Chủ nghĩa tả khuynh - Lời nói đầu và giới thiệu

Chủ nghĩa tả khuynh - Lời nói đầu và giới thiệu

Điểm mấu chốt của vấn đề nằm ở sự nhầm lẫn tai hại khi giới tinh hoa chính trị đánh đồng “dân chủ” với “tự do cá nhân”; bởi lịch sử từ sau Cách mạng Pháp 1789 đến nay đã nhiều lần chứng minh các phong trào dân chủ quần chúng thường mở đường cho chủ nghĩa tập thể, các chế độ độc tài tàn bạo hoặc một dạng nô lệ phi bạo lực. Bằng việc thẳng thắn khẳng định lập trường tôn thờ quyền tự do cá nhân thay vì nền dân chủ đại chúng, tác giả tuyên bố cuốn sách này là một cuộc chiến tư tưởng nhằm bảo vệ phẩm giá cao quý của con người trước những triết lý chính trị sai lệch đang âm mưu hạ thấp nhân loại xuống thân phận của một bầy côn trùng vô tri.

Tác giả của cuốn sách đồ sộ này nghĩ rằng ông có nghĩa vụ phải giãi bày “hành trang” của mình với độc giả, nói đôi điều về mục đích của cuốn sách này cũng như về chính bản thân ông.

Tôi là một người Áo với một nền tảng khá đa dạng và sở hữu một phần không nhỏ những trải nghiệm khác lạ. Sinh năm 1909, là con trai của một nhà khoa học (chuyên về radium và tia X) – người đã qua đời như một nạn nhân trong chính công trình nghiên cứu của mình. Từ thuở nhỏ, tôi đã đi du lịch khá nhiều và tích lũy được kiến thức về một vài ngôn ngữ. Đến nay, tôi có thể đọc được hai mươi ngôn ngữ với các mức độ thành thạo rất khác nhau và nói được tám thứ tiếng. Ở tuổi mười sáu, tôi đã là phóng viên thường trú tại Vienna của tờ The Spectator (London), một tuần báo lừng danh do Addison và Steele sáng lập.

Bắt đầu học luật và lịch sử Đông Âu tại Đại học Vienna vào năm mười tám tuổi, một năm sau, tôi chuyển sang Đại học Budapest (nhận bằng Thạc sĩ Kinh tế và Tiến sĩ Khoa học Chính trị). Sau đó, tôi bắt tay vào nghiên cứu thần học ở Vienna, nhưng đã sang Anh vào năm 1935 để trở thành giáo sư (Master) tại Trường Cao đẳng Beaumont, và sau đó là giáo sư tại Khoa Sau đại học về Dịch vụ Đối ngoại thuộc Đại học Georgetown từ năm 1937 đến năm 1938. Tôi được bổ nhiệm làm trưởng khoa Lịch sử tại Trường Cao đẳng St. Peter ở Jersey City (1938–1943) và làm giảng viên tiếng Nhật tại Đại học Fordham. Cho đến năm 1947, tôi giảng dạy tại Trường Cao đẳng Chestnut Hill ở Philadelphia. Xen kẽ giữa những năm tháng học tập và các chức vụ giảng dạy này là những chuyến du hành và các dự án nghiên cứu sâu rộng, bao gồm cả chuyến đi đến Liên Xô ngay từ những năm 1930–1931.

Trong những năm sống ở Mỹ, tôi đã đi qua mọi tiểu bang: chỉ còn vùng đông nam Oregon và vùng bắc Michigan là những “điểm trắng” duy nhất của tôi. Năm 1947, tôi trở lại châu Âu và định cư ở vùng Tyrol, nằm ở khoảng giữa Paris và Vienna, cũng như giữa Rome và Berlin, với niềm tin chắc chắn rằng mình phải lựa chọn giữa giảng dạy và nghiên cứu. Từ năm 1949 trở đi, tôi đều đặn quay lại Hoa Kỳ trong các chuyến lưu diễn giảng bài hàng năm. Kể từ năm 1957, năm nào tôi cũng đi du lịch, khi thì vòng quanh thế giới, khi thì xuống phía nam Xích đạo.

