và cách tiếp cận của Chủ nghĩa Khách quan với tri thức và ý thức với cách tiếp cận của triết học Platon5 và triết học Hume6 . Ý thức là tốt, ý thức là thứ chúng ta sử dụng. Mục đích của ý thức là làm điều tốt và tránh xa cái xấu. Ý thức là công cụ phát hiện sự khác biệt. Ý thức tồn tại để quý vị chọn ăn miếng bánh mì chứ không chọn thuốc độc, để quý vị chạy trốn con sư tử chứ không chạy vô miệng nó, để quý vị có thể phân biệt đâu là những điều bảo vệ sự sống và tìm kiếm chúng, chứ không phải những thứ chống lại sự sống.

Có một mối tương quan giữa các chân lý, và đây là phần phân tích hai đoạn trong bài diễn văn của nhân vật Galt, chứa đựng những tinh tuý của Chủ nghĩa Khách Quan- và tôi muốn cùng quý vị ở đây xem xét từ từ từng chút một, để thấy rõ mối quan hệ giữa các chân lý. “Sự tồn tại thực sự có tồn tại, và việc thấu hiểu điều bao hàm hai hệ quả tất yếu: ...” - việc thấu hiểu điều này..., tí nữa tôi sẽ nhắc tới ý thức; ý thức không có sẵn trong sự tồn tại mà nó vốn có trong việc quý vị biết rằng sự tồn tại có tồn tại. Cho nên trước hết là sự tồn tại có tồn tại. Và quý vị biết như vậy, rồi khi biết như vậy, có hai hệ quả tất yếu được bao hàm: rằng quý vị tồn tại và sở hữu ý thức, rồi gì nữa...chắc tôi bị nhầm lẫn thứ tự rồi. Thôi được rồi. Hai hệ quả tất yếu được bao hàm trong đó là: “rằng có gì đó tồn tại mà ta nhận thức được, và rằng một người tồn tại sẽ sở hữu ý thức- ý thức chính là khả năng nhận thức được rằng điều gì tồn tại.” Vậy, đây chính là hai khía cạnh của việc có ý thức: rằng có thứ bạn ý thức được, và việc bạn ý thức được điều này. Như tôi đã nói, ý thức phải là ý thức của một ai đó về điều gì đó.

Điểm kế tiếp khá là gây tranh cãi, ý là đoạn kế tiếp (trong bài diễn văn của Galt) gây tranh cãi, nhưng mà nó lại quan trọng. “Nếu không có gì tồn tại thì sẽ không thể có ý thức: Ý thức mà lại không có gì để ý thức được là một sự mâu thuẫn về mặt từ ngữ.” Quý vị có thể nhận thấy điều này trong khái niệm về ý thức. Bất cứ hành động nào “Tôi đã thấy” “Bạn thấy gì?” “Không gì cả. Tôi chỉ thấy thôi”; hay “Tôi có nghe” “Bạn đã nghe gì?” “Không gì cả”. “Bạn không nghe thấy dù chỉ một tiếng động à?” “Không. Tôi không nghe được gì”. Không thể nào. “Nghe” thì phải là “nghe thấy gì đó”, hay “Tôi mơ” “Bạn mơ cái gì?” “Tôi không mơ gì cả”. “Nhưng bạn nói bạn mơ mà.” “Mơ” là “mơ (thấy/về) điều gì đó, “lên kế hoạch”, “muốn”, “bị đau”... bất cứ hoạt động nào của ý thức đều phải ngụ ý một đối tượng, điều làm bạn đau, điều bạn mơ về, điều bạn đang lên kế hoạch. Không thể nào “Tôi có ý thức” mà lại không có phần sau: “Tôi có ý thức về...”

Trong lịch sử triết học thì điều này không bị phủ nhận lắm nhưng tôi sắp đề cập tới câu trả lời đáng kinh ngạc, một câu trả lời thật sự vĩ đại của bà dành cho Descartes. Descartes, người khởi xướng cả một thế giới triết học hiện đại đã nói rằng: “Đương nhiên, chúng ta luôn có ý thức về điều gì đó, nhưng có thể điều chúng ta ý thức được là những thứ trong tâm trí của chính ta mà thôi.” Tôi đồng ý, tôi suy nghĩ về điều gì đó, nhưng là tôi nghĩ về điều gì đó trong tâm trí tôi, cho nên có thể khi tôi nhìn quý vị, quý vị chỉ là những điều trong tâm trí tôi thôi, cũng như những giấc mơ hay suy nghĩ của tôi vậy. Làm sao tôi biết được? Sao tôi có thể chắc chắn về bất cứ điều gì ngoài việc tôi-tồn-tại? Tất cả những gì tôi biết là tôi có ý thức được nội dung cụ thể nào đó. Tôi không biết còn gì khác ngoài tâm trí tôi. Có thể là sự tồn tại nội tại là tất cả rồi. Có thể mọi thứ tồn tại ngoài kìa chỉ là những hình ảnh trong tâm trí tôi. Bùm!

