Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 3: Phê phán những luận thuyết phản tự nhiên luận (Phần 5)
24. LÝ THUYẾT CHỦ TOÀN VỀ THỰC NGHIỆM XÃ HỘI
Tư tưởng chủ toàn sẽ đặc biệt nguy hại nếu xét đến ảnh hưởng của nó tới thuyết sử luận về thực nghiệm xã hội (đã được trình bày ở mục 2). Người sử dụng kĩ nghệ phân mảnh hẳn sẽ phải nhất trí với quan điểm của thuyết sử luận, theo đó nếu thực sự có khả năng tiến hành những thực nghiệm xã hội trên diện rộng hay những thực nghiệm xã hội theo lối duy toàn, thì những thực nghiệm kiểu ấy cũng hết sức không phù hợp với những mục đích mang tính khoa học. Mặc dù vậy, anh ta vẫn dứt khoát không công nhận định đề chung của cả thuyết sử luận lẫn thuyết Không Tưởng cho rằng, để có được tính hiện thực, thực nghiệm xã hội buộc phải có đặc tính của những nỗ lực Không Tưởng nhằm tái lập toàn bộ mô hình xã hội. Sẽ rất thuận tiện nếu bắt đầu những phê phán của chúng ta bằng việc thảo luận về một ý kiến phản đối rất hiển nhiên đối với cương lĩnh Không Tưởng, đó là, chúng ta không hề có đủ tri thức thực nghiệm để thực hiện một công việc như vậy. Đồ án của kĩ sư vật lí được thiết kế dựa trên cơ sở một công nghệ thực nghiệm; tất cả những nguyên lí được lấy làm nền tảng cho hoạt động của anh ta đều được trắc nghiệm bởi những thí nghiệm thực tiễn, còn những đồ án thiết kế của người kĩ sư xã hội lại không dựa trên bất cứ kinh nghiệm thực tiễn tương đương nào. Do vậy mà bất kể sự giống nhau nào được viện ra giữa kĩ nghệ vật lí và kĩ nghệ xã hội chủ toàn đều không đứng vững được; kế hoạch hóa chủ toàn do đó rõ ràng mang tính “Không Tưởng”, bởi đơn giản là nó không có cơ sở khoa học.
Đối mặt với ý kiến phê phán này, người kĩ sư Không Tưởng có vẻ như chấp nhận nhu cầu phải có kinh nghiệm thực tiễn và phải có một công nghệ thực nghiệm. Nhưng anh ta sẽ tuyên bố rằng chúng ta chẳng bao giờ nắm bắt được những thứ này nếu từ chối không tiến hành những thực nghiệm xã hội hoặc không viện đến một thứ công nghệ chủ toàn theo cách nhìn của anh ta. Ta cứ phải bắt đầu, anh ta lập luận, bằng việc sử dụng bất kể một tri thức nào sẵn có, dù vững chắc hay không đáng kể. Nếu ngày nay ta có được một số kiến thức nhất định về thiết kế các phương tiện hàng không, thì đó cũng là do một số người đi tiên phong nào đó không hề có thứ kiến thức này nhưng đã mạnh dạn thiết kế một vật thể bay và thử nghiệm nó. Do đó, nhà Không Tưởng thậm chí có quyền khẳng định rằng phương pháp chủ toàn mà anh ta ủng hộ chính là phương pháp thực nghiệm được đem áp dụng cho xã hội. Bởi vì, cũng giống các nhà sử luận, anh ta cho rằng những thí nghiệm được tiến hành trên quy mô nhỏ, thể như thử xác lập chủ nghĩa xã hội trong một nhà máy, trong một làng hay thậm chí trong một vùng dân cư, đều tuyệt đối không mang tính thuyết phục; những “thí nghiệm biệt lập kiểu Robinson-Crusoe” như vậy không nói lên được gì cho ta biết về đời sống xã hội hiện đại trong “Xã hội Rộng lớn”. Những thí nghiệm kiểu ấy thậm chí xứng với cái tên “Không Tưởng” - hiểu theo nghĩa (giống như Marx hiểu) Không Tưởng ở đây ám chỉ việc chối bỏ những xu thế lịch sử (trong trường hợp này, nó hẳn phải ám chỉ việc chối bỏ xu thế hướng đến một trạng thái độc lập ngày càng tăng của đời sống xã hội).