Một trong những hoài bão của tôi là hiểu biết thế giới; một hoài bão khác là thực hiện nghiên cứu trong các lĩnh vực được lựa chọn một cách tùy ý nhằm phục vụ cho sự phối hợp giữa các nhánh khác nhau của khoa học nhân văn: thần học, khoa học chính trị, tâm lý học, xã hội học, địa lý nhân văn, lịch sử, dân tộc học, triết học, và nghệ thuật. Tôi thực sự kinh sợ sự chuyên môn hóa vĩnh viễn, phiến diện một chiều. Tôi cũng hoạt động tích cực với tư cách là một tiểu thuyết gia và họa sĩ. Sách, tiểu luận và các bài báo của tôi đã được xuất bản ở năm châu lục và tại hai mươi mốt quốc gia.

Giới thiệu về bản thân tôi như vậy là đủ. Mục đích của cuốn sách này là chỉ ra đặc tính của chủ nghĩa cánh tả, cũng như mức độ và cách thức mà đại đa số các hệ tư tưởng cánh tả – những thứ đang thống trị hoặc đe dọa phần lớn thế giới hiện đại – thực chất là những đối thủ cạnh tranh của nhau chứ không phải là kẻ thù. Chúng tôi cho rằng đây là một sự phân biệt quan trọng. Nhà máy giày A là đối thủ cạnh tranh của nhà máy giày B, nhưng một phong trào cổ xúy việc không đi giày dép vì lý do sức khỏe lại là kẻ thù của cả hai.

Thật không may, trong lĩnh vực chính trị ngày nay, sự phân biệt này lại kém rõ ràng hơn và phần lớn bị che khuất bởi sự nhầm lẫn về mặt ngữ nghĩa. Tình trạng cụ thể này đã đủ tồi tệ ở châu Âu, nhưng nó thậm chí còn tệ hơn ở Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Tình trạng này, đến lượt nó, lại ảnh hưởng bất lợi đến chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ – vốn dĩ trong quá khứ và hiện tại không chỉ được định hình bởi những gì (thực sự hoặc có vẻ như là) lợi ích tự thân của nước Mỹ, mà còn bởi những định kiến về hệ tư tưởng. Theo một cách rất thường xuyên, những niềm tin tư tưởng này đã nhuốm màu lên quan điểm, mục tiêu, và các chính sách của những người Mỹ chịu trách nhiệm về đường lối ngoại giao (không chỉ các Tổng thống, thành viên nội các hay nghị sĩ, mà còn cả các giáo sư, bình luận viên đài phát thanh và nhà báo), và trên thực tế lại đi ngược với lợi ích cốt lõi của nước Mỹ cũng như lợi ích đích thực của nhân loại.

Không có lý do gì để tin rằng các hệ tư tưởng – tức là các triết lý chính trị – xã hội mạch lạc, có hoặc không có nền tảng tôn giáo – chỉ mới bắt đầu phát huy tác dụng ở Mỹ trong thế kỷ này, khi nước Mỹ tham gia vào hai “cuộc thập tự chinh” dưới hai đời chính quyền Đảng Dân chủ. Chúng tôi cũng không tán thành quan điểm vốn rất được lòng một số người “bảo thủ” khi họ đơn thuần đánh đồng chủ nghĩa cánh tả với hệ tư tưởng.

Tôi cho rằng Hợp chúng quốc Hoa Kỳ non trẻ vào cuối thế kỷ mười tám đã nằm trong vòng xoáy của các triết lý chính trị xung đột lẫn nhau, mang cả những khía cạnh tích cực và tiêu cực. Ngay từ thời điểm đó, tác động tư tưởng của những ý tưởng này đã được cảm nhận sâu sắc ở châu Âu, nơi mà tôi phải buồn bã thừa nhận rằng nội hàm của chúng thường nhanh chóng bị hiểu sai và bóp méo. Cuộc chiến tranh giành độc lập của Mỹ có ảnh hưởng không thể phủ nhận đối với Cách mạng Pháp, và sự kiện sau đó (Cách mạng Pháp), theo dòng thời gian, lại có một tác động tồi tệ đối với nước Mỹ.