“Ý thức mà không hề ý thức được điều gì khác ngoài bản thân nó và những hình ảnh trong tâm trí của chính nó là một sự mâu thuẫn về mặt từ ngữ”, bà Rand đã nói vậy. Đó là ‘sự mâu thuẫn về mặt từ ngữ” khi nói ‘tôi bị nhốt trong tâm trí mình và chỉ ý thức được nội dung nhận thức của bản thân”. Tại sao? “Trước khi có thể xác định đó chính là ý thức, nó phải ý thức được điều gì đó.” Vậy điều này có nghĩa là sao? Làm sao bạn phân biệt được một hình ảnh trong tâm trí mình với thực tại? Để phân biệt được, bạn phải trải nghiệm việc nhận thức được điều gì đó không phải là hình ảnh trong tâm trí của mình, và nói: “À thì, hình ảnh trong đầu tôi không giống như vầy.” Ví dụ như khi tôi nằm mơ, tôi có thể khiến vật chất di chuyển theo cách thức mong muốn. Nhưng khi tỉnh thức thì tôi đâu thể nào chỉ nhìn mà khiến quý vị ở đây chuyển động như cách tôi làm trong những giấc mơ.

Vậy thì, trên đời này thực sự có hoạt động được gọi là nhận thức, vốn khác biệt với những hình ảnh trong tâm trí tôi. Rồi nếu nói: “nhưng biết đâu việc nhận thức kìa cũng là một hình ảnh trong tâm trí mà thôi” thì quý vị triệt tiêu khái niệm về hình ảnh trong tâm trí tôi rồi. Trước khi xác định được rằng đó là một hình ảnh trong tâm trí chứ không phải là hiện thực, quý vị phải có ý thức về điều gì đó trước đã. Nếu không thì “hình ảnh”, cũng như “tâm trí” trở thành lỗi nguỵ biện đánh tráo khái niệm. Những khái niệm này vốn tuỳ thuộc vào mối tương phản với sự tồn tại.

Giờ thì tôi sẽ chiếu lên đây một bảng thông tin khái quát thể hiện những điều bà Ayn Rand đã bày tỏ trong 2 đoạn văn này. Đây là khái niệm của bà: Tính ưu việt của Sự tồn tại so với Tính ưu việt của Ý thức. Tôi sẽ đưa cái khung ra thôi, và quý vị sẽ điền thông tin vô. Mỗi bên chỉ có 2 điểm chính: 2 cho Siêu Hình Học và 2 cho Tri Thức Luận. Một slide thì không đủ chỗ, nếu nhét vô hết thì chữ nhỏ quá nên tôi sẽ làm phần Siêu Hình Học riêng và phần Tri Thức Luận riêng nhé.

Rồi, đối với Siêu Hình học thì bên cột Tính ưu việt của Sự tồn tại là ý này: “Sự tồn tại là độc lập với Ý thức”, có nghĩa là nó vẫn tồn tại dù có hay không có ý thức. Bên cột Sự ưu việt của Ý thức thì ngược lại: “Ý thức độc lập với sự tồn tại”. Một đặc điểm của Siêu hình học là quan điểm của một bên là đối lập với bên còn lại. Bên Tính ưu việt của Sự tồn tại thì: “Ý thức thì lệ thuộc vào sự tồn tại” còn bên Tính ưu việt của Ý thức thì là: “Sự tồn tại sẽ lệ thuộc vào ý thức”.

Nếu Chúa muốn chúng ta biến mất, chúng ta sẽ không tồn tại được. Ý thức của Chúa quyết định mọi thứ. Quan điểm theo Tính ưu việt của Ý thức là vậy đó.