Chúng ta thấy thuyết Không Tưởng và thuyết sử luận tương đồng về quan điểm cho rằng một thực nghiệm xã hội (nếu được tiến hành) chỉ có giá trị khi được thực hiện trên phạm vi rộng khắp. Định kiến rất phổ biến này khiến mọi người tin rằng khả năng thực hiện thành công “những thực nghiệm xã hội” trong địa hạt xã hội của chúng ta là rất hiếm hoi, và rằng, để tổng kết những thành quả của “những thực nghiệm được tiến hành ngẫu nhiên” cho đến nay trong địa hạt xã hội, chúng ta buộc phải quay về với lịch sử (đây cũng chính là quan điểm của Mill khi ông nói về thực nghiệm xã hội trong tác phẩm Logic, cuốn VI chương VII phần 2, như sau: “Rõ ràng chúng ta không bao giờ có đủ khả năng thử tiến hành một phép thực nghiệm nào. Chúng ta chỉ có thể theo dõi theo những gì tạo hóa ban cho,... đó là những hiện tượng tiếp nối nhau được lịch sử ghi lại...”).
Tôi có hai ý kiến phản đối cách nhìn này: (a) nó đã bỏ qua các phép thực nghiệm phân mảnh, là những phép thực nghiệm mang tính nền tảng đối với mọi loại tri thức xã hội, tiền khoa học cũng như khoa học; (b) những phép thực nghiệm chủ toàn không có vẻ đóng góp gì lắm vào việc gặt hái những tri thức thực nghiệm của chúng ta; và chỉ có thể gọi chúng là những phép “thực nghiệm” khi xem từ “thực nghiệm” này đồng nghĩa với một hành động có kết quả không chắc chắn, chứ không phải khi sử dụng từ ấy để chỉ những phương tiện nhằm gặt hái tri thức bằng cách so sánh những kết quả đạt được với những kết quả trông đợi.
Liên quan đến ý kiến phản đối (a), ta có thể thấy rõ rằng với lối nhìn thực nghiệm xã hội theo quan điểm duy toàn, ta không thể giải thích nổi vì sao chúng ta có được nhiều tri thức thực nghiệm về đời sống xã hội đến như vậy. Có sự khác biệt giữa một doanh nhân, một nhà tổ chức, một chính khách hay một viên tướng từng trải với những người chưa mấy từng trải. Đó là sự khác biệt về kinh nghiệm xã hội. Kinh nghiệm này có được không phải bằng quan sát hay bằng việc suy tư về những gì quan sát được, mà bằng sự nỗ lực nhằm đạt được một số mục tiêu thực tiễn nhất định nào đó. Phải thấy rõ rằng tri thức gặt hái được bằng con đường ấy thường là thứ tri thức tiền khoa học, và do đó nó giống như thứ tri thức gặt hái được thông qua quan sát ngẫu nhiên hơn là thông qua những thực nghiệm khoa học được sắp đặt một cách công phu; nhưng đó không phải là lí do để phủ nhận việc một thứ tri thức như vậy không phải chỉ đơn giản dựa trên quan sát mà còn phải dựa trên thực nghiệm. Một chủ hiệu tạp phẩm mở một cửa hàng mới cũng phải dựa vào một kinh nghiệm xã hội nào đó; và rồi thậm chí một người đứng xếp hàng mua vé xem hát cũng gặt hái được một chút tri thức thực nghiệm mang tính công nghệ để sử dụng cho lần xếp hàng sau, đó cũng lại là thực nghiệm xã hội. Và ta không nên quên rằng chỉ có kinh nghiệm thực tiễn mới dạy được cho người bán hàng và người mua hàng bài học về giá cả lên xuống khi hàng thừa ế hay khan hiếm.