Tuy nhiên, chỉ đến thế kỷ hai mươi, trong thời đại của chúng ta, nước Mỹ mới can thiệp một cách quyết đoán vào các vấn đề thế giới, và châu Âu đột nhiên thấy mình là “bên tiếp nhận” chính sách đối ngoại của Mỹ. Những quyết định được đưa ra tại Washington (dù có hay không có lời khuyên hay sự xúi giục của những người tị nạn) đã ảnh hưởng sâu sắc và thường là theo hướng bất lợi đến Trung Âu – nơi tôi coi là quê hương của mình. Những năm tháng dài mà tôi trải qua một cách khá tình cờ ở Mỹ đã giúp tôi nhận ra nguồn gốc, lý do, và căn nguyên tâm lý của Sự hiểu lầm vĩ đại Âu-Mỹ (Great Euramerican Misunderstanding), mà đúng như ta có thể dự đoán, bao gồm một số khía cạnh:

(1) việc thiếu khả năng tự nhận thức của nước Mỹ (song song với sự vắng bóng khả năng tự nhận thức của châu Âu);

(2) sự sai lệch thông tin của người Mỹ về châu Âu (cộng với sự thiếu hiểu biết của châu Âu về nước Mỹ);

Và 3) sự thiếu hụt hoàn toàn trong việc nhận thức được vị trí lịch sử hiện tại của tất cả chúng ta, bản chất thực sự mà các hệ tư tưởng lớn mang tính động lực đang đại diện, cũng như cách chúng liên hệ với nhau.

Và chúng ta không nên bỏ qua thực tế rằng cả ba điểm này đều ít nhiều có sự kết nối với nhau, vì cả nước Mỹ (hay đúng hơn là thế giới nói tiếng Anh) và châu Âu (hay cụ thể hơn là lục địa châu Âu) đều không thể được hiểu một cách thấu đáo nếu không có một bước đi sâu vào lĩnh vực hệ tư tưởng. Ngay cả văn hóa dân gian cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của các “triết lý”. Một câu nói như “Bất kỳ ai cũng tốt ngang với những người khác, nếu không muốn nói là tốt hơn một chút” (“One man is as good as any other man if not a little bit better”) tự động gợi nhớ đến một bộ phận tình cảm nhất định của người Mỹ. Nó mang đậm màu sắc lãng mạn của văn hóa dân gian kiểu Sandberg. Mặt khác, dòng chữ suum cuique (mỗi người đều nhận được những gì xứng đáng với mình) vẫn được khắc tại Trường Luật Innsbruck.

Tuy nhiên, cũng hoàn toàn đúng khi nguyên tắc pháp lý vĩ đại của Ulpian cũng có ý nghĩa đối với một số người Mỹ, trong khi các quan niệm về chủ nghĩa quân bình ngày nay lại đang tràn lan ở châu Âu. Đại Tây Dương, cũng giống như Eo biển Manche, đang thu hẹp lại và chầm chậm nhưng chắc chắn; những sự nhầm lẫn của chúng ta đang hòa vào nhau. Tệ hơn nữa, ngôn ngữ học/ngữ nghĩa tương ứng của chúng ta vẫn còn cách xa nhau.

Sự thấu hiểu tích cực và mang tính xây dựng giữa nước Mỹ và một châu Âu tự do cũng cần thiết không kém gì việc nhận thức được trật tự chính trị và kinh tế nào là tốt, đúng đắn và hiệu quả. Do đó, cuốn sách này cố gắng phục vụ một mục đích kép: làm giảm đi, nếu không muốn nói là xóa bỏ Sự hiểu lầm Vĩ đại giữa các lục địa (Great Intercontinental Misunderstanding), cũng như Cuộc tìm kiếm Chân lý (Quest for Truth), qua đó vạch trần kẻ thù nhiều mặt, nhiều đầu mang tên chủ nghĩa tả khuynh

Tuy nhiên, để công bằng, tôi nghĩ mình nợ độc giả việc thông báo cho họ biết về điểm xuất phát của tôi, những tiền đề mà từ đó tôi triển khai. Tôi là một tín đồ Cơ Đốc giáo: Tôi dứt khoát không phải là một người ủng hộ dân chủ, mà là một người cống hiến hết mình cho lý tưởng tự do cá nhân. Tôi hoàn toàn đồng tình với những lời của Alexis de Tocqueville khi ông viết: “Chế độ chuyên chế đối với tôi là điều đặc biệt đáng sợ trong các thời đại dân chủ. Tôi nghĩ rằng mình sẽ yêu tự do trong mọi thời đại, nhưng trong thời đại hiện nay, tôi sẵn sàng tôn thờ nó.”

