Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 4: Phê phán những luận thuyết duy tự nhiên luận (Phần 4)
30. KHOA HỌC LÝ THUYẾT VÀ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Luận đề về tính thống nhất của phương pháp khoa học - mà tôi vừa mới đưa ra ý kiến ủng hộ việc áp dụng nó cho các môn khoa học lí thuyết - có thể được mở rộng, trong những giới hạn nhất định, cho lĩnh vực các môn khoa học lịch sử. Ta có thể làm việc này mà vẫn không quên sự khác biệt căn bản giữa các môn khoa học lí thuyết và các môn khoa học lịch sử - chẳng hạn, giữa một bên là xã hội học hay lí thuyết kinh tế, hay lí thuyết chính trị và bên kia là lịch sử xã hội, kinh tế, và chính trị - một sự phân biệt từng thường xuyên được các sử gia nổi tiếng khẳng định một cách chắc nịch. Đó là sự phân biệt giữa mối quan tâm đến những định luật phổ quát và mối quan tâm đến những thực kiện riêng lẻ. Tôi rất muốn bảo vệ quan điểm này, một quan điểm mà các sử gia thường hay phản đối và coi là lỗi thời, theo đó, lịch sử được đặc trưng bởi mối quan tâm của nó đến những sự kiện thực tế, đơn lẻ hay đặc thù, chứ không phải những định luật hay những sự khái quát hóa.
Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với những phân tích về phương pháp khoa học, nhất là về phép kiến giải nhân quả, được đề cập ở những mục trước. Sự việc đơn giản như sau: trong khi các khoa học lí thuyết chủ yếu quan tâm đến việc phát hiện và trắc nghiệm các định luật phổ quát thì các khoa học lịch sử lại chấp nhận mọi loại định luật phổ quát và chủ yếu quan tâm đến việc phát hiện và trắc nghiệm những phát biểu ghi nhận riêng. Chẳng hạn, khi có sẵn trước mắt một sự kiện riêng “cần được giải thích”, họ sẽ đi tìm bằng được những điều kiện riêng ban đầu (kèm theo đó là mọi thứ định luật phổ quát đôi khi chẳng mấy quan trọng) để giải thích "điều cần được giải thích” đó. Hoặc họ có thể trắc nghiệm một giả thuyết đơn lẻ bằng cách sử dụng chính nó kèm thêm những phát biểu ghi nhận đơn lẻ khác như một điều kiện ban đầu, và bằng cách xuất phát từ những điều kiện ban đầu ấy (một lần nữa kèm với mọi thứ định luật phổ quát đôi khi chẳng mấy quan trọng) để suy diễn ra một “dự báo” mới nào đó có thể mô tả được một sự kiện vốn từng xảy ra rất lâu trong quá khứ, và vốn có thể đối chiếu với bằng chứng thường nghiệm - có thể là với các tài liệu hoặc những di chỉ,.v..v.
Theo cách hiểu của phép phân tích kiểu này thì mọi kiến giải nhân quả về một sự kiện đơn lẻ đều có thể được coi là một kiến giải lịch sử một khi “nguyên nhân” luôn được mô tả thông qua những điều kiện ban đầu. Và điều này hoàn toàn thống nhất với ý niệm phổ thông cho rằng giải thích một sự việc theo lối nhân quả là giải thích xem sự việc đó đã xảy ra như thế nào và tại sao lại xảy ra, có nghĩa là “kể chuyện” về sự việc đó. Nhưng chỉ có trong môn sử học ta mới thực sự quan tâm đến sự kiến giải nhân quả về một sự kiện đơn lẻ. Trong những môn khoa học lí thuyết, những kiến giải nhân quả kiểu ấy chủ yếu là những phương tiện dùng cho một mục đích khác - dùng để trắc nghiệm các định luật phổ quát.
Nếu những nhận xét trên chính xác thì mối quan tâm cháy bỏng đối với những vấn đề về nguồn gốc của môt số nhà tiến hóa luận và sử luận - những người tỏ ra khinh miệt loại sử học cổ lỗ và mong muốn cải biến nó thành một môn khoa học lí thuyết - đã ít nhiều được đặt không đúng chỗ. Những câu hỏi về nguồn gốc là những câu hỏi thuộc loại “như thế nào và tại sao”. Chúng không lấy gì làm quan trọng lắm xét về mặt lí thuyết và thường chỉ đưa lại một mối quan tâm mang tính lịch sử đặc thù.