Giờ tới bảng của Tri Thức luận. Tính ưu việt của Sự tồn tại: “Cần phải tri-nhận sự tồn tại trước khi tri-nhận ý thức”. Trước khi có thể tự xác định là ý thức, nó phải ý thức được một cái gì đó đã. Trước khi quý vị có thể ý thức về bản thân và tình trạng nội tâm của mình, quý vị phải là chính mình trước đã, có nghĩa là quý vị phải nhận thức được về điều gì đó. Trong khi đó, Tính ưu việt của Ý thức thì ngược lại: “Có thể tri-nhận ý thức trước khi tri-nhận sự tồn tại.” Đó chẳng phải là toàn bộ tư tưởng của Descartes sao- “Tôi suy nghĩ nghĩa là tôi tồn tại.” Tôi biết rằng ý thức của mình tồn tại nhưng tôi không chắc về thực tại. Tất cả những gì tôi biết là tâm trí của tôi tồn tại. Theo quan niệm sai trái này thì chúng ta có thể nhận biết ý thức trước khi nhận biết sự tồn tại. Hai điểm sau đó là về nơi xuất phát của tri thức. “Tri thức về sự tồn tại có được từ việc nhận thức được nó, từ ngoại quan” so với “Tri thức về sự tồn tại có được từ việc hướng về bên trong và nghiền ngẫm những chất chứa trong tâm trí của mình- nội quan” (Sự ưu việt của Ý thức)

Ba hướng tiếp cận tri thức. Có 3 hướng tiếp cận tới tri thức, và tôi sẽ kể một câu chuyện hài hước thật sự tóm gọn được 3 hướng tiếp cận này. Một ông trọng tài, khi nói về mấy lỗi đánh bóng hụt và đánh bóng ra ngoài: “Tôi bắt lỗi như vậy vì chúng VỐN là như vậy.” Ông thứ hai thì nói: “Tôi bắt lỗi vì tôi THẤY mấy lỗi đó.” còn ông thứ ba thì nói: “Chúng chẳng là lỗi CHO TỚI KHI tôi bắt được”. Câu chuyện thể hiện được đúng theo 3 trường phái của Tri thức luận- thật ra cũng không thể gọi là trường phái Tri thức luận mà chỉ là 3 thái độ đối với tri thức. Ông thứ nhất nói: “Tôi bắt lỗi như vậy vì chúng VỐN là như vậy”: chúng ta đơn thuần là biết thôi- Tôi không thể sai được vì tôi được soi sáng về sự thật là gì. Quan điểm của ông trọng tài thứ 2 là quan điểm đúng: “Tôi bắt lỗi vì tôi THẤY mấy lỗi đó”- Tôi xác định những lỗi này dựa theo cảm thụ tri giác của tôi. Ông thứ 3 chính là một kẻ hoài nghi theo chủ nghĩa chủ quan hiện đại: “Chúng chẳng là lỗi CHO TỚI KHI tôi bắt được”- Nó không tồn tại. Lỗi đánh bóng hụt và lỗi đánh bóng ra ngoài chẳng phải là lỗi, chúng chẳng là gì cả, chẳng có đặc tính nhận dạng cho tới khi tôi trao cho chúng, bằng hoạt động ý thức ngẫu hứng của tôi.

Vậy, quý vị có thể ngạc nhiên vì quan điểm đúng theo Chủ Nghĩa Khách Quan lại đứng ở giữa (Chủ nghĩa Thần bí- Chủ nghĩa Khách Quan- Chủ nghĩa Hoài Nghi), tình cờ trong câu chuyện này là vì để dẫn dắt được tới cao trào trong câu phát biểu cuối cùng. Tôi muốn đưa ra một ý chung chung rằng bất cứ khi nào có vẻ như sự thật nằm đâu đó ở giữa thì hãy suy nghĩ lại, điều quý vị đang đương đầu là đây- tôi sẽ thể hiện bằng cách bẻ gập đường thẳng này lại- Đúng ra là Sự thật thì nằm một đầu của đường thẳng, và 2 lỗi còn lại là những phân rẽ có liên quan chặt chẽ với nhau ở đầu kia.

Vậy mục đích ở đây là gì? Cái gì khiến đây mới là quan điểm Khách quan? Tôi cho rằng như vầy: một người theo Chủ nghĩa Khách quan là người tuyên bố: “Tôi bắt lỗi vì tôi THẤY mấy lỗi đó”, và rồi chấp nhận trách nhiệm của phán quyết này. Hai trường phái còn lại: Người theo Chủ nghĩa Thần bí và người theo Chủ nghĩa Hoài nghi thì chống lại trách nhiệm của phán quyết của mình. Người theo Chủ nghĩa Thần bí thì muốn một sự chắc chắn tất yếu: “Tôi chỉ là biết vậy thôi”, “Tôi bắt lỗi như vậy vì chúng VỐN là như vậy”, “Chúa nói chuyện với tôi.” Trường phái còn lại thì nói: “Chẳng ai có thể biết được gì cả.” và đó là giải pháp của ông ta đối với yêu cầu phải làm việc, phải tìm hướng giải quyết, và phải bảo vệ phán quyết của mình-vốn là điều ông ấy e ngại.

