Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 4: Phê phán những luận thuyết duy tự nhiên luận (Phần 3)

Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 4: Phê phán những luận thuyết duy tự nhiên luận (Phần 3)

29. TÍNH THỐNG NHẤT CỦA PHƯƠNG PHÁP

Trong mục trước tôi đã gợi ý rằng các phương pháp diễn dịch đang được nghiên cứu ở đây là rất có ý nghĩa và được sử dụng một cách hết sức rộng rãi - mà đến như Mill cũng chưa từng nghĩ tới. Suy nghĩ này tới đây sẽ được tiếp tục xem xét nhằm làm rõ hơn cuộc tranh luận giữa chủ thuyết duy tự nhiên và chủ thuyết phản tự nhiên. Trong mục này tôi sẽ đề xuất một luận điểm về tính thống nhất của phương pháp; có nghĩa là, đề xuất một quan điểm cho rằng mọi bộ môn khoa học lí thuyết hay khoa học khái quát hóa đều sử dụng chung một loại phương pháp, dù là các bộ môn khoa học tự nhiên hay các bộ môn khoa học xã hội (cho đến mục 31 tôi mới bàn đến các khoa học lịch sử). Đồng thời tôi cũng sẽ bàn đến một số luận điểm của thuyết sử luận mà cho đến giờ tôi chưa có dịp xem xét đầy đủ, ví dụ những vấn đề về phép Khái Quát Hóa; về chủ thuyết Duy Bản Chất; về vai trò của Nhận Thức Trực Giác; về Độ Thiếu Chính Xác Của Tiên Đoán; về Tính Phức Hợp; và về việc áp dụng các Phương Pháp Định Lượng.

Tôi không có ý khẳng định rằng không hề có những khác biệt nhất định giữa các phương pháp của những bộ môn khoa học lí thuyết về tự nhiên và về xã hội; những sự khác biệt như vậy rõ ràng phải có, kể cả giữa các bộ môn khoa học tự nhiên khác nhau, cũng như giữa các bộ môn khoa học xã hội khác nhau (chẳng hạn, so sánh với việc phân tích các thị trường mang tính cạnh tranh và việc phân tích các ngôn ngữ thuộc cùng ngữ hệ Roman). Nhưng tôi đồng ý với Comte và Mill - và nhiều người khác, chẳng hạn như C. Menger - rằng các phương pháp được sử dụng trong cả hai lĩnh vực là giống nhau (dù những phương pháp mà tôi hình dung trong đầu rất có thể khác với những phương pháp mà họ hình dung trong đầu). Phương pháp nào cũng chỉ luôn nhằm đưa ra những kiến giải nhân quả mang tính suy diễn, và nhằm trắc nghiệm chúng (thông qua những tiên đoán). Đôi khi cái này được người ta gọi là phương pháp diễn-dịch-giả-thuyết (xem V. Kraft, “Các hình thức cơ bản của phương pháp khoa học” (Die Grundformen Der Wissenschaftlichen Methoden), 1925), hoặc thường được gọi là phương pháp dựa trên giả thuyết, vì nó không nhằm đạt tới sự chắc chắn tuyệt đối đối với bất kì phát biểu ghi nhận khoa học nào mà nó trắc nghiệm; đúng ra thì, những phát biểu ghi nhận như vậy luôn duy trì đặc tính của những giả thuyết thăm dò, mặc dù đặc tính thăm dò của chúng có thể sẽ không còn hiển nhiên mấy nữa sau khi chúng đã trải qua một số lượng rất lớn những phép trắc nghiệm nghiêm ngặt.

Bởi đặc tính thăm dò hoặc tạm bợ của chúng mà hầu hết các nhà nghiên cứu về phương pháp thường coi các giả thuyết là những cái tạm bợ hiểu theo nghĩa là rốt cuộc chúng sẽ được thay thế bởi những lí thuyết đã được chứng minh (hay ít nhất bởi những lí thuyết mà người ta có thể chứng minh là chúng có tính “khả nhiên rất cao” dựa trên một vài phép tính xác suất nhất định nào đó). Tôi tin rằng quan điểm này là sai lầm, và rồi nó sẽ dẫn đến vô số những khó khăn không cần thiết. Nhưng xét về mặt tương quan thì vấn đề này ở đây chưa phải là vấn đề quan trọng lắm. Điều quan trọng ở đây là làm sao phải ý thức được rằng trong khoa học ta luôn luôn phải bận tâm đến những kiến giải, những tiên đoán, những trắc nghiệm, và rằng phương pháp trắc nghiệm các giả thuyết luôn luôn giống nhau (xem lại mục trước). Xuất phát từ giả thuyết cần được mang ra trắc nghiệm - chẳng hạn, một định luật phổ quát - kèm với một số phát biểu ghi nhận khác mà với mục đích này được coi như không có vấn đề - chẳng hạn, một số điều kiện ban đầu - ta suy ra một số dự đoán. Tiếp đó, bất cứ lúc nào có thể, ta phải đối chiếu lời dự đoán này với những kết quả thực nghiệm hay những quan sát khác. Ta coi sự phù hợp với những kết quả này là sự chứng thực cho giả thuyết, nhưng không phải là phép chứng minh cuối cùng; còn sự không phù hợp thì rõ ràng phải được coi như sự phủ bác hay sự kiểm sai. (Xin xem cuốn “Logic phát kiến khoa học” của tôi mà những gì trình bày trong mục này là dựa vào đó, nhất là luận điểm cho rằng các trắc nghiệm đều được thực hiện thông qua phép diễn dịch (“thuyết diễn dịch”) chứ không dựa một cách vô ích vào bất cứ một phép “quy nạp” nào nữa, bởi các lí thuyết luôn duy trì đặc tính giả thuyết của mình (“thuyết giả thuyết”), và dựa trên luận điểm cho rằng trắc nghiệm khoa học là những nỗ lực xác thực nhằm kiểm sai các lí thuyết (“thuyết loại trừ”); xem thêm những thảo luận về khả năng trắc nghiệm và khả năng kiểm sai.