Để phản đối cách phân tích của tôi về kiến giải lịch sử, người ta có thể lập luận rằng trên thực tế chính môn sử học đang sử dụng những định luật phổ quát, ngược lại với lời tuyên bố hùng hồn của rất nhiều sử gia rằng sử học chẳng quan tâm gì đến những định luật như vậy (cách phân tích của tôi có thể tương phản với cách phân tích của Morton G. White, "Kiến giải Lịch sử" (Historical Explanation) (Mind, N. S., tập 52, các trang từ 212), là cách phân tích dựa trên cơ sở thuyết kiến giải lịch sử của chính tôi, nhưng được trình bày lại trong một bài viết của C. G. Hempel. Tuy nhiên ông ta lại đi đến một kết luận rất khác. Bỏ qua mối quan tâm mang tính đặc trưng của nhà sử học đến những sự kiện đơn lẻ, ông ta đã gợi ý rằng một sự kiến giải chỉ mang tính “lịch sử” nếu nó được đặc trưng bởi việc sử dụng những ngôn từ xã hội học và các lí thuyết). Ở đây ta có quyền đáp lại rằng một sự kiện đơn lẻ chỉ có thể là nguyên nhân của một sự kiện đơn lẻ khác - là kết quả - trong mối tương quan với một số định luật phổ quát nhất định (Điều này đã được Max Weber xem xét đến. Những nhận xét ở trang 179 trong cuốn Ges. Schr. zur Wissenschaftslehre (1922) của ông có lẽ là gần gũi nhất theo tôi được biết với cách phân tích ở đây. Nhưng tôi cho là Weber đã nhầm khi ông gợi ý rằng sự khác nhau giữa khoa học lí thuyết và Khoa học lịch sử nằm ở cấp độ khái quát của những định luật được sử dụng). Nhưng rất có thể những định luật này là những thứ quá tầm thường, hầu như gắn với kiến thức thường nhật mà ta không cần nhắc đến và cũng hiếm khi để ý đến. Khi ta nói Giordano Bruno chết vì bị thiêu trên giàn thiêu thì ta cũng đâu có cần phải viện đến định luật phổ quát cho rằng mọi sinh linh đều sẽ chết trong môi trường nhiệt độ quá cao. Nhưng một định luật như vậy đã luôn được ngầm định trong cách kiến giải nhân quả của chúng ta.
Trong những lí thuyết do nhà sử học chính trị đề xuất tất nhiên là có một số lí thuyết thuộc lĩnh vực xã hội học - chẳng hạn như thuộc môn xã hội học quyền lực. Nhưng theo thông lệ thì nhà sử học sử dụng cả những lí thuvết này mà không ý thức được về chúng. Chủ yếu anh ta không sử dụng chúng như những định luật phổ quát nhằm giúp trắc nghiệm những giả thuyết của mình, mà sử dụng chúng một cách mặc nhiên trong hệ thuật ngữ của mình. Trong khi bàn về các chính thể, các quốc gia, các quân đội, anh ta thường sử dụng một cách vô thức những “mô hình” mà phép phân tích xã hội học khoa học hay tiền khoa học cung cấp (xem mục tiếp sau).
Có thể nhận thấy rằng không chỉ có các khoa học lịch sử là giữ một thái độ như vậy đối với những định luật phổ quát. Hễ thực sự đem áp dụng khoa học cho một bài toán đơn lẻ hay đặc thù là ta lại vấp phải tình huống này. Chẳng hạn, nhà hóa học ứng dụng không mấy khi dựa vào bất cứ định luật phổ quát nào khi định phân tích một hỗn hợp nào đó - ví dụ như một mẩu đất đá. Thay vào đó, anh ta áp dụng, có lẽ cũng chẳng cần suy nghĩ nhiều, một vài kiến thức chuyên môn thông thường mà xét từ góc độ logic thì đó là những phép trắc nghiệm đối với các giả thuyết đơn lẻ kiểu như “hỗn hợp này có chứa lưu huỳnh”. Mối quan tâm của anh ta chủ yếu mang tính lịch sử - mô tả một tập hợp các sự kiện, hoặc một vật thể vật lí đơn lẻ.
