Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 3: Phê phán những luận thuyết phản tự nhiên luận (Phần 4)
23. PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM CHỦ TOÀN
Sau khi đã xác định rõ lập trường của mình và điểm qua quan điểm mà tôi sẽ dựa vào để phê phán, cũng như nói qua về sự đối lập giữa một bên là cách tiếp cận phân mảnh với một bên là cách tiếp cận chủ toàn và Không Tưởng, tiếp đây tôi sẽ đi vào thực hiện nhiệm vụ chính của mình là xem xét phân tích các quan điểm sử luận. Tôi xin bắt đầu bằng việc phê phán ngắn gọn quan điểm chủ toàn, vì giờ đây quan điểm này dường như trở thành một trong những lập trường mang tính quyết định của cái luận thuyết ta đang cần công kích.
Có một sự lẫn lộn, mơ hồ khi người ta dùng từ “toàn thể” (hay “chỉnh thể” - tiếng Anh là “whole” còn tiếng Pháp là “tout”) trong sách báo văn chương chủ toàn. Nó thường được dùng để chỉ (a) toàn bộ hoặc tất cả những đặc tính hoặc những khía cạnh của một sự vật, và đặc biệt là tất cả những mối quan hệ có được giữa những thành phần cấu thành nên sự vật đó, và thứ hai là để chỉ (b) một số đặc tính hoặc khía cạnh đặc biệt của sự vật đang được xét tới, cụ thể là những đặc tính hoặc khía cạnh khiến cho sự vật được thể hiện như một cấu trúc có tổ chức chứ không phải “chỉ là một mớ hỗn tạp”. Những chỉnh thể [hay toàn thể] hiểu theo nghĩa (b) thường vẫn được coi là những đối tượng của nghiên cứu khoa học, nhất là theo quan niệm của cái gọi là trường phái tâm lí học Geslalt [tâm lí học Hình Trạng]; và thực sự ta không có lí do gì khước từ việc nghiên cứu những khía cạnh chẳng hạn như những sự lặp đi lặp lại đều đặn theo trình tự (ví dụ như tính đối xứng) có thể được tìm thấy ở một số sự vật như các cơ thể sống, hoặc các dạng điện trường, hoặc các cỗ máy. Về những sự vật có những cấu trúc như vậy, ta có thể nói theo cách của lí thuyết Hình Trạng rằng chúng không chỉ là những khối kết tập lộn xộn - “không chỉ là tổng của các thành phần”.
Mọi ví dụ mà thuyết Hình Trạng đưa ra đều có thể được sử dụng để chứng minh rằng những chỉnh thể hay toàn thể hiểu theo nghĩa (b) khác xa so với những toàn thể hiểu theo nghĩa (a). Nếu ta cùng các lí thuyết gia Hình Trạng coi rằng một bản nhạc không chỉ là một tập hợp thu gom những nốt nhạc đơn lẻ hay một dãy những nốt nhạc đơn lẻ, vậy thì chúng ta phải chọn lấy một trong những khía cạnh nào đó của dãy nốt nhạc này để xem xét. So với những khía cạnh khác, có một khía cạnh dễ dàng được phân biệt hơn cả, chẳng hạn như cao độ tuyệt đối của nốt nhạc đầu tiên, hay cường độ trung bình tuyệt đối của các nốt nhạc, và rồi còn những khía cạnh Hình Trạng khác trừu tượng hơn so với những khía cạnh thuộc về giai điệu, ví dụ nhịp của bản nhạc; bởi vì khi xét đến nhịp, ta thậm chí đã bỏ qua cao độ tương đối, cái rất quan trọng trong một bản nhạc. Một khi đã có sự chọn lọc như vậy, việc nghiên cứu một Hình Trạng, và qua đó là việc nghiên cứu bất cứ toàn thể nào hiểu theo nghĩa (b) đều được phân biệt rất rõ ràng với việc nghiên cứu một tổng thể, tức là một toàn thể hiểu theo nghĩa (a).