Vậy là hôm nay chúng ta đã đi đến đỉnh điểm của cuộc chiến giữa những người theo Chủ nghĩa Thần bí và những người theo Chủ nghĩa Hoài nghi. Những tín đồ của Chủ nghĩa Thần bí là những kẻ cực đoan, cố lập nên một vị thủ lĩnh toàn cầu, thực thi luật Sharia hà khắc của kinh Koran. Những người theo Chủ nghĩa Hoài Nghi là những người như bà Hillary Clinton, chẳng hề tôn trọng sự thật, toàn những lời dối trá chồng chất, và những người như Donald Trump, cũng chẳng có tí tôn trọng nào với sự thật, luôn xổ ra những mớ cảm xúc tuỳ tiện. Cho nên tôi mới nói là “Ý thức mang tính chất sinh học”, nó có chức năng cụ thể. Câu trả lời của bà Hillary đối với câu hỏi “Ý thức là gì?” “Cần làm gì?”- Làm sao chúng ta đạt được tri thức cần có để sinh tồn? là “Hãy làm theo tập thể thôi”, “Cần cả ngôi làng7 ”, “Khoa học là chắc chắn rồi” - “Tại sao lại chắc chắn chứ?” “Bởi vì có một sự nhất trí giữa ý thức với nhau”. 18 năm trời không đo lường được tác hại của hiện tượng trái đất nóng dần lên. Tất cả các mô hình khí hậu liên tiếp thất bại. Những sự thật bất chấp sự thống nhất giữa các ý thức với nhau là gì?

Còn câu trả lời của Trump đối với câu hỏi: “Cần làm gì” là: “Tôi biết làm sao để những mong muốn bất chợt của mình đè bẹp mong muốn bất chợt của người khác. Tôi biết nghệ thuật giao thiệp, có nghĩa là biết làm sao đánh bại đối thủ. Tôi mạnh. Tôi mạnh đến nổi có thể khiến Mexico xây một bức tường để ngăn không cho người Mexico đến nước Mỹ. Gì chứ? Giờ thì người Mexico bỏ nước Mỹ đi nhiều hơn số người vào nước Mỹ à? Thôi khỏi làm phiền tôi bằng mấy dữ kiện như vậy. Chúng chẳng là gì CHO TỚI KHI tôi định danh cho chúng”. Và chẳng ai đứng lên mà nói “Sự tồn tại có tồn tại”. “A là A” dù cho kinh thánh có nói gì, dù có bao nhiêu người không nhận thức được, dù có ném bao nhiêu lời xúc phạm về phía đối thủ. Sự thật là sự thật. Chẳng ai đứng lên để nói rằng: Tri thức không đến từ người khác, không đến từ Kinh Thánh, không đến từ 1 ngôi làng (=cộng đồng), hay từ những vị lãnh tụ tối cao hay từ những mô hình điện toán được dựng lên mà (tri thức) đến từ việc áp dụng lý luận đối với những sự thật quan sát thấy được. Ngoại trừ chúng ta sẽ chẳng ai nói lên điều này.

Thôi hãy dừng ở đây để quý vị đặt câu hỏi. Xin cảm ơn.

Al: Câu hỏi của tôi có liên quan tới 2 điều tiến sĩ đã đề cập. Thứ nhất là đồ thị thiên niên kỉ tiền-tri-thức của loài người, và thứ hai là giáo sư đề cập việc chạy trốn con sư tử chứ không phải chạy về phía nó. Có phải việc loài người sống sót suốt cả thiên niên kỷ tăm tối thiếu hiểu biết cho thấy rằng những tri thức kiểu này được chuyển giao lại theo cách nào đó thay vì phải được học lấy không ạ?