Tôi tin rằng cách phân tích này nêu rõ được nội dung những cuộc luận chiến quen thuộc giữa một số nhà nghiên cứu về phương pháp của môn sử học. Nhóm các nhà sử luận khẳng định rằng sử học - bộ môn không chỉ có nhiệm vụ liệt kê các thực kiện mà còn phải cố gắng thể hiện chúng thông qua một số mối liên kết nhân quả nhất định - cần phải quan tâm đến việc trình bày những định luật lịch sử, bởi về căn bản, tính nhân quả có nghĩa là sự xác định bằng định luật. Nhóm kia, trong đó có cả một số nhà sử luận, thì lập luận rằng kể cả những thực kiện “đơn nhất” - những thực kiện chỉ xảy đến một lần và chẳng có chút nào là “khái quát” - cũng rất có thể là nguyên nhân của những thực kiện khác, và rằng chính kiểu quan hệ nhân quả này là kiểu mà môn sử học quan tâm. Giờ đây ta có thể thấy mỗi nhóm đều có phần đúng phần sai. Cả định luật phổ quát lẫn những sự kiện đặc thù đều cần thiết cho bất cứ phép kiến giải nhân quả nào, nhưng ngoài những môn khoa học lí thuyết thì những định luật phổ quát thường tỏ ra không mấy quan trọng.
Điều này dẫn đến vấn đề về tính đơn nhất của các sự kiện lịch sử. Trong chừng mực mà phép kiến giải lịch sử về những sự kiện tiêu biểu còn liên quan mật thiết đến chúng ta thì những sự kiện ấy nhất thiết phải được xem như là tiêu biểu, xem như thuộc loại hình hay lớp các sự kiện, vì chỉ như thế mới có thể áp dụng được phương pháp kiến giải nhân quả mang tính diễn dịch. Tuy nhiên, sử học không chỉ quan tâm giải thích những sự kiện đặc thù mà còn quan tâm đến việc mô tả một sự kiện đặc thù như nó vốn thế. Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sử học chắc chắn là mô tả những sự kiện xảy ra trong toàn bộ tính độc đáo và đơn nhất của chúng; có nghĩa là, phải bao hàm được cả những khía cạnh mà nó không tìm cách giải thích bằng quan hệ nhân quả, thể như tính đồng thời “ngẫu nhiên” của những sự kiện mà giữa chúng không hề có một mối quan hệ nhân quả nào. Hai nhiệm vụ này của sử học, gỡ rối những mối dây nhân quả và mô tả cách thức mà những mối dây ấy “ngẫu nhiên” đan dệt vào nhau, đều thiết yếu cả, và chúng bổ sung cho nhau; một lúc nào đó có thể coi một sự kiện là tiêu biểu, tức là xem nó từ góc độ của sự kiến giải nhân quả, để rồi lúc khác nó lại là đơn nhất.
Có thể áp dụng những nhận định trên cho cả vấn đề về tính mới lạ từng được bàn đến ở mục 3. sự khác biệt giữa “tính mới lạ trong cách sắp xếp” và “cái mới thực chất” tương ứng với sự khác biệt ở đây giữa quan điểm về kiến giải nhân quả và quan điểm đánh giá cao cái đơn nhất.
Một khi cái mới có thể được phân tích và tiên đoán bằng lí tính thì không bao giờ nó có thể là “thực chất”. Điều này phủ nhận luận điểm sử luận cho rằng có thể áp dụng được khoa học xã hội cho vấn đề tiên đoán sự xuất hiện của những sự kiện mới về thực chất - một yêu sách mà ta có thể nói là rốt cuộc nó được đưa ra dựa trên một sự phân tích không đầy đủ về phép tiên đoán và về phép kiến giải nhân quả.
Nguyên tác: The poverty of historicism, Karl Popper (Routledge, 1974)
Bản dịch: NXB Tri thức, Chu Lan Đình dịch.