Về những thực nghiệm phân mảnh ở một diện rộng hơn, ta có thể đưa ra một vài ví dụ như sau: quyết định của một nhà sản xuất độc quyền trong việc thay đổi giá cả những mặt hàng của mình; một công ty bảo hiểm tư nhân hay nhà nước có thể đưa thêm ra một loại hình bảo hiểm y tế hay bảo hiểm việc làm mới; hoặc việc đưa ra một mức thuế mới đánh vào hàng hóa, hay một chính sách nhằm ngăn ngừa khủng hoảng. Tất cả những thực nghiệm loại này đều được tiến hành vì mục tiêu thực tiễn hơn là vì mục tiêu khoa học; thêm vào đó, một vài cuộc thực nghiệm thường được chủ tâm tiến hành bởi các hãng lớn chỉ để thăm dò thị trường (tất nhiên nhằm tăng mức lợi nhuận trong một tương lai xa) chứ không hẳn chỉ nhằm tăng lợi nhuận trước mắt (trong cuốn Methods of Social Study, từ trang 221, Sidney và Beatrice Webb đã đưa ra một số ví dụ tương tự về thực nghiệm xã hội. Tuy nhiên, họ đã không phân biệt rõ ràng giữa hai loại thực nghiệm mà ở đây ta gọi là “phân mảnh” và “chủ toàn”, mặc dù ý kiến phê phán phương pháp thực nghiệm của họ [xem trang 226, “intermixture of effects”] là một ý kiến phê phán khá thuyết phục nhằm vào các phép thực nghiệm chủ toàn mà dường như họ lại rất ngưỡng mộ. Hơn nữa, cách phê phán của họ lại được lồng ghép với thứ “lập luận biến thiên” [variability argument] mà theo tôi là không có giá trị hiệu lực - xin xem thêm mục 25 tiếp sau đây).
Tình hình này rất giống tình hình của kĩ nghệ vật lí và của những phương pháp tiền khoa học mà chúng ta đã sử dụng để thu lượm những kiến thức công nghệ đầu tiên của mình trong những lĩnh vực như đóng tàu hay điều khiển tàu thuyền, có lẽ chẳng có lí do gì để không tiếp tục hoàn thiện những phương pháp ấy và tiến tới thay thế chúng bằng một công nghệ mang tính khoa học và cần đầu tư trí tuệ nhiều hơn; tức là thay thế bằng cách tiếp cận theo cùng một hướng nhưng có hệ thống hơn, dựa trên cả cơ sở tư duy phê phán lẫn thực nghiệm.
Với cách nhìn phân mảnh như trên thì không hề có một ranh giới rõ rệt giữa cách tiếp cận tiền khoa học và cách tiếp cận khoa học, mặc dù việc áp dụng ngày càng có ý thức hơn các phương pháp khoa học, tức là các phương pháp phê phán, luôn là một công việc có tầm quan trọng rất lớn. về cơ bản, cả hai cách tiếp cận đều có thể được mô tả như những cách tiếp cận sử dụng phương pháp thử sai. Chúng ta luôn thử; thế có nghĩa là, chúng ta không chỉ ghi nhận một quan sát, mà chúng ta nỗ lực tìm cách giải quyết không nhiều thì ít một số lượng những bài toán thực tiễn nhất định, và rồi chúng ta sẽ đạt được tiến bộ nếu và chỉ nếu lúc nào cũng sẵn sàng rút ra được những bài học từ những sai phạm của chính mình: sẵn sàng thừa nhận những sai lầm của mình và sử dụng chúng một cách có phê phán thay vì cứ tiếp tục duy trì chúng một cách giáo điều. Mặc dù cách phân tích như trên nghe có vẻ tầm thường, nhưng tôi thiết nghĩ nó đặc trưng cho phương pháp của mọi bộ môn khoa học thường nghiệm. Phương pháp này sẽ tự nó chứng tỏ là một phương pháp ngày càng khoa học hơn khi mà chúng ta càng ngày càng sẵn sàng chấp nhận một cách thoải mái và có ý thức sự rủi ro của một phép thử, và càng ngày càng sẵn sàng nhìn nhận một cách có phê phán những sai lầm lúc nào cũng có thể phạm phải. Công thức này không chỉ đúng với phương pháp thực nghiệm, mà còn đúng với mối liên hệ giữa lí thuyết và thực hành. Mọi lí thuyết đều chỉ là những phép thử; đó là những giả thuyết thăm dò, được mang ra dùng thử xem liệu có thích hợp hay không mà thôi; và rồi mọi chứng nghiệm đều chỉ đơn giản là kết quả của những phép thử được tiến hành trên tinh thần phê phán, với nỗ lực tìm ra bằng được chỗ sai trong những ỉí thuyết của chúng ta. (Trong cuốn Logik der Forschung (1935) của mình, tôi đã phân tích đầy đủ hơn những phương pháp của vật lý học hiện đại theo cách phân tích được nêu trên. Xin tham khảo thêm cả bài viết có tựa đề “What is Dialectic?” đăng trong tạp chí Mind, tập 49, từ trang 403. Xem thêm, chẳng hạn, Tinbergen, Statistical Testing of Business Cycle Theories, tập II, trang 21: “Xây dựng mô hình... là... một kiểu thử-và-sai”,.v..v.)