Tiến sĩ: Câu hỏi của bạn là: “Có phải việc chạy trốn con sư tử, chỉ riêng ví dụ này, thể hiện rằng tri thức thời sơ khai, tiền văn minh được truyền lại, việc tổ tiên ta đã sống sót thể hiện rằng tri thức đã được chuyển giao? Đúng là như vậy nhưng không phải thông qua ví dụ này đâu. Để xem, việc biết sử dụng những mẩu xương, những cục đá sắc cạnh lóc thịt ra và lấy lớp da để mặc...cái này phải được truyền thụ lại đây. Nhưng việc chạy trốn khỏi sư tử không nhất thiết phải được truyền thụ lại vì kinh nghiệm cá nhân thông thường cũng đủ khiến con người khiếp sợ bất cứ vật thể to lớn nào biết rống, lại đang phóng về phía mình hoặc có khả năng làm bất cứ điều gì...

Cho nên là, anh ta sẽ có đủ trải nghiệm cá nhân về động vật để biết con nào là nguy hiểm và con nào là không. Chẳng có con người thời Đồ Đá nào mà ngồi đó ngắm nhìn con sư tử lao về phía mình mà lại không có một phản ứng cảm xúc nào. Cho nên cái ví dụ cụ thể đó thì không phải. Nhưng bạn đúng ở điểm là tri thức đạt được một cách khó khăn thì được chuyển giao lại. Một cuốn sách thú vị của tác giả L. Sprague de Kamp trong những năm 50 hay 60 gì đó có đặt ra câu hỏi đại ý là tại sao nền văn minh lại bắt đầu ở vùng Fertile Crescent (Lưỡi Liềm Màu Mỡ), cuối lưu vực địa Trung Hải? Ổng giả thiết rằng, và tôi cho là đúng, rằng đó là nơi trên hành tinh có kết nối nhiều nhất với những trung tâm dân cư khác.

Điều này đối lập với một lý thuyết khác cho rằng nền văn minh phát triển từ Trung Bộ Châu Mỹ (rừng mưa nhiệt đới ở Brazil) sau này trở thành Văn Minh Aztecs. Tuy không giao tiếp với một bộ phận lớn loài người, nhưng nếu sinh sống ở phía cuối của lưu vực Địa Trung Hải thì một bên của con người thời bấy giờ là Ai Cập và Trung Quốc, bên kia là Bắc Phi; còn nếu đi qua phía bên kia của Địa Trung Hải, điểm cuối của Châu Âu... nên tất cả những phát kiến, dù ở bất kì trung tâm dân cư nào cũng sẽ có thể được truyền tới bạn.

Vậy thì, đó chính là trung tâm giao thương và trung tâm của những phát kiến cho nên các ý tưởng sẽ được phát triển và đó chính là điều bạn nói- sự chuyển giao tri thức rất quan trọng, mật độ dân số và sự liên lạc qua lại thúc đẩy quá trình chuyển giao tri thức. Cho nên chúng ta đang ở tại một thời điểm phi thường, một thời điểm bước ngoặt trong sự phát triển tri thức vì ngày nay, 6,7 tỉ người trên thế giới có thể liên lạc với nhau, các ý tưởng của một ai đó ở Thái lan có thể được phát triển bởi một người khác ở Brazil, rồi được đầu tư bởi một doanh nhân ở Thung lũng Silicon, và chẳng mấy chốc sẽ xuất hiện trên những chiến điện thoại Iphone khắp thế giới. Đây là một điều hoàn toàn mới mẻ, và mới thật tuyệt vời làm sao. Đó là hi vọng duy nhất cho tương lai của chúng ta. Cảm ơn bạn, Al. Sự chuyển giao tri thức cực kì quan trọng. Xin mời câu hỏi khác.