Do đó, không thể đem việc có thể nghiên cứu những toàn thể hiểu theo nghĩa (b) một cách khoa học để biện minh cho một tuyên bố hoàn toàn khác cho rằng những toàn thể hiểu theo nghĩa (a) cũng có thể được nghiên cứu theo lối đó. Lời khẳng định sau phải bị bác bỏ. Nếu muốn nghiên cứu một sự vật, chúng ta buộc phải lựa chọn một vài khía cạnh nhất định. Chúng ta không thể xem xét hay mô tả một bộ phận nào đó của thế giới hay của tự nhiên như một toàn thể; trên thực tế, kể cả một bộ phận nhỏ nhất cũng không thể được mô tả như một toàn thể, vì mọi sự mô tả đều tất yếu phải mang tính chọn lọc (Trong cuốn Weltanschauungslebre, II/I (1908), ở trang 63, H. Gomperz đã chỉ cho thấy có thể mô tả một bộ phận của thế giới, ví dụ như một con chim sẻ đang hoảng sợ bay vụt lên, bằng rất nhiều mệnh đề khác nhau như sau, mỗi mệnh đề tương ứng với một khía cạnh khác nhau của nó: “con chim sẻ đang cất cánh”, “kia là con chim sẻ”, “một con vật kìa!”, “có cái gì ở kia đang chuyển động”, “ở đây năng lượng đang biến đổi”, “đây không phải là một chuyển động vĩnh cửu”, “con vật đáng thương kia đang sợ hãi”. Rõ ràng không bao giờ khoa học có nhiệm vụ cố gắng tìm cách bổ sung đầy đủ một danh sách kiểu như trên, một danh sách hẳn là vô tận. Còn trong cuốn Ethics, tập LIV (1943), chú thích 5, F. A. von Hayek đã sơ lược phê phán quan điểm chủ toàn khá giống với cách phê phán được đề xuất trong sách này).
Thậm chí ta có quyền nói những toàn thể hiểu theo nghĩa (a) không bao giờ có thể là đối tượng của bất kể hoạt động nào, dù đó là hoạt động khoa học hay một loại hoạt động nào khác. Giả sử ta đem một cơ thể hữu cơ đi chỗ khác rồi xử lí nó như xử lí một vật thể vật lí, bằng cách bỏ qua rất nhiều những khía cạnh của nó. Giả sử ta giết chết nó, tức là ta đã phá hủy đi một số đặc tính nhất định của nó, nhưng không bao giờ phá hủy được tất cả các đặc tính. Thực sự là chúng ta không có cách nào phá hủy toàn bộ các đặc tính của nó và toàn bộ mọi mối quan hệ qua lại giữa các thành phần của nó, kể cả khi ta nghiền vụn hay thiêu trụi nó.
Nhưng việc những toàn thể với tư cách những tổng thể không thể là đối tượng của nghiên cứu khoa học hay của bất cứ hoạt động nào kiểu như hoạt động kiểm soát hay hoạt động tái thiết dường như là một việc không được những người theo quan điểm chủ toàn tính đến, kể cả trong họ có những người chấp nhận rằng, về nguyên tắc, khoa học phải mang tính chọn l ọ c (W. Mannheim mô tả, sđd trang 167, khoa học trừu tượng hay khoa học chọn lọc như “công đoạn mà mọi khoa học đều phải trải qua nếu muốn nỗ lực để đạt đến tính chuẩn xác). Họ không hề nghi ngờ khả năng thấu hiểu về mặt khoa học đối với những toàn thể xã hội (theo nghĩa là những tổng thể), bởi họ tin vào tiền lệ của tâm lí học Hình Trạng. Bởi lẽ họ tin rằng sự khác nhau giữa cách tiếp cận Hình Trạng và cách nghiên cứu các toàn thể xã hội hiểu theo nghĩa (a), bao gồm trong đó “cấu trúc của mọi sự kiện xã hội và lịch sử của một thời đại”, chỉ nằm ở chỗ có thể thấu hiểu Hình Trạng bằng trực giác, còn các toàn thể xã hội thì “quá phức tạp, không thể liếc qua mà hiểu được”, cho nên “chỉ có thể nắm bắt chúng từng bước một, sau một quá trình suy ngẫm lâu dài, trong đó mọi yếu tố đều cần được ghi nhớ, được đem so sánh với nhau và được phối hợp (W. Mannheim, sđd, trang 184; xem thêm trang 230 và chú thích ở trang 170). Tóm lại, những nhà chủ toàn không nhận ra rằng năng lực tri giác Hình Trạng chẳng hề liên quan đến những toàn thể hiểu theo nghĩa (a), rằng mọi thứ tri thức, kể cả tri thức trực giác lẫn tri thức suy lí, đều là những tri thức về những khía cạnh trừu tượng, và rằng chúng ta không bao giờ có thể nắm bắt được “cấu trúc cụ thể của bản thân thực tại xã hội” (sđd, trang 230, ai cũng biết luận thuyết cho rằng chúng ta có thể lĩnh hội được một thứ tri thức cụ thể về “bản thân thực tại” là một bộ phận của cái có thể được gọi là chủ thuyết thần bí; và cũng đúng như vậy với những lời la lối nhằm thổi phồng những cái gọi là “toàn thể”).
Vì không nắm được điều đó, cho nên họ khẳng định rằng, việc nghiên cứu “những chi tiết vụn vặt” của nhà chuyên môn phải được bổ sung bằng một phương pháp “tích hợp” hay “tổng hợp” nhằm mục đích tái dựng “toàn bộ quá trình”; và rồi họ còn khẳng định rằng “xã hội học sẽ tiếp tục bỏ qua vấn đề cơ bản một khi các nhà chuyên môn vẫn còn khước từ xem xét những vấn đề của họ với tư cách một toàn thể” (chẳng hạn, có thể tham khảo trang 26 và 32 trong sđd.
Với việc phê phán thuyết duy toàn, tôi không có ý chống lại nhu cầu hợp lực giữa các ngành khoa học khác nhau. Nhất là khi chúng ta phải đối mặt với một vấn đề cụ thể mang tính phân mảnh đòi hỏi phải có sự hợp lực mới có thế giải quyết nó một cách thấu đáo. Khi đó hẳn không ai muốn phản đối. Nhưng điều này không liên quan chút nào tới ý muốn nắm bắt những toàn thể cụ thể bằng phương pháp tổng hợp có hệ thống, hay một phương pháp nào khác đại loại như vậy).
Nhưng một phương pháp chủ toàn như vậy hẳn chỉ có thể dừng lại ở cái ngưỡng là một cương lĩnh, xưa nay chưa hề thấy có một ví dụ nào về việc mô tả một cách khoa học một trạng thái xã hội cụ thể, toàn phần. Một ví dụ như vậy là không thể có, bởi trong bất cứ trường hợp nào như thế, người ta cũng có thể vạch ra những khía cạnh bị bỏ qua; những khía cạnh có thể lại rất quan trọng nếu xét chúng trong một số bối cảnh nhất định nào đó.