Sự đối lập được chỉ ra ở đây giữa thuyết diễn dịch và thuyết quy nạp tương ứng xét trên một vài khía cạnh với sự phân biệt kinh điển giữa thuyết duy lí và thuyết duy nghiệm: Descartes là người theo thuyết duy diễn dịch, vì ông quan niệm mọi khoa học đều là những hệ thống diễn dịch, trong khi tất cả các nhà duy nghiệm Anh kể từ Bacon đều coi các khoa học như hoạt động thu thập những quan sát mà từ đó người ta đưa ra những khái quát hóa thông qua phép quy nạp.

Nhưng Descartes lại tin rằng những nguyên lí, những tiền đề của các hệ thống diễn dịch, phải là bảo đảm và hiển nhiên - “rõ ràng và minh bạch”. Chúng được xây dựng trên nền tảng của một tuệ kiến có lí tính (chúng mang tính tổng hợp và có giá trị hiệu lực một cách tiên nghiệm, theo ngôn từ của Kant). Ngược lại với quan điểm này, tôi cho rằng chúng là những phỏng định hay những giả thuyết thăm dò. Tôi cho rằng về nguyên tắc, những giả thuyết như thế phải có khả năng bị bác bỏ: chính từ điểm này mà tôi rẽ theo một hướng khác so với hai nhà diễn dịch lớn của thời đại là Henri Poincaré và Pierre Duhem.

Cả Poincaré lẫn Duhem đều thừa nhận tính bất khả trong việc xem các lí thuyết vật lí như những khái quát hóa mang tính quy nạp. Hai ông đã nhận thấy rằng những phép đo mang tính quan sát mà người ta tưởng là xuất phát điểm của các phép khái quát hóa thực ra chỉ là những phép diễn giải được trình bày dưới ánh sáng của các lí thuyết. Và rồi họ không chỉ vứt bỏ chủ thuyết quy nạp mà còn vứt bỏ cả niềm tin có vẻ như duy lí vào những nguyên lí hay những tiền đề tổng hợp có giá trị hiệu lực một cách tiên nghiệm. Poincaré diễn giải chúng như đúng trên cơ sở phân tích, như là những định nghĩa; Duhem diễn giải chúng như những công cụ (giống như cách diễn giải của Cardinal Bellarmino và Bishop Berkeley), như những phương tiện để sắp xếp thứ tự những định luật thực nghiệm - những định luật thực nghiệm mà ông cho là có được nhờ phép quy nạp. Những lí thuyết do vậy không hề chứa đựng thông tin đúng hay thông tin sai, chúng bất quá chỉ là những công cụ vì chúng chỉ có thể tiện lợi hoặc không tiện lợi, kinh tế hoặc không kinh tế, uyển chuyển và tinh tế hoặc lủng củng và thô lậu (do vậy mà Duhem nhất trí với Berkeley rằng chẳng có lí do logic nào để không cùng lúc chấp nhận hai hay nhiều lí thuyết mâu thuẫn với nhau). Tôi hoàn toàn đồng tình với hai tác giả lớn này về việc phải vứt bỏ chủ thuyết quy nạp cũng như niềm tin vào tính có giá trị hiệu lực mang tính tổng hợp một cách tiên nghiệm của các lí thuyết vật lí; nhưng tôi không chấp nhận quan điểm của họ cho rằng không thể nào dùng những phép trắc nghiệm thường nghiệm để trắc nghiệm các hệ thống lí thuyết. Một số trong chúng là có thể trắc nghiệm được, tôi nghĩ vậy; có nghĩa là, chúng có thể bị phủ bác; do đó chúng mang tính tổng hợp (chứ không phải phân tích), thường nghiệm (chứ không tiên nghiệm), mang tính thông tin (chứ không hoàn toàn mang tính công cụ). Còn liên quan đến ý kiến phê phán nổi tiếng của Duhem đối với những thí nghiệm then chốt thì ông chỉ chỉ ra được rằng những thí nghiệm then chốt không bao giờ có thể chứng minh hoặc xác lập được một lí thuyết; nhưng chẳng thấy ở đâu ông chỉ ra rằng những thí nghiệm then chốt không thể bác bỏ một lí thuyết. Theo đó thì Duhem đã đúng khi ông nói rằng chúng ta chỉ có thể trắc nghiệm được những hệ thống lí thuyết lớn và phức hợp chứ khó có thể trắc nghiệm được những giả thuyết cô lập; nhưng nếu ta trắc nghiệm hai hệ thống loại này vốn chỉ khác nhau ở một giả thuyết, và nếu ta thiết kế được những thí nghiệm có khả năng bác bỏ hệ thống đầu trong khi hệ thống sau được xác chứng một cách hoàn hảo, thì ta có thể có cơ sở vững chắc khi gán thất bại của hệ thống đầu cho cái giả thuyết khiến nó khác với hệ thống sau.)