Đối với công nghệ gia hay kĩ sư tiến hành công việc theo lối phân mảnh, những cách nhìn nói trên có nghĩa là, nếu anh ta muốn sử dụng những phương pháp khoa học để nghiên cứu xã hội và chính trị thì điều anh ta cần hơn cả là phải tiếp thu một thái độ phê phán và phải hiểu rằng không chỉ phép thử mà cả sai lầm cũng cần thiết. Và rồi anh ta phải biết cách không những sẵn sàng đón nhận sai lầm mà còn phải tìm kiếm sai lầm một cách có ý thức. Tất cả chúng ta đều có một điểm yếu phi khoa học là muốn mình lúc nào cũng đúng, và điểm yếu này đặc biệt phổ biến nơi những chính trị gia chuyên và không chuyên. Nhưng chỉ có cách áp dụng duy nhất một thứ gì đó tựa như phương pháp khoa học vào chính trị, là phải tiến hành công việc với một sự khẳng định chắc chắn rằng không có một vận động chính trị nào không đi kèm với những mặt hạn chế hay những hậu quả bất lường. Dò tìm những lỗi lầm ấy, chỉ ra chúng, phơi bày chúng một cách công khai, phân tích chúng, và rút ra những bài học từ chúng, đó là những gì một chính trị gia khoa học cũng như một nhà nghiên cứu khoa học chính trị cần phải làm. Phương pháp khoa học trong chính trị có nghĩa là, cái thứ nghệ thuật tuyệt diệu tự huyễn hoặc mình rằng đã không hề phạm sai lầm, thứ nghệ thuật phớt lờ sai lầm, giấu nhẹm sai lầm, hay đổ vấy cho người khác cần phải được thay thế bằng một thứ nghệ thuật còn tuyệt diệu hơn, đó là nghệ thuật sẵn sàng nhận trách nhiệm cho những sai lầm ấy, nghệ thuật rút ra những bài học từ chúng và dùng kiến thức có được ấy để tránh chúng trong tương lai.
Bây giờ xin đề cập tới điểm (b), tức là tới ý kiến phê phán cách nhìn cho rằng chúng ta có thể rút được bài học từ những thực nghiệm chủ toàn, hay chính xác hơn là từ những biện pháp gần cận với giấc mơ chủ toàn (vì những thực nghiệm chủ toàn với nghĩa chặt chẽ nhằm tái cấu trúc mô hình của “toàn bộ thế giới” là những phép thực nghiệm bất khả về mặt logic, như tôi đã chỉ rõ ở mục trước). Luận cứ chính của chúng ta rất giản dị: việc phê phán những sai lầm của chính bản thân mình đã là một việc không dễ rồi, giữ được một thái độ phê phán đối với những sai lầm của mình trong những hành động có liên quan đến đời sống của rất nhiều người còn là một công việc gần như không thể. Nói một cách khác, rút được bài học từ những sai lầm rất lớn là một công việc hết sức khó khăn.