Khán giả: Xin chào. Cảm ơn tiến sĩ vì buổi nói chuyện. Tiến sĩ đã nhắc sơ qua về điểm tri thức là một niềm tin đúng đã được biện minh, vốn là điểm khởi đầu cho Tri thức luận hàn lâm. Tiến sĩ có thể nói rõ hơn một chút về những khác biệt giữa điều này với quan điểm của ông? Tiến sĩ: À, bạn ấy đang hỏi về JTB (Justified True Belief): Niềm tin đúng đã được biện minh, là một học thuyết đương đại. Không phải là nó không hề được chấp nhận mọi lúc mọi nơi. Có một điểm đang được tranh luận là: “Tri thức dựa trên một niềm tin đúng đã được biện minh là gì?” và vấn đề nhiều người gặp phải với điểm này là ở chỗ niềm tin không phải là một khái niệm cơ bản. “Niềm tin” là khái niệm nâng cao hơn so với “tri thức”. “Niềm tin” là thứ mà dựa vào đó để người ta hành động, được rút ra từ một sự thấu hiểu về thực tế, hoặc là không. Cho nên, điều đầu tiên bạn có thể hình thành khái niệm là: “Tôi thấy nó- Tôi không thấy nó”. Tôi biết nó. “Bạn biết tôi thấy nó và nhớ nó”, hoặc là “Tôi không thấy nó và không nhớ nó”, chính là “Tôi biết- Tôi không biết”. Rồi sau đó khi bạn thấy được nó, bạn lại nói: “Tôi đã nghĩ nó là như vầy, nhưng lại không phải. Tôi sai rồi.” Đại khái vậy đó. Giống như những gì tôi cho rằng mình thấy và biết hồi 4 tuổi giờ đều sai cả. Và rồi bạn sẽ đi đến một niềm tin cao hơn được rút ra và bạn có thể hỏi như vầy: “Vậy làm sao chúng ta phân biệt được giữa tri thức và niềm tin?” Nhưng không thể phân biệt theo kiểu niềm tin là cái cơ bản, như kiểu chúng ta bắt đầu bằng việc tin tưởng. Chúng ta bắt đầu bằng việc tri-nhận và từ đó mới đến hiểu biết. Cho nên tri thức là một hình thức cụ thể của ý thức, nó là ý thức được lưu giữ có thể truy hồi, nó không phải là những niềm tin chung chung được giới hạn thành những niềm tin đúng, những niềm tin đúng được biện minh, và những người khác tin nó là một khái niệm phái sinh nâng cao. Cảm ơn. Vâng?

Khán giả3: Trong định nghĩa của Ayn Rand về tri thức mà tiến sĩ đã trích dẫn ngay lúc đầu, tôi không hiểu sao bà lại thêm vào nguyên phần thứ hai, khi bà nói rằng tri thức được đạt bởi một tiến trình, kiểu vậy...tại sao lại phải giải thích tỉ mỉ cách thức đạt được tri thức theo sát nghĩa như vậy ạ?

Tiến sĩ: Tôi vui vì bạn đã đặt câu hỏi này vì tôi không cố ý bỏ qua nó trong phần ghi chú của mình. Định nghĩa khái niệm cho một sản phẩm thường bao gồm quá trình cần thiết để tạo ra nó. Ví dụ như: một ổ bánh ngọt là một sản phẩm được nướng lên, nó là một hỗn hợp gồm bột, nước, đường, trứng được nướng nở phồng lên trong một cái lò. Không phải điều này là đúng mọi lúc mọi nơi nhưng nếu một thứ gì đó là một sản phẩm, ý tôi là có rất nhiều thứ là sản phẩm nhưng không phải kiểu sản phẩm rõ ràng. Ví dụ như một chiếc xe hơi thì tôi sẽ không định nghĩa nó xét theo quá trình sản xuất ra nó vì không chỉ có 1 quá trình sản xuất đâu. Nhưng một cái bánh, tri thức, một cảm xúc, bất cứ sản phẩm ý thức nào bạn cũng phải đưa ra nguồn gốc của nó- quá trình tạo ra nó bởi vì ý thức về cơ bản là một hành động. Đó là một trong số những khía cạnh mà tôi đặt tên- khi bạn đang xử lí một cái gì đó như tri thức, bạn đang xử lí một điểm đặc biệt trong ý thức. Tôi nhấn mạnh hơi quá điều này, nhưng về cơ bản thì ý thức chính là việc quý vị đang nghe tôi nói, những suy nghĩ diễn ra trong đầu quý vị, đó là một dòng chảy ý thức, theo cách William James gọi. Khi có gì đó cô đọng lại trong dòng chảy đó, được cố định lại và cất vào trong não bộ, dưới dạng mã hoá, nó trở thành một thứ đặc biệt cần phải được thảo luận theo phương diện điều gì đã dẫn dắt đến nó. Và đương nhiên toàn bộ vấn đề của Tri thức luận chính là điều chúng ta quan tâm: “Làm sao để có được tri thức? Làm sao tạo ra nó? Có phải tri thức xuất phát từ những giấc mơ? Có phải nó được truyền lại cho chúng ta từ những người thông thái?” Có lẽ tôi nên bỏ lửng ở đây. Người phụ nữ thông thái đằng kia cho tôi biết rằng tôi đã hết giờ rồi. Và tôi không có phương tiện độc lập nào để xác định điều này cho nên
tôi sẽ xem lời cô ấy nói là tri thức (tiếng cười). Xin cảm ơn.

Nguồn: ReasonVN

Dịch giả:
Reason Việt Nam