Theo cách phân tích như vậy thì không có sự khác biệt lớn giữa kiến giải, tiên đoán và trắc nghiệm. Sự khác biệt không phải là về mặt cấu trúc logic mà là về mặt cái gì được nhấn mạnh; nó phụ thuộc vào việc chúng ta coi đâu là bài toán mình cần giải quyết và đâu là không phải. Nếu bài toán của chúng ta không phải là đưa ra dự đoán mà phải tìm cho được những điều kiện ban đầu hay một số định luật phổ quát (hay cả hai) để từ đó suy ra một “dự đoán” có sẵn, thì tức là ta đang đi tìm một lời giải thích (và “dự đoán” có sẵn trở thành cái ta “phải giải thích”). Nếu coi các định luật và điều kiện ban đầu là cho sẵn (chứ không cần tìm kiếm) và chỉ sử dụng chúng nhằm suy ra dự đoán, thông qua đó để có được thông tin mới, thì tức là ta đang tìm cách đưa ra một tiên đoán (đây là trường hợp ta áp dụng những kết quả khoa học của mình), còn nếu ta coi một trong những tiền đề, tức là hoặc một định luật phổ quát hoặc một điều kiện ban đầu, là có vấn đề, và dự đoán được cái gì đó cần mang ra so sánh với những kết quả thực nghiệm, thì có nghĩa là ta đang nói về một phép trắc nghiệm đối với tiên đề đang cần xem xét lại.

Kết quả của các phép trắc nghiệm là sự chọn lọc các giả thuyết đứng vững được trước các thử thách, hoặc việc loại trừ những giả thuyết không đứng vững, và do đó cần bị vứt bỏ. Điều quan trọng là phải thấy được những hệ quả của quan điểm này; chúng là: mọi phép trắc nghiệm đều có thể được diễn giải như những nỗ lực nhằm gạt bỏ những lí thuyết sai lầm của chúng ta - nhằm tìm ra những điểm yếu của lí thuyết để vứt bỏ nó nếu nó bị phép trắc nghiệm kiểm sai. Đôi khi quan điểm này bị coi là mâu thuẫn; ai cũng cho rằng mục đích của ta là xác lập các lí thuyết, chứ không phải loại bỏ những lí thuyết sai. Nhưng chính vì mục đích của ta là xác lập các lí thuyết càng khả quan càng tốt, cho nên ta phải hết sức trắc nghiệm chúng càng nghiêm ngặt càng tốt; có nghĩa là ta phải cố tìm cho bằng được chúng sai chỗ nào, cố tìm cách kiểm sai chúng. Chỉ khi không còn kiểm sai được chúng nữa, dù đã nỗ lực tối đa, thì ta mới có quyền nói là chúng đã đứng vững trước những phép trắc nghiệm nghiêm ngặt. Đó chính là lí do vì sao việc phát hiện ra những ví dụ khẳng định một lí thuyết lại chẳng có nhiều ý nghĩa nếu ta chưa từng cố, và không thành công, trong việc tìm ra những lí do bác bỏ nó. Bởi vì nếu không có thái độ phê phán thì ta sẽ luôn tìm được những gì ta muốn; ta sẽ đi tìm, và sẽ tìm được, những lời khẳng định, và ta sẽ tránh né, và không chịu nhìn thấy, tất thảy những gì tỏ ra nguy hiểm đối với những lí thuyết mà ta yêu thích. Với cách thức như thế thì sẽ quá dễ dàng tìm được những thứ xem như bằng chứng không thể phủ nhận nhằm chứng minh cho một lí thuyết mà nếu tiếp cận nó với thái độ phê phán thì sẽ thấy lẽ ra nó đã phải bị bác bỏ. Để khiến cho phương pháp chọn lọc thông qua loại trừ vận hành tốt, và để đảm bảo rằng chỉ có những lí thuyết nào thích nghi mới tồn tại, thì cuộc đấu tranh sinh tồn của chúng phải vô cùng khắc nghiệt.