Những lí do đưa đến nhận định trên là những lí do kép, chúng vừa mang tính chuyên môn lại vừa mang tính đạo lí. Vì đưa ra một lúc quá nhiều nên không cách gì biết được biện pháp cụ thể nào phải chịu trách nhiệm cho kết quả cụ thể nào trong mọi kết quả. Hay nói đúng hơn, nếu ta gán một kết quả nào đó cho một biện pháp nào đó thì ta cũng chỉ có thể làm việc đó trên cơ sở một lí thuyết nhất định đã có trước chứ không phải trên cơ sở của phép thực nghiệm chủ toàn. Phép thực nghiệm chủ toàn không giúp ta gán những kết quả cụ thể cho những biện pháp cụ thể, tất cả những gì ta có thể làm là gán cho phép thực nghiệm ấy cái “kết quả tổng thể”, và kết quả đó thực sự có ý nghĩa thế nào thì chắc chắn một điều là rất khó đánh giá. Thậm chí những nỗ lực hết mình trong việc bảo đảm cho một lời tuyên bố đầy đủ thông tin, độc lập và có tính phê phán về những kết quả ấy dường như cũng không thể mang lại thành công. Nhưng cũng không thể xem thường những cơ hội có được những nỗ lực như vậy, trái lại, hoàn toàn có khả năng người ta không hề chào đón một cuộc thảo luận cởi mở xung quanh chủ đề về một kế hoạch chủ toàn cùng những hệ quả của nó. Lí do là vì, nói một cách không đến nỗi gay gắt, mọi ý đồ muốn tiến hành kế hoạch hóa trên một diện rất rộng đều hẳn phải gây ra phiền nhiễu cho nhiều người và dai dẳng trong một thời gian đáng kể. Hiển nhiên là luôn nảy sinh những xu hướng chống lại kế hoạch. Đứng trước những ý kiến than phiền như vậy, người kĩ sư Không Tưởng thường phải giả câm giả điếc nếu anh ta còn muốn đạt được một điều gì đó. Thực vậy, trấn áp những ý kiến phản đối vốn được xem là vô lí chính là một phần công việc của anh ta.
Nhưng cùng với việc trấn áp ấy, anh ta buộc phải kiên quyết trấn áp cả những ý kiến phê phán có lí. Và chỉ cái việc cần phải trấn áp những biểu hiện bất mãn thôi cũng làm mất đi phần nào ý nghĩa của những biểu hiện thỏa mãn. Như vậy sẽ rất khó xác định các thực kiện, tức là rất khó xác định những tác động của kế hoạch lên cá nhân từng công dân, và thiếu những thực kiện này thì phê phán trên tinh thần khoa học là một việc không thể.
Nhưng những gì được chỉ ra trên đây chưa phải là khó khăn cơ bản nhất trong việc kết hợp kế hoạch hóa chủ toàn với các phương pháp khoa học. Nhà hoạch định chủ toàn quên mất một điều là, tập trung quyền lực thì dễ nhưng không cách gì tập trung được trí tuệ đang dàn trải trong đầu óc của các cá nhân, mà việc này lại rất cần để sử dụng quyền lực tập trung một cách khôn ngoan. (Nhận định cho rằng không thể có một thứ tri thức cần thiết cho công việc hoạch định kế hoạch lại “được tập trung vào đầu óc của một người” là nhận định của Hayek, xem cuốn Collectivist Economic Planning, trang 210, xem lại chú thích 1 trang 117).
Nhưng điều ấy lại gây ra những ảnh hưởng sâu rộng, vì không đủ khả năng biết chắc chắn những gì từng người suy nghĩ trong số quá nhiều người, nên anh ta đành phải cố đơn giản hóa các vấn đề của mình bằng cách loại bỏ những khác biệt mang tính cá nhân: anh ta phải tìm cách sử dụng giáo dục và tuyên truyền để kiểm soát và công thức hóa các lợi ích và các niềm tin. (Một trong những điểm mấu chốt của lí thuyết chính trị của Spinoza là tính không thể biết và không thể kiểm soát điều người khác nghĩ, ông định nghĩa “cường quyền” như một