Ấy thế mà các nhà chủ toàn không những chỉ đề ra kế hoạch nghiên cứu toàn bộ xã hội với một phương pháp bất khả thi, mà họ còn vạch ra kế hoạch kiểm soát và tái thiết xã hội của chúng ta “với tư cách một toàn thể”. Họ rao giảng rằng “quyền lực của Nhà nước có xu thế tăng lên tới khi nó gần như đồng nhất với xã hội” (xem sđd, trang 337). Trực giác được thể hiện qua câu nói trên là khá rõ ràng, đó là thứ trực giác toàn trị (công thức được dẫn ra trên đây gần như trùng khớp với một công thức của C. Schmitt). Vậy ngoài việc biểu hiện trực giác nói trên, lời rao giảng này còn có ý gì khác không? Chữ “xã hội” ở đây tất nhiên hàm chứa mọi mối quan hệ xã hội trong đó bao gồm tất cả các mối quan hệ cá nhân; cả những mối quan hệ giữa người mẹ với đứa con lẫn những mối quan hệ giữa một tổ chức bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em với từng người, có rất nhiều lí do khiến ta không có cách nào kiểm soát được tất cả, hay “hầu hết”, những mối quan hệ như vậy; chí ít là bởi, đi kèm một sự kiểm soát mới nào đó đối với các quan hệ xã hội, ta lại phải tạo ra rất nhiều những mối quan hệ xã hội mới khác cần được kiểm soát. Tóm lại, tính bất khả ở đây là một tính bất khả thuộc về logic (các nhà chủ toàn hi vọng có thể thoát khỏi trở ngại này bằng việc phủ nhận tính có giá trị hiệu lực của logic học mà họ cho là có thể được thay thế bằng phép biện chứng. Tôi đã cố thử phản bác cách làm này trong bài viết của mình có tên “What is Dialectic?”, tạp chí Mind, tập 49 N. S., từ trang 403) (Nỗ lực này dẫn đến phép truy nguyên tới vô hạn; tình hình rất giống với nỗ lực nghiên cứu toàn thể xã hội - mà trong toàn thể ấy bao gồm cả việc nghiên cứu này). Vậy mà rõ ràng các nhà Không Tưởng vẫn kiên quyết thực hiện cái bất khả; bởi họ nói với chúng ta rằng, bên cạnh những việc khác, chúng ta thậm chí vẫn có khả năng “uốn nắn những mối tương giao cá nhân theo một đường lối hiện thực hơn” (xem K. Mannheim, sđd. trang 202. Phải lưu ý thêm rằng một thứ quan điểm chủ toàn tâm lí học hiện đang khá thịnh hành trong giới lí thuyết gia của ngành giáo dục) (Tất nhiên không ai nghi ngờ việc ta có thể, ngược với những toàn thể hiểu theo nghĩa (a), uốn nắn hoặc kiểm soát, hoặc thậm chí tạo ra những toàn thể hiểu theo nghĩa (b); chúng ta có thể sáng tác một bản nhạc, chẳng hạn; nhưng điều này chẳng liên quan gì đến những giấc mơ Không Tưởng về sự kiểm soát toàn diện).
Quan điểm Không Tưởng là thế. còn đối với thuyết sử luận thì tình hình cũng chẳng khả quan gì hơn. Bằng nhiều cách, các nhà chủ toàn theo thuyết sử luận vẫn thường khẳng định rằng phương pháp lịch sử là phương pháp nghiên cứu phù hợp với những toàn thể hiểu theo nghĩa là những tổng thể (học thuyết cho rằng lịch sử là cái liên quan chính đến “tất cả mọi cá thể cụ thể”, dù đó là các cá nhân, các sự kiện hay các thời đạí, đã được Troelsch biến thành cương lĩnh. Chân lí đó thường xuyên được Mannheim lấy làm tiền đề). Nhưng lời khẳng định đó là dựa trên một sự ngộ nhận. Nó xuất phát từ sự liên tưởng giữa một bên là niềm tin đúng đắn rằng khoa học lịch sử, khác với các khoa học lí thuyết, quan tâm đến những sự kiện đơn lẻ cụ thể và đến những nhân cách đơn lẻ chứ không phải đến những quy luật trừu tượng chung, và một bên là niềm tin sai lầm cho rằng có thể đồng nhất các cá thể “cụ thể” mà khoa học lịch sử quan tâm với những toàn thể “cụ thể” hiểu theo nghĩa (a). Nhưng không thể lẫn lộn và đồng nhất như vậy; bởi giống như các loại hình nghiên cứu khác, khoa học lịch sử chỉ có thể nghiên cứu những khía cạnh đã được chọn lọc của đối tượng mà nó quan tâm mà thôi. Thật sai lầm nếu tin rằng có một thứ khoa học lịch sử hiểu theo nghĩa chủ toàn, một thứ sử học về các “Nhà nước Xã hội”, hiện chân của “toàn bộ cơ chế xã hội”, hay của “mọi sự kiện xã hội và lịch sử của một thời đại”. Tư tưởng này xuất phát từ một cái nhìn trực giác đối với lịch sử nhân loại, coi lịch sử này giống như một dòng chảy lớn và có thể dễ dàng nhận biết của quá trình phát triển. Nhưng không cách gì viết được một cuốn lịch sử như thế. Mỗi cuốn lịch sử được viết ra chỉ là lịch sử của một khía cạnh hạn hẹp nhất định nào đó của quá trình phát triển “toàn diện” ấy, và dẫu gì thì cũng chỉ là một lịch sử rất không hoàn chỉnh kể cả về khía cạnh đặc thù thiếu hoàn chỉnh đã được lựa chọn.