Nói ngắn gọn, đó là phương pháp của mọi môn khoa học dựa trên kinh nghiệm. Thế nhưng còn phương pháp ta sử dụng để có được những lí thuyết hay giả thuyết của mình thì sao? Những phép khái quát hóa quy nạp và cách ta đi từ quan sát đến lí thuyết thì sao? Đối với thắc mắc này (và đối với những luận điểm được đề cập ở mục 1 xét như chúng chưa được giải quyết ở mục 26) thì tôi xin đưa ra hai câu trả lời. (a) Tôi tin rằng chẳng bao giờ chúng ta tiến hành những phép khái quát hóa quy nạp hiểu theo nghĩa là ta bắt đầu bằng những quan sát rồi từ đó cố suy ra những lí thuyết của mình cả. Theo tôi thì thiên kiến mà ta có được theo lối này chỉ là một thứ ảo giác, và rằng không ở một trình độ phát triển nào của khoa học mà ta lại không bắt đầu với một cái gì đó mang tính chất của một lí thuyết, kiểu như một giả thuyết, một thiên kiến hay một bài toán, thường là một bài toán công nghệ, vốn ít nhiều hướng dẫn những quan sát của chúng ta và giúp ta lọc ra giữa vô vàn những đối tượng quan sát những gì quan trọng với mình (để tham khảo một ví dụ rất bất ngờ về cách mà lí thuyết đã dẫn đường cho thậm chí cả những quan sát về thực vật (và thậm chí còn bị ảnh hưởng bởi thiên kiến), xin xem O. Frankel, “Cytology and Taxonomy of Hebe, etc.” trong tạp chí Nature, tập 147, trang 117).

Nhưng nếu đúng như vậy thì phương pháp loại trừ - không gì khác là phương pháp thử sai đã được đề cập ở mục 24 - lúc nào cũng có thể áp dụng được. Tuy nhiên, ở đây tôi nghĩ không cần thiết nhấn mạnh quá vào điểm này. Bởi lẽ ta có thể nói (b) rằng xét từ góc độ khoa học thì không có gì quan trọng lắm việc liệu ta có được những lí thuyết của mình bằng cách đi ngay đến những kết luận không chắc chắn hay bằng cách tình cờ có được chúng (tức là bằng “trực giác”), hoặc giả bằng một phương pháp quy nạp nào đó. Câu hỏi “Thoạt tiên bạn phát hiện ra lí thuyết của mình như thế nào?” có thể nói là một câu hỏi hoàn toàn mang tính cá nhân, ngược lại với câu hỏi “Bạn trắc nghiệm lí thuyết của mình như thế nào?”, là câu hỏi duy chỉ có nó liên quan đến khoa học. Và phương pháp trắc nghiệm được mô tả ở đây là một phương pháp “màu mỡ”; nó dẫn đến những phép quan sát mới mẻ, và đến sự cho-nhận lẫn nhau giữa lí thuyết và quan sát.

Tôi tin rằng tất cả những điều nói trên không những chỉ đúng cho các môn khoa học tự nhiên mà còn đúng cả cho các môn khoa học xã hội. Và trong các môn khoa học xã hội thì việc ta không thể nhìn thấy hoặc quan sát thấy những đối tượng của mình trước khi suy nghĩ về chúng thậm chí còn hiển nhiên hơn là trong các môn khoa học tự nhiên. Bởi hầu hết những đối tượng của khoa học xã hội, nếu không muốn nói tất cả, đều là những đối tượng trừu tượng; chúng là những cấu trúc lí thuyết (dù ai có thấy lạ lẫm thì “chiến tranh” hay “quân đội” thậm chí cũng chỉ là những khái niệm trừu tượng. Những gì được coi là cụ thể, đó là rất nhiều người đã hi sinh; hoặc đó là những người đàn ông và những phụ nữ mặc quân phục,.v..v.). Những đối tượng ấy, những cấu trúc lí thuyết được sử dụng để diễn giải kinh nghiệm của chúng ta, đều là kết quả của việc tạo dựng các mô hình (nhất là những mô hình của các thiết chế), nhằm giải thích một số kinh nghiệm nhất định nào đó - một phương pháp lí thuyết quen thuộc được sử dụng trong các môn khoa học tự nhiên (nơi mà ta xây dựng cho mình những mô hình nguyên tử, phân tử, chất rắn, chất lỏng,.v..v.). Cái đó chính là phương pháp giải thích thông qua phép quy giản, hoặc thông qua phép diễn dịch xuất phát từ các giả thuyết. Rất nhiều khi ta không ý thức được rằng ta đang làm việc với những giả thuyết và những lí thuyết, và do đó ta nhầm lẫn cứ tưởng những mô hình lí thuyết của mình là những thứ cụ thể. Đó là một sự nhầm lẫn rất phổ biến.

(So sánh khổ văn này và khổ tiếp theo với tác phẩm Scientism And The Study Of Society, phần I và II, đăng trong tạp chí Economica, các tập 9 và 10 của F. A. von Hayek, trong đó có nêu ý kiến phê phán chủ thuyết tập thể phương pháp luận và có bàn chi tiết về chủ thuyết cá nhân phương pháp luận).