Tất nhiên, có những lý do “châu Âu” ích kỷ cho việc tôi viết cuốn sách này, nơi chứa đầy những quan điểm thường không được thể hiện hay thấu hiểu đúng mức ở Mỹ. Chính sự đánh đồng một cách vô căn cứ giữa nền dân chủ và quyền tự do đã gây ra vô số bi kịch lặp đi lặp lại trong chính sách đối ngoại của Mỹ (cũng như một số tai ương nội bộ của chính nước Mỹ!). Chúng ta phải nhớ lại mọi cuộc chiến tranh, mọi hoạt động tuyên truyền, mọi chiến dịch gây áp lực vì sự nghiệp dân chủ, và làm thế nào mà mỗi chiến thắng của nền dân chủ được tung hô và tán thưởng lại kết thúc bằng một thất bại tồi tệ đối với tự do cá nhân – lý tưởng thực sự thiêng liêng trong trái tim người Mỹ.

Đây hoàn toàn không phải là một câu chuyện mới mẻ. Ngay cả Burke cũng từng hoan nghênh Cách mạng Pháp lúc ban đầu. Những người Mỹ lỗi lạc đã ca ngợi nó. Nhưng tất cả đều kết thúc bằng một rừng máy chém. Ông Woodrow Wilson đã nhiệt tình chào đón chính phủ của Alexander Kerensky, chính phủ vốn được kỳ vọng sẽ giúp nước Nga “xứng đáng gia nhập vào một liên minh danh dự.” Nhưng điều đó kéo dài được bao lâu? Cộng hòa Weimar, nền quân chủ tiệm cận cộng hòa của Ý, nước cộng hòa Tây Ban Nha, các quốc gia tự do được “giải thuộc địa” từ Haiti đến Tanzania, từ Bắc Việt Nam đến Indonesia, châu Mỹ Latinh từ Santo Domingo đến Buenos Aires – tất cả đều là những nỗi thất vọng đau buồn đối với những người Mỹ “cấp tiến”, tất cả đều chấm dứt trong các chế độ độc tài, nội chiến, các nhà tù chật cứng, báo chí bị tịch thu, giá treo cổ và đội xử bắn, những chế độ chuyên chế độc đảng, các vụ tịch biên, quốc hữu hóa, và các biện pháp “kiến tạo xã hội”.

Tuy nhiên, vượt lên trên những thất bại hiển nhiên này, bên cạnh việc loại bỏ một cách tàn bạo và công khai quyền tự do và sự tử tế, còn có một thứ – điều đã được de Tocqueville tiên đoán rất rõ ràng – đó là sự tiến hóa của nền dân chủ hướng tới chế độ nô lệ phi bạo lực, bắt nguồn từ một sự chuyển biến trong tâm trí và thế giới quan về cơ bản giống hệt như thứ dẫn đến các hình thức chuyên chế rõ rệt hơn. Người ta không nên ngạc nhiên về điều này, bởi vì nguồn gốc của cái ác về mặt lịch sử – di truyền học là giống nhau trên toàn thế giới phương Tây. Năm định mệnh là 1789 và biểu tượng của sự bất công là chiếc mũ Jacobin.

Tính dị giáo của nó nằm ở việc chối bỏ nhân cách và tự do cá nhân. Các hiện thân cụ thể của nó là nền dân chủ quần chúng Jacobin, mọi hình thức của chủ nghĩa tập thể quốc gia và chủ nghĩa nhà nước (statism), chủ nghĩa Marx sản sinh ra chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa phát xít, và chủ nghĩa xã hội quốc gia, chủ nghĩa cánh tả trong tất cả các vỏ bọc và biểu hiện hiện đại của nó – thứ mà ở Mỹ, khá trớ trêu thay, lại đang được gán cho một danh từ mĩ miều là “chủ nghĩa tự do”. Vấn đề cốt lõi là cuộc chiến giữa con người được tạo ra theo hình ảnh của Thiên Chúa và loài mối mọt mang vỏ bọc con người. Chính vì mục đích bảo vệ con người và phản đối những giáo lý sai lệch muốn hạ thấp con người xuống vị thế của một loài côn trùng mà cuốn sách này được viết ra.

Nguyên tác: Leftism: from de Sade and Marx to Hitler and Marcuse, 1974, Arlington House

Bản dịch: Lê Lam Kiều

Dịch giả:
Lê Lam Kiều