Những khuynh hướng chủ toàn của thuyết Không Tưởng và của thuyết sử luận đều được quy tụ trong lời tuyên bố mang tính đặc trưng sau: “Chúng ta chưa bao giờ sắp đặt và điều khiển được toàn bộ hệ thống của tạo hóa một cách trọn vẹn như giờ đây ta buộc phải làm với xã hội của mình, và vì thế cũng chưa bao giờ ta đi sâu vào lịch sử và vào cấu trúc của những thế giới cá biệt của tạo hóa. Loài người có xu hướng... muốn quy chỉnh toàn bộ đời sống xã hội của mình, nhưng chưa hề có ý bắt tay tạo dựng một giới tạo hóa thứ hai...” (K, Mannheim, sđd, trang 175 tiếp sang trang 176). Lời tuyên bố này đã minh họa niềm tin sai lầm cho rằng nếu chúng ta là những nhà chủ toàn và mong muốn nghiên cứu và xử lí “một cách hoàn chỉnh toàn bộ hệ thống tạo hóa” thì phương pháp lịch sử là hữu hiệu hơn cả. Thế nhưng, những bộ môn khoa học tự nhiên có tiếp nhận phương pháp này, chẳng hạn địa chất, cũng còn xa mới nắm bắt được “toàn bộ hệ thống” đối tượng nghiên cứu của chúng. Tuyên bố trên còn minh họa cho một quan niệm sai lầm nữa cho rằng việc “sắp đặt”, hay “điều khiển”, hay “quy tắc hóa”, hay “tạo dựng” những toàn thể hiểu theo nghĩa (a) là một công việc có thể thực hiện được. Việc “chúng ta chưa bao giờ sắp đặt và điều khiển được toàn bộ hệ thống của tạo hóa” là một chân lí hiển nhiên, đơn giản là vì chúng ta thậm chí không thể sắp đặt và điều khiển nổi một cách “hoàn chỉnh” dù chỉ là một phần tách riêng của bộ máy vật chất. Không thể làm được điều này. Đó là những giấc mơ Không Tưởng, hay có lẽ là những sự ngộ nhận, và rồi cho rằng ngày nay chúng ta buộc phải làm một việc bất khả dĩ về mặt logic, cụ thể là phải sắp đặt và điều khiển toàn bộ hệ thống xã hội, và phải quy tắc hóa toàn bộ đời sống xã hội, đó chẳng qua chỉ là một nỗ lực điển hình nhằm mang những thứ như “những động lực lịch sử” và “những bước phát triển sắp tới” ra để hù dọa chúng ta, những thứ buộc ta không còn cách nào khác là phải chấp nhận vạch ra những kế hoạch Không Tưởng.
Có một điều hay nữa là, với lời tuyên bố được trích dẫn trên đây, người ta lại tình cờ chấp nhận một quan điểm rất quan trọng và có ý nghĩa, đó là: kĩ nghệ chủ toàn hay cái thứ “khoa học” tương ứng với nó không hề mang một dáng dấp vật chất nào. Do đó, để làm rõ điều này, việc theo dõi sát sao những điểm giống nhau giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội là một việc làm rất hữu ích.