Việc các mô hình được sử dụng theo cách này đã cắt nghĩa - và đồng thời phá hủy - những luận điểm của chủ thuyết duy bản chất phương pháp luận (xem lại mục 10). Nó cắt nghĩa chúng, vì mô hình là trừu tượng và mang tính lí thuyết xét về đặc tính, và thế là ta bị buộc phải tin rằng ta nhìn thấy nó, hoặc bên trong, hoặc đằng sau những sự kiện quan sát được đang biến đổi, giống như một kiểu bóng ma hay một bản chất thường trực. Và rồi nó phá hủy chúng bởi lẽ nhiệm vụ của lí thuyết xã hội là xây dựng và phân tích một cách kĩ lưỡng những mô hình xã hội học của chúng ta trên cơ sở mô tả hoặc trên cơ sở duy danh, tức là trên cơ sở của các cá nhân, trên cơ sở những thái độ, những kì vọng, những mối quan hệ của các cá nhân ấy,.v..v. - một định đề mà ta có thể gọi là “chủ thuyết cá nhân phương pháp luận”.

Sự thống nhất về mặt phương pháp của các bộ môn khoa học tự nhiên và xã hội có thể được minh họa và được minh chứng thông qua việc phân tích hai đoạn văn trong cuốn Chủ Nghĩa Duy Khoa Học Và Nghiên Cứu Xã Hội (Scientism And The Study Of Society) của giáo sư Hayek.

Trong đoạn văn thứ nhất, Giáo sư Hayek viết: “Nhà vật lí nào mong muốn hiểu những vấn đề của khoa học xã hội với sự trợ giúp của một phép loại suy từ lĩnh vực nghiên cứu của bản thân đều phải hình dung ra được một thế giới trong đó anh ta bằng quan sát trực tiếp đã biết rõ những gì xảy ra trong lòng các nguyên tử, và trong đó anh ta không những không có khả năng tiến hành những thí nghiệm với những khối lượng vật chất lớn, mà cũng không có cơ hội để quan sát gì hơn ngoài những mối tương tác giữa một số tương đối ít các nguyên tử trong một thời gian hữu hạn. Xuất phát từ kiến thức có được về những loại nguyên tử khác nhau, anh ta có thể xây dựng những mô hình với nhiều cách kết hợp đa dạng để tạo thành những đơn vị lớn hơn, và có thể khiến những mô hình này thể hiện ngày càng tốt hơn mọi nét đặc trưng của một số nhỏ trường hợp mà trong đó anh ta có đủ khả năng quan sát những hiện tượng phức hợp hơn. Những định luật của thế giới vĩ mô mà anh ta có thể suy ra từ kiến thức của mình về thế giới vi mô hẳn sẽ luôn mang tính “diễn dịch”; vì kiến thức có hạn của mình về những dữ kiện của tình huống phức hợp nên những định luật này hẳn sẽ chẳng bao giờ cho phép anh ta tiên đoán được kết quả chính xác của một tình huống đơn lẻ; và anh ta sẽ chẳng bao giờ kiểm đúng được chúng thông qua phép thực nghiệm được kiểm soát chặt chẽ - mặc dù chúng hoàn toàn có thể bị phủ định bởi việc quan sát thấy những sự kiện mà theo lí thuyết của anh ta là không thể xảy ra.”

Tôi thừa nhận câu đầu của đoạn văn đã chỉ ra được những khác biệt nhất định giữa khoa học xã hội và khoa học vật lí. Nhưng tôi tin rằng phần còn lại là để biện hộ cho tính thống nhất của phương pháp, vì tôi chắc nếu đây là một sự mô tả chính xác phương pháp của khoa học xã hội thì điều đó chỉ ra rằng phương pháp này chỉ khác so với cách diễn giải về phương pháp của khoa học tự nhiên mà chúng ta đã bác bỏ. Đây chủ yếu là tôi nói về cách diễn giải theo quy nạp luận, một cách diễn giải cho rằng trong các bộ môn khoa học tự nhiên, chúng ta xuất phát từ quan sát để đi một cách có hệ thống đến với lí thuyết thông qua một số phương pháp khái quát hóa nhất định, và còn cho rằng chúng ta có thể “kiểm đúng”, hoặc thậm chí chứng minh, những lí thuyết của mình bằng một số phương pháp quy nạp nhất định nào đó. Ở đây tôi đã bảo vệ một quan điểm khác hẳn - một cách diễn giải đối với phương pháp khoa học xem nó như một phương pháp diễn dịch, một phương pháp giả thuyết, một phương pháp chọn lọc thông qua phép kiểm sai,.v..v.; và cách mô tả phương pháp của khoa học tự nhiên như thế hoàn toàn phù hợp với cách mà Giáo sư Hayek mô tả phương pháp của khoa học xã hội (tôi có đủ lí do để tin rằng cách diễn giải của mình về các phương pháp của khoa học không hề bị ảnh hưởng bởi bất kì hiểu biết nào về những phương pháp của khoa học xã hội, vì khi thoạt tiên phát triển ý tưởng này, trong đầu tôi chỉ nghĩ đến các môn khoa học tự nhiên mà thôi chứ hoàn toàn không nghĩ chút gì đến các bộ môn khoa học xã hội). (So sánh với những gì tôi viết trong tạp chí Erkenntnis, III, từ trang 426, và cuốn Logik der Forschung của tôi (1935), mà phụ đề của nó có thể được dịch ra là: “Về tri thức luận của các Khoa học Tự nhiên”)