nỗ lực nhằm đạt được cái không thể đạt được và nhằm sử dụng quyền lực ở nơi nó không thể sử dụng được. Nên nhớ rẳng, Spinoza không phải là một người theo tư tưởng tự do đích thực. Tuy không tin vào sự kiểm soát mang tính thiết chế của quyền lực, nhưng ông vẫn nghĩ rằng một quân vương có quyền sử dụng những quyền lực của mình tới một giới hạn thực tế nào đó của chúng. Ấy vậy mà cái Spinoza gọi là “cường quyền” và coi là mâu thuẫn với lý trí lại được các nhà kế hoạch hóa chủ toàn coi một cách ngây thơ như một vấn đề “khoa học”, “vấn đề cải tạo con người”)
Nhưng việc cố gắng áp đặt quyền lực như vậy lên suy nghĩ của mọi người hẳn sẽ phá hủy mọi khả năng phát hiện được cái người dân thực sự suy nghĩ, vì rõ ràng nó không tương hợp với sự biểu lộ tự do của tư duy, đặc biệt của tư duy phê phán. Rốt cuộc là nó buộc phải phá hủy luôn cả tri thức; và thế là quyền lực càng được tăng cường bao nhiêu thì tri thức càng mất đi bấy nhiêu (ở một mức độ nào đó, quyền lực chính trị và tri thức xã hội có thể được coi như “bổ sung” cho nhau, theo nghĩa Bohr gán cho từ “bổ sung”. Và thậm chí có thể coi đây là minh họa rõ ràng duy nhất của thuật ngữ khó hiểu nhưng thời thượng này. (Niels Bohr gọi hai cách tiếp cận là “bổ sung” cho nhau nếu: (a) chúng bổ sung cho nhau theo nghĩa thông thường và (b) chúng loại trừ lẫn nhau theo nghĩa chúng ta càng sử dụng nhiều theo một cách thì cách kia lại càng ít được sử dụng. Mặc dù trong bài viết này tôi chỉ chủ yếu nhấn mạnh đến tri thức xã hội, nhưng có thể khẳng định rằng sự tích góp (và tập trung) quyền lực chính trị là “bổ sung” cho tiến bộ của tri thức khoa học nói chung. Vì tiến bộ khoa học phụ thuộc vào sự cạnh tranh tự do của tư duy, do đó vào quyền tự do tư duy, và vì vậy, rốt cuộc là vào quyền tự do chính trị)
Tất cả những nhận xét trên đây đều chỉ giới hạn vào vấn đề phương pháp khoa học mà thôi, còn lại, chúng ngầm thừa nhận cái giả thiết lớn lao cho rằng chúng ta không nên nghi ngờ lòng bác ái cơ bản của người kĩ sư Không Tưởng khi tiến hành kế hoạch hóa, người được ban cho một quyền hành chí ít xấp xỉ với những quyền lực của các nhà độc tài. Tawney kết thúc một bài luận về Luther và về thời đại của ông bằng những từ sau: “Vì hoài nghi về sự tồn tại thực của loài kì lân và rồng lửa, thời đại Machiavelli và Henry VIII đã tìm được cách nuôi dưỡng tính nhẹ dạ cả tin của mình bằng việc tôn sùng con quái vật kì lạ đó và gọi nó là Thiên Tử”. (R. H. Tawney, Tôn giáo và sự trỗi dậy của chủ nghĩa tư bản (Religion and The Rise of Capitalism), chương II, cuối mục 2)
Nếu bây giờ ta thay cụm từ “kì lân và rồng lửa” bằng cụm từ “Thiên Tử”, sau đó thay hai tên gọi này bằng tên của những thứ tương ứng hiện đại hiển nhiên hơn của chúng và thay “Thiên Tử” bằng “nhà chức trách bác ái đang tiến hành kế hoạch hóa”, thì chúng ta sẽ có được một bức tranh mô tả tính nhẹ dạ cả tin của chính thời đại mình. Tính cả tin này sẽ không bị lên án ở đây; nhưng ta có quyền nói rằng, dù có sẵn lòng chấp nhận lòng bác ái vô hạn và không gì lay chuyển nổi của các kế hoạch gia đang nắm quyền, thì với những phân tích của mình, chúng ta vẫn chứng minh được rằng có thể chẳng bao giờ họ biết được liệu những kết quả của các biện pháp của họ rồi có tương xứng với những ý định tốt đẹp của họ hay không.