Đó chính là vị thế logic của thuyết chủ toàn, là hòn đá tảng khiến ta vững tâm lấy làm nền móng để xây dựng một thế giới mới.Có lẽ cũng cần nêu thêm một nhận xét có tính phê phán về những toàn thể hiểu theo nghĩa (b), những toàn thể tôi cho là có vị thế khoa học. Dù không rút lại bất cứ ý kiến nào đã trình bày ở các phần trên, tôi vẫn phải nói rõ một việc là, hiếm khi người ta nhận thấy tính thiếu đặc sắc và tính mơ hồ của lời khẳng định cho rằng toàn thể là một cái gì đó khác hơn là tổng các bộ phận hợp thành của nó. Thậm chí ba quả táo, trong một cái đĩa cũng khác hơn “tổng số của chỉ ba quả”, ít ra là vì chắc chắn còn phải tính đến cả những mối quan hệ giữa chúng (so với hai quả còn lại hẳn sẽ có quả to hơn, mà cũng có thể không,.v..v.): đó là những mối quan hệ không suy ra được từ việc có ba quả táo và là những mối quan hệ có thể được nghiên cứu một cách khoa học. Do đó, sự đối lập thường được nhấn mạnh hơi nhiều giữa cách tiếp cận “nguyên tử luận” và cách tiếp cận Hình Trạng là một sự đối lập không có cơ sở, chí ít là những gì thấy được ở địa hạt vật lí nguyên tử: bởi vì vật lí nguyên tử không chỉ thỏa mãn với việc “cộng gộp” các hạt cơ bản của nó, mà nó còn phải nghiên cứu các hệ thống hạt trên quan điểm gắn bó một cách sít sao với những toàn thể hiểu theo nghĩa (b). (Chẳng hạn có thể tham khảo nguyên lí loại trừ của Pauli. Đối với các nhà nghiên cứu xã hội, những ý niệm như thi đua hay phân cấp lao động cho ta thấy một cách hết sức rõ ràng là cách tiếp cận “nguyên tử luận” hay “duy cá thể” không thể nào khiến ta không nhận ra rằng một cá nhân nào đó bất kì đều phải nằm trong mối tương tác với tất cả những cá nhân khác. Trong tâm lí học thì tình hình lại khác, vì dường như quan điểm nguyên tử luận không áp dụng được ở đây - dù đã có nhiều nổ lực).
Điều hầu hết các lí thuyết gia Hình Trạng có vẻ muốn khẳng định là sự tồn tại của hai kiểu sự vật, “những khối chồng đống” mà trong đó ta không tìm thấy một trật tự nào, và “những chỉnh thể” trong đó ta có thể tìm thấy một trật tự hay một sự đối xứng hay một quy tắc hay một hệ thống hay một sơ đồ cấu trúc. Vậy là, một mệnh đề như kiểu “Các cơ thể sống là những chỉnh thể” bản thân nó sẽ tự được quy giản thành một ý niệm quá tầm thường cho rằng chúng ta có thể tìm thấy một số trật tự nào đó trong một cơ thể sống. Thêm nữa, cái được gọi là “chồng đống” về nguyên tắc cũng có khía cạnh Hình Trạng của nó. Điều đó ít ra cũng thường xuyên thấy được trong các ví dụ về điện trường (Hoặc việc áp suất luôn có chiều hướng tăng dần trong một đống sỏi đá). Do vậy, sự phân biệt này không những chỉ tầm thường, không có gì đặc sắc, mà nó còn hết sức mơ hồ; và cũng không thể áp dụng nó cho các sự vật hay sự việc khác nhau, mà chỉ áp dụng được cho những khía cạnh khác nhau của cùng những sự việc hay sự vật.
Nguyên tác: The poverty of historicism, Karl Popper (Routledge, 1974)
Bản dịch: NXB Tri thức, Chu Lan Đình dịch.