Nhưng thậm chí những sự khác nhau được nói tới trong câu đầu của đoạn trích dẫn cũng không có gì quan trọng lắm như thoạt tiên người ta tưởng. Chắc chắn rằng ta có một thứ tri thức trực tiếp hơn về những gì xảy ra “bên trong lòng nguyên tử nhân bản” so với tri thức mà ta có được về các nguyên tử vật lí; nhưng loại tri thức này là loại tri thức trực giác. Nói cách khác, một điều chắc chắn là chúng ta đang sử dụng tri thức của mình về chính bản thân mình để đưa ra những giả thuyết về một số người khác, hay về tất cả mọi người. Nhưng những giả thuyết này phải được mang ra trắc nghiệm, chúng phải tuân thủ phương pháp chọn lọc thông qua phép loại trừ (trực giác của một vài người ngăn cản họ hình dung rằng có ai đó thậm chí không thích kẹo sô-cô-la). Thực sự thì nhà vật lí không nhờ gì vào lối quan sát trực tiếp như vậy khi đưa ra những giả thuyết về nguyên tử; tuy nhiên, anh ta rất thường xuyên sử dụng một kiểu trí tưởng tượng hay trực giác cảm tính nào đó có thể khiến anh ta dễ dàng tưởng rằng mình biết tường tận những gì xảy ra “trong lòng các nguyên tử” thậm chí với cả những sự đỏng đảnh và những thiên kiến của chúng. Nhưng trực giác là việc của riêng anh ta. Khoa học chỉ mang tính quan trọng ở những giả thuyết mà trực giác của anh ta rất có thể đã gợi ra, cho nên nó chỉ mang tính quan trọng khi những giả thuyết này dẫn đến được thật nhiều hệ quả, và khi chúng có chể được mang ra trắc nghiệm một cách đích thực (đối với sự khác biệt khác được nhắc đến trong đoạn văn đầu của Giáo sư Hayek, tức là đối với những khó khăn trong việc tiến hành các thí nghiệm, xin xem kĩ mục 24).

Những nhận xét ngắn gọn trên rất có thể còn cho thấy hướng mà ta phê phán quan điểm sử luận được trình bày ở mục 8 - có nghĩa là quan điểm cho rằng khoa học xã hội buộc phải sử dụng phương pháp nhận thức trực giác.

Trong đoạn văn thứ hai, khi bàn về các hiện tượng xã hội, Giáo sư Hayek nói: “... tri thức ta có được về nguyên lí trong đó những hiện tượng này xảy ra chỉ thảng hoặc lắm lắm, nếu không muốn nói là không bao giờ, mới cho phép ta tiên đoán được một cách chính xác một trạng thái cụ thể nào đó. Trong khi ta có thể cắt nghĩa được nguyên lí, mà theo đó, một số hiện tượng nhất định xảy ra và có thể xuất phát từ thứ tri thức đó để loại trừ được khả năng xảy ra của một vài kết quả, tức là của một vài sự kiện đồng thời, thì tri thức ta có được theo nghĩa nào đó lại mang tính phủ định: nó chỉ cho phép ta ngăn ngừa được một số kết quả chứ không thu hẹp được đầy đủ phạm vi những khả năng có thể sao cho chỉ còn lại một khả năng”.

Đoạn văn này dù còn xa mới mô tả được một tình huống cụ thể riêng biệt xảy ra trong các bộ môn khoa học xã hội, nhưng lại mô tả hoàn toàn chính xác đặc tính của những định luật tự nhiên, là những định luật trên thực tế không bao giờ đi xa hơn ngoài việc loại trừ một số khả năng nhất định (“Bạn không xách nước bằng rổ được”; xem lại mục 20 ở trên). Đặc biệt hơn nữa là, phát biểu ghi nhận cho rằng trên nguyên tắc ta sẽ không thể “tiên đoán được một cách chính xác một trạng thái cụ thể” đã đặt ra bài toán về tính không chính xác của tiên đoán (xem mục 5 ở trên). Tôi bảo đảm rằng người ta có thể nói về thế giới vật lí đúng y như thế. Nhìn chung thì chỉ bằng cách sử dụng phép cách li nhân tạo trong thực nghiệm ta mới có thể tiên đoán được các sự kiện (Hệ Mặt Trời là một trường hợp ngoại lệ - một trong những trạng thái cách li tự nhiên, không nhân tạo; một khi trạng thái cách li của nó bị phá hủy do sự xâm phạm của một vật thể lạ đủ lớn thì mọi dự đoán của chúng ta có khả năng bị đảo ngược). Chúng ta còn lâu mới đủ sức tiên đoán, kể cả trong vật lí học, những kết quả của một tình huống cụ thể, ví dụ dông tố hay hỏa hoạn.