Tôi không tin có thể đưa ra bất kể ý kiến phê phán nào kiểu như vậy nhằm chống lại phương pháp phân mảnh. Phương pháp này được sử dụng đặc biệt để phát hiện và đấu tranh chống lại những tai họa lớn nhất và khẩn cấp nhất của xã hội, chứ không phải dùng để phát hiện và đấu tranh cho một xã hội tươi đẹp vào chung cuộc (như thiên hướng của các nhà chủ toàn). Cuộc chiến có hệ thống chống lại những cái ác xấu được xác định rõ ràng, chống lại những hình thức bất công hay bóc lột cụ thể, và chống lại những nỗi thống khổ có thể tránh được như nghèo đói hay thất nghiệp, là một việc làm khác xa với nỗ lực thực hiện một đồ án thiết kế xã hội lí tưởng và xa vời. Thành công hay thất bại được dễ dàng đánh giá hơn, và rồi chẳng còn một lí do nội tại nào có thể khiến phương pháp này dẫn đến sự tập trung quyền lực và đàn áp phê phán. Hơn nữa, cuộc đấu tranh chống lại những cái ác xấu cụ thể và những hiểm họa cụ thể chắc chắn có nhiều khả năng tìm được sự ủng hộ của đại đa số hơn là một cuộc chiến nhằm thiết lập một xã hội Không Tưởng, dù đối với các nhà lập kế hoạch đó có là một xã hội lí tưởng. Điều này có lẽ phần nào giải thích được việc tại sao ở các nước dân chủ một khi đang phải tự vệ chống một cuộc xâm lược nào đó lại vẫn có thể nhận được sự ủng hộ thích đáng dành cho những biện pháp lâu dài cần thiết (những biện pháp chậm chí có thể mang tính chất của kế hoạch hóa chủ toàn) mà không hề xảy ra sự đàn áp nào đối với những ý kiến phê phán công khai, trong khi ở các nước đang cần chuẩn bị cho một cuộc tiến công hay tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lấn, phê phán công khai, về nguyên tắc phải bị cấm đoán, nhằm huy động được sự ủng hộ rộng rãi của công chúng bằng cách diễn giải sao cho cuộc chiến tranh xâm lược biến thành cuộc chiến tranh vệ quốc.
Bây giờ chúng ta hãy quay lại xem xét lời tuyên bố của nhà Không Tưởng cho rằng phương pháp của anh ta đích thị là phương pháp thực nghiệm áp dụng cho lĩnh vực xã hội học. Tôi thiết nghĩ, tuyên bố này đã không thể đứng vững trước cách phê phán của chúng ta. Điều này còn có thể được minh họa thêm bằng sự tương tự giữa kĩ nghệ vật lí và kĩ nghệ chủ toàn. Chúng ta sẵn sàng thừa nhận rằng, bằng những đồ án thiết kế, người ta có thể thành công trong việc lập kế hoạch cho những máy móc vật lí, và với những đồ án như vậy, ta thậm chí có thể xây dựng cả một công xưởng hoàn chỉnh để sản xuất ra chúng,.v..v. Nhưng làm được tất cả những điều đó chỉ là do nhiều thí nghiệm phân mảnh đã được tiến hành từ trước rồi. Mỗi chiếc máy là kết quả của rất nhiều cải tiến nhỏ. Mỗi mô hình phải được “phát triển” bằng phương pháp thử sai, bằng vô số những điều chỉnh nhỏ. Lập kế hoạch một công xưởng sản xuất cũng vậy. Kế hoạch mà mọi người thường coi là chủ toàn thành công được chỉ vì chúng ta đã vấp phải đủ kiểu sai lầm nhỏ; nếu khác đi thì cũng có đủ các lí do khiến kế hoạch đó dẫn ta đến những sai lầm lớn.
Như vậy là, nếu xét kĩ lưỡng hơn, sự giống nhau giữa kĩ nghệ vật lí và kĩ nghệ xã hội lại quay ra chống lại người kĩ sư chủ toàn và ủng hộ cho người kĩ sư cải biến xã hội theo lối phân mảnh. Nếu xem cụm từ “kĩ nghệ xã hội” là ám chỉ đến sự giống nhau này, thì rõ ràng nó đã bị các nhà Không Tưởng tiếm đoạt trong lúc thực ra họ chẳng có lấy một chút quyền hạn nào để làm điều đó. Đến đây, tôi xin kết thúc những nhận xét phê phán của mình về thuyết Không Tưởng và tập trung vào công kích đồng minh của nó là thuyết sử luận. Tôi tin mình đã có câu trả lời đầy đủ đối với thuyết sử luận liên quan đến thực nghiệm xã hội, trừ luận cứ cho rằng những cuộc thực nghiệm xã hội là vô dụng vì việc lặp đi lặp lại chúng trong những điều kiện giống nhau là một việc làm bất khả. Sau đây chúng ta sẽ xem xét luận cứ này.
Nguyên tác: The poverty of historicism, Karl Popper (Routledge, 1974)
Bản dịch: NXB Tri thức, Chu Lan Đình dịch.