Ở đây có thể đưa thêm một nhận xét vắn tắt về tính phức hợp (xem lại mục 4 ở trên). Chắc chắn là việc phân tích bất cứ tình huống xã hội nào đều sẽ vô cùng khó khăn do tính phức hợp của nó. Nhưng điều đó cũng đúng cả với bất cứ tình huống vật lí cụ thể nào (Một luận cứ ít nhiều tương tự có thể được thấy trong cuốn Collected Works, tập II (1883 và 1933), các trang 259-60 của C. Menger). Có một định kiến rất phổ biến cho rằng các tình huống xã hội mang tính phức hợp hơn nhiều so với các tình huống vật lí; định kiến này xuất phát từ hai nguồn gốc. Một là do ta rất hay so sánh những cái không nên mang ra so sánh; tôi muốn nói đến việc ta hay so sánh một bên là những tình huống xã hội cụ thể và một bên là những tình huống vật lí mang tính thực nghiệm đã được cách li (những tình huống sau may ra chỉ có thể so với một tình huống xã hội nhân tạo được cô lập - ví như một trại giam hoặc một cộng đồng thí điểm). Nguồn gốc thứ hai là niềm tin xưa cũ cho rằng việc mô tả một tình huống xã hội sẽ phải bao hàm những trạng thái tinh thần và có thể cả những trạng thái cơ lí của mỗi cá nhân có liên quan (và không biết chừng còn có thể quy giản thành những trạng thái ấy).

Nhưng một niềm tin như vậy là vô căn cứ; thậm chí còn vô căn cứ hơn nhiều so với nhu cầu không thể thực hiện được đòi hỏi rằng việc mô tả một phản ứng hóa học cụ thể phải bao hàm được việc mô tả các trạng thái nguyên tử và dưới nguyên tử của mọi hạt cơ bản có liên quan (mặc dù hóa học biết đâu rất có thể được quy giản thành vật lí học). Niềm tin này đồng thời cũng là tàn dư của cách nhìn dân dã cho rằng những thực thể xã hội như các thiết chế hay các hội đoàn là những thực thể tự nhiên cụ thể giống như những đám đông tụ họp lại, chứ không như những mô hình trừu tượng được kết cấu nhằm diễn giải một số mối quan hệ trừu tượng có chọn lọc giữa các cá nhân.

Nhưng trên thực tế, có những lí do chính đáng để tin rằng không những khoa học xã hội không phức tạp bằng vật lí học mà những tình huống xã hội cụ thể cũng không phức tạp bằng những tình huống vật lí cụ thể. Bởi trong hầu hết - nếu không muốn nói là trong tất cả - các tình huống xã hội, đều có một yếu tố của tính có lí tính. Hiển nhiên là, mọi người gần như không bao giờ hành động một cách hoàn toàn có lí tính (tức là, nếu được, họ sẽ cố tận dụng tối đa mọi thông tin có trong tay nhằm đạt được bất kì mục đích nào họ có thể đề ra), tuy vậy họ vẫn hành động ít nhiều một cách có lí tính; và điều này tạo khả năng xây dựng những mô hình tương đối đơn giản về những hành động và những tương tác của họ, và khả năng sử dụng những mô hình đó như những phép gần đúng.

Tôi cảm thấy đúng là điểm sau cùng đã chỉ ra được một sự khác biệt đáng kể giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội - có lẽ là sự khác biệt quan trọng nhất về mặt phương pháp, bởi những sự khác biệt kia, tức là những khó khăn đặc thù trong việc tiến hành các thí nghiệm (xem phần cuối mục 24) và trong việc áp dụng các phương pháp định lượng (xem tiếp đoạn sau), là những khác biệt xét về cấp độ chứ không phải xét về thể loại. Đối với khoa học xã hội, ở đây tôi ám chỉ khả năng tiếp nhận cái gọi là phương pháp xây dựng logic hay phương pháp xây dựng có lí tính, hay có thể là “phương pháp đưa về không” (Xin tham khảo khái niệm “giả thuyết vô hiệu” được bàn đến trong bài báo có nhan đề “Money Illusion and Demand Analysis” của J. Marschak, đăng trong The Review of Economic Statistics, tập XXV, trang 40. Phương pháp được mô tả ở đây có vẻ phần nào trùng hợp với cái mà theo C. Menger thì giáo sư Hayek đã từng gọi đó là phương pháp “phối hợp” [compositive]). Phương pháp này là phương pháp xây dựng một mô hình dựa trên giả định về một sự duy lí hoàn hảo (và có lẽ dựa cả trên giả định về sự sở hữu một thông tin hoàn toàn đầy đủ) đối với tất những cá nhân có liên quan, và về việc ước lượng chính xác được độ sai lệch về hành vi của mọi người so với hành vi chuẩn theo mô hình, bằng cách sử dụng hành vi chuẩn theo mô hình như một kiểu tọa độ không (Có lẽ ngay cả ở đây ta cũng có thể nói rằng việc sử dụng những mô hình có lí tính hay “logic”, hay việc sử dụng “phương pháp đưa về không” có một sự tương ứng không rõ nét trong các môn khoa học tự nhiên, nhất là trong môn nhiệt động học và trong sinh học (việc xây đựng những loại mô hình cơ giới, và mô hình sinh lí của các quá trình và các cơ quan chức năng). Xem thêm về việc sử dụng các mô hình biến thiên).

Một ví dụ về phương pháp này đó là việc so sánh giữa hành vi thực (cứ cho là dưới tác động của những định kiến truyền thống,.v..v.) và hành vi chuẩn theo mô hình được kì vọng dựa trên cơ sở của “sự lựa chọn thuần túy logic”, giống như được mô tả trong những phương trình của môn kinh tế học. Chẳng hạn, cái gọi là “Ảo mộng Tiền tệ” [Money Illusion] rất thú vị của J. Marschak có thể được diễn giải theo lối này (Xem J. Marschak, sđd). Có lẽ ta sẽ còn thấy được một nỗ lực tìm cách áp dụng phương pháp đưa về không trong phép so sánh giữa “logic thao tác trên quy mô lớn” trong công nghiệp và “tính phi logic của thao tác thực” của tác giả P. Sargant Florence. (Xem P. Sargant Florence, Logic của Tổ chức công nghiệp (The Logic of Industrial Organisations), 1933)

Nhân đây tôi cũng muốn nhắc rằng là nguyên lí về chủ thuyết cá nhân phương pháp luận lẫn nguyên lí về phương pháp

đưa về không trong việc xây dựng các mô hình có lí tính đều không ảnh hưởng gì đến tôi trong việc phải chấp nhận một phương pháp tâm lí học. Ngược lại, tôi tin rằng có thể kết hợp những nguyên lí nói trên với quan điểm cho rằng các bộ môn khoa học xã hội là những bộ môn tương đối không phụ thuộc vào những mặc định mang tính tâm lí, và rằng không nên coi tâm lí học như cơ sở của mọi khoa học xã hội, mà chỉ là một trong các bộ môn khoa học xã hội mà thôi (Quan điểm này được trình bày đầy đủ hơn ở Chương 14 cuốn “Xã hội mở và những kẻ thù của nó” của tôi).

Để kết thúc mục này, tôi cần nêu rõ cái mà tôi xem như sự khác biệt chủ yếu giữa phương pháp của một vài môn khoa học lí thuyết về tự nhiên và phương pháp của khoa học lí thuyết về xã hội. Ý tôi muốn nói đến những khó khăn gắn với việc áp dụng những phương pháp định lượng, và nhất là những phương pháp đo lường (Những khó khăn như thế đã được Giáo sư Hayek bàn kĩ, sđd, từ trang 290). Một số khó khăn này có thể, và đã từng, được khắc phục bằng việc áp dụng các phương pháp thống kê, chẳng hạn như trong việc phân tích nhu cầu. Và chúng hẳn phải được khắc phục nếu, chẳng hạn, một số trong những phương trình của toán kinh tế cung cấp được một cơ sở dù chỉ cho những ứng dụng định tính; bởi khi thiếu loại phép đo như vậy thì ta sẽ thường xuyên không biết được liệu có hay không việc một vài ảnh hưởng trung hòa đã vượt hơn cả hiệu ứng đã được tính toán chỉ dưới dạng định lượng, vậy nên những suy xét thuần túy định lượng rất có thể đến lúc sẽ dẫn ta đến sự nhầm lẫn; và theo như Giáo sư Frisch thì cũng sẽ nhầm lẫn “không khác gì nói rằng khi một người cố chèo thuyền tiến về phía trước thì con thuyền sẽ đi lùi, đó là do lúc này chân anh ta phải đạp mạnh vào ván thuyền” (Xem Econometrica, I (1933) từ trang 1).

Nhưng chắc chắn ở đây có những khó khăn cơ bản. Trong vật lí học chẳng hạn, về nguyên tắc thì các thông số của những phương trình của chúng ta có thể quy giản thành một số ít ỏi các hằng số tự nhiên - một phép quy giản đã được tiến hành thành công trong nhiều trường hợp quan trọng. Trong kinh tế học thì không như vậy; ở đây, chính bản thân các thông số trong hầu hết những trường hợp quan trọng lại là những biến số thay đổi rất nhanh chóng. Điều này rõ ràng làm giảm bớt ý nghĩa, khả năng diễn giải và khả năng được trắc nghiệm của những phép đo của chúng ta.

Nguyên tác: The poverty of historicism, Karl Popper (Routledge, 1974)

Bản dịch: NXB Tri thức, Chu Lan Đình dịch.